CHƯƠNG 1 TONG QUAN CAC VAN DE LÝ LUẬN VE KINH DOANH BAT DONG SAN VA PHAP LUAT VE KINH DOANH BAT DONG SAN CUA DOANH NGHIEP CO VON DAU TU NUOC NGOAI O VIET NAM 1. TONG QUAN CAC VAN DE LY LUAN VE KINH DOANH BAT DONG SAN 1. Khái niệm bat động sản Theo nguồn gốc của Luật cổ La Mã, tài sản được chia thành “động sản” và “bất động sản”, theo đó bất động sản không chỉ là đất đai, của cải trong lòng đất mà còn là tất cả những gì được tạo ra do sức lao động của con người trên mảnh đất. Bất động sản bao gồm các công trình xây dựng, mùa màng, cây trồng.
và tất cả những gì liên quan đến đất đai hay gắn liền với đất đai, những vật trên mặt đất cùng với những bộ phận cầu thành lãnh thổ. Điều này đã được ké thừa tại Bộ luật dân sự của nhiều nước trên thế giới như Pháp, Nhật Bản, cộng hòa Liên Bang Nga, cộng hòa Liên Bang Duc. Hau hết các nước đều coi bat động sản là đất dai và những tai sản có liên quan đến đất đai, không tách rời với đất đai, được xác định bởi vị trí địa lý của đất (Điều 517, 518 Bộ Luật Dân sự Cộng hoà Pháp, Điều 86 Bộ Luật Dân sự Nhật Bản, Điều 130 Bộ Luật Dân sự Cộng hoà Liên bang Nga, Điều 94, 96 Bộ Luật Dan sự Cộng hoà Liên bang Duc. Tuy nhiên, Nga quy định cụ thể bất động sản là “mảnh đất” chứ không phải là đất đai nói chung.
Việc ghi nhận này là hợp lý bởi đất đai nói chung là bộ phận của lãnh thd, không thể là đối tượng của giao dịch dân sự. Theo Bộ luật Dân sự năm 2005 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tại Điều 174 có quy định: “Bat động sản là các tài san bao gồm: Đất dai; Nha, công trình xây dựng gắn liền với dat đai, kể cả các tài san gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó; Các tài sản khác gắn liền với đất đai; Các tài sản khác do pháp luật quy định” Có thé thấy, quy định về bat động san trong pháp luật của Việt Nam là khái niệm mở bởi lẽ cho đến nay chưa có các quy định cụ thể danh mục “các tài sản do pháp luật quy định” là các tài sản nào. Bất động sản có một số những đặc điểm sau: Thứ nhất, bat động sản cỗ định về vị trí địa lý và không di dời được. Dat dai là một loại bất động sản có vai trò rất quan trọng tạo tiền dé cho các bat động sản khác xuất hiện.
Đất đai không do con người tạo ra mà do thiên nhiên tạo ra, có trước con người, có định về vị trí địa ly, bị giới hạn bởi không gian và điện tích không di dời được. Mà các bất động sản khác luôn gắn liền với đất đai, việc sử dụng đất đai luôn cố định về vị trí địa lý. VỊ trí cụ thể của bất động sản làm nên giá tri và lợi ích của nó, biểu hiện ở giá và phương thức sử dụng bat động sản. Vì vậy yếu tố vùng và khu vực là yếu tố tác động sâu sắc đến giá trị và lợi ích của bất động sản.
Thứ hai, bat động sản có tính bền lâu. Do đất đai là tài sản do thiên nhiên ban tặng, một loại tài nguyên được xem như không thể bị huỷ hoại, trừ khi có thiên tai, xói lở, vùi lap. Đồng thời, các vật kiến trúc và công trình xây dựng trên đất sau khi xây dựng hoặc sau một thời gian sử dụng được cải tạo nâng cấp có thé tôn tại hàng trăm năm hoặc lâu hơn nữa. Vì vậy, tính bên lâu của bất động sản là chỉ tuôi thọ của vật kiến trúc và công trình xây dung, bao gồm “tuổi tho vật lý” và “tuổi thọ kinh tế”.
Tuổi thọ kinh tế cham dứt trong điều kiện thị trường và trạng thái hoạt động bình thường mà chi phí sử dụng bất động sản lại ngang bằng với lợi ích thu được từ bat động sản đó. Tuổi thọ vật lý dai hơn tuổi thọ kinh tế khá nhiều vì nó cham đứt khi các kết cấu chịu lực chủ yêu của vật kiến trúc và công trình xây dựng bị lão hoá và hư hỏng, không thể tiếp tục an toàn cho việc sử dụng. Trong trường hợp đó, nếu xét thấy tiễn hành cải tạo, nâng cấp bất động san thu được lợi ich lớn hơn là phá di và xây dựng mới thì có thé kéo dai tuổi thọ vật ly dé “chứa” được may lần tuổi thọ kinh tế. Do tính chất lâu bền của bất động sản mà các hàng hóa bất động sản có giá trị cao hơn nhiều so với các loại hàng hóa khác và cũng bởi vì có tính chất lâu bền nên hàng hóa bất động sản phong phú, đa dạng và không bao giờ cạn kiệt.
Thứ ba, bat động sản mang tính cá biệt và khan hiếm. Đặc điểm này của bat động sản xuất phát từ tinh cá biệt và tinh khan hiếm của đất dai. Tính khan hiếm của dat đai là do diện tích bề mặt trái dat là có hạn. Tính khan hiếm cụ thé của dat đai là giới hạn về diện tích đất đai của từng miếng đất, khu vực, vùng, địa phương, lãnh thé v.
Chính vì tính khan hiếm, tính cỗ định và không di dời được của đất đai nên hàng hoá bat động san có tính cá biệt. Trong cùng một khu vực nhỏ ké cả hai bat động sản cạnh nhau đều có những yếu tố không giống nhau. Do vậy mỗi bat động sản đều mang tính cá biệt điều này tạo nên giá trị của bất động sản đó. Thứ tư, bất động sản có tính chịu sự ảnh hưởng lẫn nhau.
Bất động sản chịu sự ảnh hưởng lẫn nhau rất lớn, giá tri của một bat động san nay có thé bi tac động của bất động sản khác. Đặc biệt, trong trường hợp Nhà nước đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng sẽ làm tăng vẻ đẹp và nâng cáo giá trị sử dụng của bất động sản trong khu vực đó. Trong thực tế, việc xây dựng bat động sản này làm tôn thêm vẻ đẹp và sự hấp dẫn của bat động sản khác là hiện tượng khá phô biến. Thứ năm, bat động sản có tính thích ứng.
Lợi ích của bat động sản được sinh ra trong quá trình sử dung. Bất động sản trong quá trình sử dụng có thé điều chỉnh công năng mà vẫn giữ được những nét đặc trưng của nó, đồng thời vẫn đảm bảo yêu cầu sử dụng của người tiêu dùng trong việc thoả mãn nhu cầu sinh hoạt, sản xuất- kinh doanh và các hoạt động khác. Thir sáu, bat động sản mang yếu tô tập quán, thị hiếu và tâm ly xã hội. Hàng hoá bat động sản chịu sự chi phối của các yếu tố này mạnh hơn các hàng hoá thông thường khác.
Nhu cầu về bất động sản của mỗi vùng, mỗi khu vực, mỗi quốc gia là rất khác nhau, phụ thuộc vào thị hiếu, tập quán của người dân sinh sống tại đó. Yếu tố tâm lý xã hội, thậm chi cả các van dé tín ngưỡng, tôn giáo, tâm linh v.chi phối nhu cầu và hình thức bất động sản. Khái niệm kinh doanh bat động sản Trong đời sống xã hội, có rất nhiều hoạt động kinh doanh của nhiều chủ thê nhằm hướng tới mục tiêu lợi nhuận. Ngành nghề kinh doanh cũng vô cùng đa dạng, có ngành nghề bị cấm kinh doanh, có ngành nghé kinh doanh có điều kiện.
Theo Từ điển Luật học “kinh doanh là các hoạt động đầu tw sản xuất, mua bán, cung ungdich vụ do các chủ thể kinh doanh tiễn hành một cách độc lập, thường xuyên trên thị trường nhằm mục đích lợi nhuận” [43, tr. Luật Kinh doanh bất động sản năm 2006 không đưa ra định nghĩa về hoạt động kinh doanh bat động san mà chi thé hiện nội dung của hoạt động kinh doanh bất động san; theo khoản 1, Điều 4 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2006 quy định: “Hoạt động kinh doanh bat động sản bao gồm kinh doanh bất động sản va kinh doanh dịch vụ bat động sản”. Kê thừa các quy định của Luật Kinh doanh bat động sản 2006, Luật Kinh doanh bat động san năm 2014 quy định cụ thể rõ ràng định nghĩa kinh doanh bất động sản tại khoản 1 Điều 3 như sau: “Kinh doanh bat động sản là việc đâu tu vốn dé thực hiện hoạt động xây dựng, mua, nhận chuyển nhượng dé ban, chuyển nhượng; cho thuê, cho thuê lại, cho thuê mua bat động sản; thực hiện dịch vụ môi giới bất động sản; dịch vụ sàn giao dịch bất động sản; dịch vu tu van bất động san hoặc quan ly bat động sản nhằm mục đích sinh lợi.” Như vậy, Luật Kinh doanh bat động san nam 2014 đã loại bỏ một số dich vụ bất động sản như định giá, đấu giá, quảng cáo bất động sản. Theo đó, các dịch vụ bất động sản được kinh doanh bao gồm dịch vụ môi giới, tư vấn, quản lý bat động sản và sàn giao dịch bat động sản như định nghĩa ở khoản 1 Điều 3 đã nêu ở trên.
Kinh doanh bat động sản có những đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhát, chủ thé kinh doanh bất động sản có phạm vi hoạt động không giống nhau, đặc biệt trong sự so sánh giữa chủ thể trong nước và chủ thể nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Ví dụ, tô chức cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài không được phép “mua đi bán lại” bất động sản như tổ chức, cá nhân trong nước khi được nhà nước Việt Nam cho phép sở hữu nhà ở tại Việt Nam, trừ một số các trường hợp đặc biệt. Điều đó thé hiện pháp luật về kinh doanh bất động sản có những quy định thể hiện về mặt chính sách trong hoạt động kinh doanh bất động sản của từng chủ thê nhất định và không đồng nhất giữa các chủ thê trong nước và nước ngoài. Thứ hai, kinh doanh bat động sản là ngành nghề kinh doanh có điều kiện.
Do yêu cầu của hoạt động kinh doanh bất động sản là triển khai các dự án bất động sản phải được thực hiện trên quy mô rộng lớn, với cơ cầu tô chức quản lý hết sức chặt chẽ, chủ thể kinh doanh phải có tiềm lực tài chính mạnh. Đối với hoạt động kinh doanh bắt động sản thì điều kiện về vốn pháp định là một trong những điều kiện bắt buộc nhăm buộc các chủ thé kinh doanh phải chứng minh năng lực tài chính ngăn ngừa tình trạng lừa đảo trong kinh doanh.