chương 1 đề cập đến là những nội dung mang tính giới thiệu khái quát về luận án mà qua đó người đọc có thể hình dung được tổng thể về luận án. 9 Chương 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Các nghiên cứu về bản chất và đặc trưng của cấu trúc tài chính và an ninh tài chính 2. Nghiên cứu về cấu trúc tài chính CTTC đã được đề cập khá nhiều trong các nghiên cứu.
Trước hết, CTTC được quan niệm như là cấu trúc nguồn vốn. Theo đó, CTTC thể hiện mối quan hệ giữa vốn chủ sở hữu và nợ phải trả. Điển hình cho quan điểm này là các nghiên cứu của Đào Văn Thi & Phạm Thị Hồng Mai (2022), Đoàn Ngọc Phi Anh (2010), Foyeke et al. Nghiên cứu của Đoàn Ngọc Phi Anh (2010) tại 428 doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam khẳng định CTTC là cơ cấu nguồn vốn mà doanh nghiệp huy động để tài trợ cho tài sản của mình.
Tương tự, Foyeke et al. (2016) trong nghiên cứu về đánh giá tác động của CTTC đến khả năng sinh lợi tại 25 công ty sản xuất niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Nigeria cũng xác nhận CTTC (còn được gọi là cấu trúc vốn hoặc hỗn hợp tài chính) là một khái niệm sử dụng trong kinh doanh để đo lường tỷ lệ tài trợ giữa vốn chủ sở hữu và nợ phải trả trên tổng số tài trợ của một tổ chức. Thống nhất với quan điểm về CTTC này, Lê Phương Dung & Đặng Thị Hồng Giang (2013) khi nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến CTTC của 20 doanh nghiệp chế biến thủy sản niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn cũng nhấn mạnh rằng CTTC là cơ cấu giữa toàn bộ các khoản nợ phải trả và vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp. Trong nghiên cứu của mình về CTTC và những ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của 53 doanh nghiệp vận tải trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP.
Hồ Chí Minh và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội, các tác giả Đào Văn Thi & Phạm Thị Hồng Mai (2022) cũng đồng tình khi thừa nhận rằng là cấu trúc nguồn vốn của doanh nghiệp. Quan điểm CTTC là cơ cấu các loại nguồn vốn hình thành nên các loại tài sản của doanh nghiệp lại được tiếp tục khẳng định trong các nghiên cứu của Barakat (2014), Bolarinwa & Adegboye (2020), Chakrabarti et al. (2019), Li et al. (2019), Phạm Thị Thủy & Nguyễn Thị Lan Anh (2018), Yazdanfar et al.
Việc nhìn nhận CTTC dưới góc độ nguồn vốn cho phép đánh giá được mức độ độc lập tài chính của doanh nghiệp cũng như tính hợp lý về cơ cấu nguồn tài trợ tài sản của doanh nghiệp. CTTC cũng được coi là sự pha trộn giữa nợ và vốn chủ sở hữu được duy trì bởi một công ty (Boodhoo, 2009). Cấu trúc nguồn vốn của một công ty rất quan trọng vì nó liên quan đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các bên liên quan. 10 Không dừng lại ở quan điểm coi CTTC phản ánh cơ cấu nguồn vốn như trên, nhiều tác giả còn đi sâu vào cấu trúc nguồn vốn, trong đó chú trọng đến sự kết hợp giữa nợ và vốn chủ sở hữu mà công ty sử dụng để tài trợ cho hoạt động kinh doanh của mình cũng như mối quan hệ giữa các nguồn vốn trung và dài hạn.
Từ đó hình thành khái niệm cấu trúc vốn (David & Olorunfemi, 2010; Niu, 2009; Wassie, 2020). Niu (2009) đã khẳng định ngay từ đầu nghiên cứu của mình là cấu trúc vốn là sự kết hợp tài trợ giữa nợ phải trả và vốn chủ sở hữu. Cấu trúc vốn của một công ty mô tả cách thức công ty huy động số vốn cần thiết để thiết lập và mở rộng các hoạt động kinh doanh của mình. Đó là một sự kết hợp của nhiều loại vốn chủ sở hữu và vốn vay mà một công ty duy trì do các quyết định tài chính của công ty.
David & Olorunfemi (2010) khi nghiên cứu về cơ cấu vốn và hiệu quả hoạt động của công ty trong ngành Dầu mỏ Nigeria thông qua phân tích dữ liệu bảng đã thừa nhận cấu trúc vốn là sự kết hợp về tỷ lệ giữa các công cụ nợ, cổ phiếu ưu đãi và phổ thông của công ty. Wassie (2020) cho rằng các quyết định về cấu trúc vốn là những quyết định quan trọng đối với bất kỳ hoạt động kinh doanh nào vì chúng có ảnh hưởng đáng kể đến giá trị và chi phí của công ty. Do vậy, ông cũng thừa nhận cấu trúc vốn là sự kết hợp giữa nợ và vốn chủ sở hữu mà công ty sử dụng để tài trợ cho hoạt động kinh doanh của mình khi ông tiến hành nghiên cứu về tác động của cấu trúc vốn đến khả năng sinh lợi của 30 công ty xây dựng cấp một ở Ethiopia trong giai đoạn 2011 - 2015. Không chỉ xem xét CTTC dưới góc độ nguồn vốn, một số tác giả còn xem xét CTTC dưới góc độ tài sản.
Theo đó, CTTC của doanh nghiệp bao gồm cả cơ cấu nguồn vốn và cơ cấu tài sản (Chadha & Sharma, 2015; Lê Thị Nhu, 2017). Chadha & Sharma (2015) khi nghiên cứu các yếu tố quyết định chính của cấu trúc vốn tại 422 công ty sản xuất niêm yết của Ấn Độ trên Sàn Giao dịch Chứng khoán Bombay trong khoảng thời gian mười năm một lần nữa đã khẳng định cấu trúc vốn chủ yếu là sự kết hợp giữa nợ và vốn chủ sở hữu và việc xây dựng cấu trúc vốn là một trong những quyết định quan trọng được thực hiện bởi người quản trị tài chính của công ty. Do đó, quyết định của công ty về cấu trúc vốn có tác động đáng kể đến CTTC của công ty. Lê Thị Nhu (2017) khi nghiên cứu mối quan hệ giữa CTTC với khả năng sinh lợi của các công ty thuộc ngành Xây dựng niêm yết ở các sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam từ năm 2008 đến năm 2015 đã nhìn nhận CTTC trước hết là cấu trúc nguồn vốn trong doanh nghiệp và sau đó do vốn được phân bổ, sử dụng để đầu tư tài sản nên CTTC còn được thể hiện qua cấu trúc tài sản.
Vì vậy, CTTC thể hiện trên hai mặt là cấu trúc nguồn vốn và cấu trúc tài sản trong doanh nghiệp. Với cách nhìn nhận này, người sử dụng thông tin không những đánh giá được mức độ độc lập tài chính, tính hợp lý về cơ cấu nguồn tài trợ tài 11 sản của doanh nghiệp mà còn đánh giá được tình hình sử dụng vốn (phân bổ tài sản) của doanh nghiệp. Ngoài việc xem xét CTTC dưới góc độ cơ cấu nguồn vốn và cơ cấu tài sản ở trên (theo nghĩa hẹp), hầu hết nghiên cứu đều xem xét CTTC theo nghĩa rộng. Theo đó, CTTC không chỉ phản ánh cơ cấu nguồn vốn (bao gồm cả cấu trúc vốn), cơ cấu tài sản mà CTTC còn phản ánh cả mối quan hệ giữa tài sản với nguồn vốn (Javaid et al., 2021; Li et al., 2019; Nguyễn Văn Công & Phạm Xuân Kiên, 2019; Phan Hồng Hải, 2022; Wassie, 2020; Zaman et al.
Zeitun & Tian (2014) khi nghiên cứu tác động của cấu trúc vốn đối với hiệu quả hoạt động của 167 công ty Jordan trong giai đoạn 1989-2003 đã sử dụng các chỉ tiêu phản ánh cơ cấu nguồn vốn, cơ cấu tài sản và mối quan hệ giữa tài sản với nguồn vốn để thể hiện cấu trúc vốn. Đó là các chỉ tiêu: Tỷ lệ nợ phải trả trên tổng tài sản, tỷ lệ nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu, tỷ lệ nợ dài hạn trên tổng tài sản, tỷ lệ nợ ngắn hạn trên tổng tài sản. Nguyễn Văn Công & Phạm Xuân Kiên (2019), Phan Hồng Hải (2022) quan niệm rằng CTTC của một doanh nghiệp phải được xem xét theo cả nghĩa hẹp và nghĩa rộng. Theo nghĩa hẹp, CTTC phản ánh cơ cấu nguồn vốn, cơ cấu tài sản.
Với cách xem xét này, về mặt pháp lý, người sử dụng thông tin có thể biết được trách nhiệm của doanh nghiệp đối với các chủ nợ và các nhà đầu tư đối với số tài sản hình thành bằng nguồn vốn của họ cũng như biết được những tài sản mà doanh nghiệp có quyền quản lý, sử dụng và định đoạt hay chỉ có quyền quản lý, sử dụng mà không có quyền định đoạt. Theo nghĩa rộng, CTTC của doanh nghiệp không chỉ phản ánh cơ cấu nguồn vốn, cơ cấu tài sản mà còn phản ánh mối quan hệ giữa tài sản với nguồn vốn cũng như mối quan hệ giữa các chỉ tiêu trong nội bộ nguồn vốn, nội bộ tài sản với nhau. Việc xem xét CTTC dưới góc độ này không chỉ cung cấp thông tin về cơ cấu nguồn vốn, cơ cấu tài sản mà quan trọng hơn, nó còn cung cấp thông tin về chính sách sử dụng số vốn đã huy động của doanh nghiệp. Wassie (2020) đo lường cấu trúc vốn bằng các chỉ tiêu như tỷ lệ nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu, tỷ lệ nợ dài hạn trên tổng tài sản và tỷ lệ nợ phải trả trên tài sản khi nghiên cứu tác động của CTTC đến khả năng sinh lợi của các công ty xây dựng Ethiopia.
Zaman et al. (2023) khi phân tích dữ liệu của 395 công ty sản xuất niêm yết ở Pakistan với 2.370 quan sát theo năm của công ty để xem xét mối quan hệ giữa liên kết ngân hàng với cơ cấu vốn công ty đã sử dụng các chỉ tiêu phản ánh cấu trúc vốn (tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu), cơ cấu tài sản (tỷ trọng tài sản cố định trên tổng tài sản), mối quan hệ giữa tài sản với nguồn vốn (tỷ lệ nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu, tỷ lệ nợ phải trả trên tổng tài sản, tỷ lệ nợ dài hạn trên tổng tài sản, tỷ tệ tài sản ngắn hạn trên nợ ngắn hạn). 12 Đồng nhất với quan điểm về CTTC ở trên, Trần Thị Phương Thảo (2019) khi nghiên cứu về ảnh hưởng của cơ cấu vốn đến hiệu quả kinh doanh của 446 doanh nghiệp phi tài chính niêm yết liên tục trong giai đoạn 2011 - 2017 đã sử dụng các biến phản ánh CTTC như tỷ lệ nợ phải trả trên tổng số tài sản, tỷ lệ tài sản ngắn hạn trên nợ ngắn hạn và tỷ trọng tài sản cố định chiếm trong tổng số tài sản. Kết quả nghiên cứu chỉ ra ảnh hưởng đáng kể của CTTC đến hiệu quả kinh doanh của các công ty niêm yết Việt Nam.
Ngoài ra, một số nghiên cứu xuất phát xem xét CTTC thông qua các chỉ tiêu phản ánh đòn bẩy tài chính. Theo Westgaard et al.