CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH TÍN DỤNG ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu 1. Nhóm các công trình nghiên cứu quốc tế Nghiên cứu khái quát về TTBĐS, một số tác giả nước ngoài có những nghiên cứu chuyên sâu về hoạt động tài chính trong TTBĐS.Brueggenmam (1997) đã nêu ra những vấn đề cần lưu ý trong lĩnh vực tài chính và đầu tư BĐS ở nước Mỹ, cũng như đề cập, khái quát tới thị trường vốn và an toàn trong kinh doanh BĐS. Ủy Ban Châu Âu (2005) với cuốn sách “Các hệ thống tài chính nhà ở tại các quốc gia chuyển đổi - Lý thuyết và Thực tiễn” đã đưa ra với nội dung nhằm thống nhất chính sách và giúp các quốc gia trong quá trình chuyển đổi có một cơ chế chính sách tài chính nhà ở thích hợp.
Cuốn sách đi vào phân tích hệ thống tài chính nhà ở và chính sách, cũng như giới thiệu một số mô hình tài chính nhà ở phát triển tại một số quốc gia. Zhangd (2011) đã phân tích thực nghiệm theo mô hình SVAR. Từ quan điểm của chu kỳ kinh tế vĩ mô và mô hình SVAR, một hệ thống phân tích tác động các khoản vay ngân hàng, giá nhà đất, lãi suất, tăng trưởng kinh tế và lạm phát được xây dựng trong và sử dụng để phân tích thực nghiệm sự tương tác giữa các khoản vay ngân hàng và biến động của giá nhà đất ở Trung Quốc. Pirounakis (2013) với cuốn sách giới thiệu các công cụ tài chính và khái niệm về kinh tế BĐS.
Tác giả nghiên cứu các vấn đề như: mối quan hệ giữa BĐS với nền kinh tế vĩ mô, chính sách tài chính BĐS (thuế, cung và cầu BĐS…), động lực thị trường, bong bóng giá cả, và dự đoán giá sau hậu quả của sự sụp đổ của giá nhà ở Mỹ đã làm trầm trọng thêm cuộc khủng hoảng toàn cầu năm 2008. Cuốn sách này đưa ra cách tiếp cận quốc tế và giới thiệu các mô hình cần thiết để hiểu đúng BĐS, các chính sách tài chính BĐS, sự biến động giá BĐS trong nền kinh tế hiện nay. 4 Geltner (2014) đã cung cấp một nghiên cứu chuyên sâu về kinh tế tài chính và đô thị của BĐS, phân tích và đầu tư BĐS thương mại, là nền tảng để hiểu rõ hơn về BĐS thương mại từ góc độ đầu tư. Eugenio Cerutti (2015) đưa ra nội dung về cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu gần đây một phần là do những rủi ro phát sinh từ sự bùng nổ BĐS.
Cuốn sách này bổ sung các nghiên cứu trước đó bằng cách: khai thác các dữ liệu phân tích sâu hơn về chính sách tài chính tín dụng BĐS và bằng cách phân tích đặc điểm của tín dụng BĐS, các yếu tố tác động giữa các quốc gia. Các tác giả đưa ra các quan điểm mới trong nghiên cứu về chính sách tài chính tín dụng bất động sản. Nhóm các công trình nghiên cứu trong nước Trong nước, hiện nay có nhiều tác phẩm, tài liệu phân tích các chính sách kinh tế, chính sách tín dụng cho TTBĐS. Trần Kim Chung (2006) đã chỉ ra và phân tích các chính sách nhằm thúc đẩy TTBĐS.
Một trong những chính sách đó là chính sách tài chính và tín dụng. Theo đó, liên quan đến chính sách tín dụng, cuốn sách đã đưa ra lý luận chung cũng như phân tích về thực trạng, hiệu quả hoạt động cho vay của các NHTM đối với TTBĐS Việt Nam. Đỗ Thị Thu Hà (2014) đã khái quát, tập trung làm rõ mối quan hệ giữa thực hiện chính sách tín dụng của ngân hàng và tình trạng bong bóng BĐS. Vương Minh Phương (2016) đã có luận án với nội dung nghiên cứu về chính sách tài chính và tác động của các chính sách này đến TTBĐS thông qua đó, đưa ra các giải pháp tài chính cần thiết.
Nguyễn Thu Hà (2010) với luận văn tập trung làm rõ thực trạng chính sách tín dụng đối với cho vay BĐS ở các NHTM Việt Nam hiện nay ra sao và làm thế nào để nâng cao hiệu quả của kênh tín dụng. Đinh Văn Ân (2011) đã làm rõ những vấn đề lý luận về sự hình thành và phát triển TTBĐS, làm rõ đặc trưng của TTBĐS trong nền kinh tế thị trường hiện đại, đánh giá thực trạng và tồn tại của thị trường cũng như đề xuất phương hướng, 5 giải pháp. Đề tài cũng đã đưa ra lý luận, đánh giá thực trạng về chính sách tín dụng đối với TTBĐS Việt Nam ở thời điểm trước năm 2011. Kết quả đạt được Các nghiên cứu trên hoặc chỉ nghiên cứu về vấn đề tín dụng ngân hàng đối với TTBĐS đạt được ưu điểm bao gồm: Thứ nhất, đề cập đến chính sách tín dụng đối với TTBĐS nhưng chưa phân tích, xây dựng một cách có hệ thống hoàn thiện về vấn đề này.
Thứ hai, các công trình nghiên cứu về lĩnh vực tín dụng ngân hàng với TTBĐS trên góc độ chủ thể là NHTM trong hoạt động cho vay đối với chủ thể tham gia thị trường là hộ gia đình, cá nhân, doanh nghiệp. Thứ ba, các công trình nghiên cứu về phương diện nào đó đã chỉ ra nhiều thực tế, cũng như nguyên nhân tồn tại trong hoạt động chưa hiệu quả của TTBĐS dưới tác động chính sách tín dụng. Về nhược điểm, các công trình chưa tập trung nghiên cứu sâu về chính sách tín dụng đối với TTBĐS ở thời điểm 2017-2019. Trong khi đó, TTBĐS đã có những thay đổi phát triển mạnh mẽ và chính sách tín dụng của giai đoạn này cũng đã có điều chỉnh.
Bên cạnh đó, các công trình nghiên cứu chưa phân tích mối quan hệ giữa chính sách tín dụng và hệ thống các chính sách khác đối với TTBĐS. Luận văn “Chính sách tín dụng đối với thị trường bất động sản Việt Nam” sẽ đưa ra hệ thống hoá lý luận cũng như phân tích tác động của chính sách tín đối với TTBĐS trong giai đoạn 2017 - 2019, trên góc độ chủ thể quản lý là NHNN. Luận văn xây dựng các kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện hơn chính sách tín dụng đối với TTBĐS trong thời gian tới. Cơ sở lý luận về thị trường bất động sản 1.
Một số khái niệm * Khái niệm bất động sản Thuật ngữ: “Bất động sản đã xuất hiện đầu tiên trong bộ luật cổ La Mã, với tư cách là phạm trù pháp lý quy định quyền sở hữu đối với khách thể. Bất động sản 6 trước hết là tài sản. Tài sản nói chung chia thành “bất động sản” và “động sản”. Nó là yếu tố vật chất có ích cho con người, được chiếm hữu bởi cá nhân hoặc cộng đồng người, có thể được đo lường bằng giá trị nhất định.
Khác với các loại tài sản, bất động sản có đặc tính là: không thể di dời hoặc là di dời hạn chế để tính năng, công năng và hình thái của nó không thay đổi. Theo quan điểm của tác giả, BĐS được hiểu là đất đai và những vật gắn liền với đất đai, được sử dụng trong trạng thái không tách rời với đất. * Khái niệm thị trường bất động sản TTBĐS là nơi mà lực lượng cung BĐS và lực lượng cầu BĐS tương tác với nhau, từ đó quyết định ra giá cả BĐS, và là nơi phân phối hàng hóa BĐS cho người sử dụng khác nhau, và được các dịch vụ bất động sản hỗ trợ (Trần Thiên Khải, 2013). “TTBĐS là tổng thể các giao dịch về BĐS dựa trên các quan hệ hàng hóa, tiền tệ diễn ra trong một không gian và thời gian nhất định” (PTS.
“TTBĐS là tổng hòa các giao dịch dân sự về BĐS tại một địa bàn nhất trịnh, trong một thời gian nhất định” (Thái Bá Cẩn, 2003). Nhìn chung, các khái niệm tuy khác nhau về cách diễn đạt nhưng tựu chung đều coi TTBĐS là tổng hợp các giao dịch về BĐS dựa trên quan hệ hàng hóa, tiền tệ. Theo tác giả, TTBĐS là tổng hợp các giao dịch về BĐS dựa trên quan hệ hàng hóa, tiền tệ bao gồm: hoạt động mua bán, trao đổi, cho thuê, cho thuê lại, thế chấp, bảo hiểm, bảo lãnh, góp vốn liên doanh, chuyển dịch quyền sở hữu BĐS. * Phân loại TTBĐS - Phân khúc nhà ở (căn hộ chung cư, nhà ở riêng lẻ) - Phân khúc BĐS du lịch - Phân khúc BĐS thương mại - Phân khúc BĐS công nghiệp - Phân khúc BĐS nông nghiệp 7 - Phân khúc BĐS hạ tầng - Phân khúc BĐS nghĩa trang 1.
Vai trò của thị trường bất động sản đối với nền kinh tế TTBĐS là bộ phận hợp thành của nền kinh tế thị trường thống nhất, có mối liên hệ trực tiếp với thị trường tài chính (thị trường tiền tệ và thị trường vốn). Quản lý TTBĐS, đảm bảo thị trường hoạt động có hiệu quả tuân theo các quy luật của thị trường và hạn chế những tiêu cực, nguy cơ khủng hoảng. Hoạt động của TTBĐS có tác động tích cực đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân. Thứ nhất, phát triển TTBĐS góp phần huy động vốn đầu tư phát triển.
Với chức năng thúc đẩy sản xuất phát triển, TTBĐS đã góp phần làm tăng tài sản cố định trong xã hội, tức là tăng một nguồn vốn đầu tư phát triển quan trọng. Bên cạnh đó, khi TTBĐS phát triển sẽ đẩy nhanh tốc độ chu chuyển vốn, tức là bổ sung vốn cho đầu tư phát triển. Thứ hai, phát triển TTBĐS góp phần tăng thu nhập cho ngân sách Nhà nước. Sự phát triển của TTBĐS có thể theo hướng tăng khối lượng hàng hoá BĐS trên thị trường giao dịch hoặc tăng khối lượng hàng hoá BĐS trên thị trường giao dịch hoặc tăng khối lượng giao dịch do quá trình mua đi, bán lại, thuê đi, thuê lại.
nhưng dù theo hướng nào cũng đều góp phần tăng thu ngân sách Nhà nước thông qua thuế. Thứ ba, phát triển TTBĐS góp phần đổi mới chính sách của Nhà nước và ổn định xã hội. TTBĐS chịu sự chi phối mạnh mẽ của pháp luật và chính sách của Nhà nước. Vì thế, TTBĐS phát triển không lành mạnh với những biểu hiện như gia tăng nạn đầu cơ, lũng đoạn giá cả làm giá cả lên xuống thất thường.
cũng là lúc những bất cập của các chính sách, đặc biệt đối với Luật Đất đai được bộc lộ. Điều này gây tác động xấu đến niềm tin của người dân đối với các chủ trương, chính sách của Nhà nước. Vì vậy, Nhà nước cần phải đổi mới bổ sung và hoàn thiện không chỉ các chính sách mà còn cả công tác quản lý đất đai, quản lý BĐS. Khi TTBĐS hoạt động lành mạnh sẽ góp phần điều hoà cung cầu, bình ổn giá cả, thúc đẩy sản xuất phát triển, nâng cao đời sống nhân dân.