CHƯƠNG 1. Giới thiệu Luận án này điều tra thực nghiệm tác động của hai nhóm nhân tố: Vĩ mô và đặc trưng hoạt động ngân hàng, đối với rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam. Đối với nhóm nhân tố vĩ mô, luận án muốn kiểm định sự tác động của các nhân tố liên quan đến đặc trưng kinh tế vĩ mô như tăng trưởng kinh tế, lạm phát, tỷ giá và yếu tố biến động thị trường bất động sản. Đối với nhóm nhân tố đặc trưng hoạt động ngân hàng, luận án muốn kiểm định sự tác động của việc tăng trưởng tín dụng, năng lực tài chính, năng lực quản trị, chính sách lãi suất và tuân thủ (bao gồm thanh khoản và dự phòng chung).
Qua điều tra thực nghiệm, nghiên cứu này lần đầu kiểm định mối tương quan giữa giá cả bất động sản, tăng trưởng mạng lưới và tỷ lệ dự phòng chung với rủi ro tín dụng trong trường hợp tại Việt Nam. Ngoài phần giới thiệu, chương này được cấu trúc như sau: Phần 1. thảo luận về các vấn đề nghiên cứu, Phần 1. trình bày các mục tiêu nghiên cứu, Phần 1.
trình bày đối tượng và phạm vi nghiên cứu, Phần 1. tóm tắt dữ liệu, phương pháp và kết quả nghiên cứu. thảo luận các đóng góp và hạn chế của luận án. trình bày kết cấu của luận án.
Vấn đề nghiên cứu Việt nam sau khi trở thành thành viên của một số tổ chức quốc tế như ASEAN năm 1995, APEC năm 1998 và WTO vào đầu năm 2007, xu hướng tự do hóa thương mại, tự do hóa tài chính ngày càng mở rộng, mạnh mẽ đã và đang chi phối khuynh hướng, cấu trúc vận động của hệ thống tài chính, ngân hàng thương mại Việt Nam. Điều này cũng có nghĩa Việt Nam tiếp cận nhiều rủi ro hơn so với thời kỳ nền kinh tế kế hoạch tập trung. Qua hơn 25 năm đổi mới, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng góp phần thúc đẩy tiến trình đổi mới và phát triển của nền kinh tế thị 3 trường. Tuy nhiên trong những năm gần đây hệ thống ngân hàng Việt Nam đã có nhiều khó khăn khi nợ xấu ngày càng tăng và đỉnh điểm của nó vào những năm 2011 – 2012 tạo cho hệ thống ngân hàng mất an toàn khi tình hình thanh khoản vô cùng căng thẳng.
Mặc dù đã trải qua 5 năm thực hiện đề án tái cơ cấu hệ thống ngân hàng Việt Nam, kinh tế đã có sự hồi phục và tăng trưởng, thị trường bất động sản đã ấm lên nhưng đến nay nợ xấu vẫn chưa xử lý hiệu quả và bóng ma “nợ xấu” vẫn ám ảnh hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam. Có thể nói rủi ro tín dụng trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay đang được Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam rất quan tâm. Và vì vậy một câu hỏi đáng được xem xét là đâu là cách kiểm soát rủi ro tín dụng phù hợp? Xét trên phương diện học thuật, việc tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng trong bối cảnh bất ổn tài chính đặc trưng của từng quốc giasẽ giúp cho các nhà quản lý, nhà điều hành ngân hàng có “phương thuốc hữu hiệu” hạn chế những rủi ro trong hoạt động ngân hàng. Về mặt lý thuyết,rủi ro tín dụng xảy ra khi tính hoàn trả trong quan hệ tín dụng bị vi phạm.
Khả năng hoàn trả của người vay phụ thuộc vào môi trườngvà ý muốn của bản thân khách hàng. Rủi ro môi trường ở đây gồm có hai khía cạnh. Thứ nhất: Rủi ro môi trường kinh tế vĩ mô là những rủi ro xuất phát từ những nguyên nhân như suy thoái kinh tế, lạm phát, thay đổi năng lực thị trường, thay đổi chính sách của chính phủ. Thứ hai: Là những rủi ro xuất phát từ các yếu tố mang tính riêng biệt của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành kinh tế.
Còn rủi ro từ ý muốn hoàn trả của người vay thường xuất phát từ việc khách hàng sử dụng tiền vay không đúng mục đích và nghiêm trọng hơn là có những hành vi gian lận, lừa đảo. Mặc khác rủi ro tín dụng có thể xuất phát từ những chọn lựa của bản thân mỗi ngân hàng thông qua các nghiệp vụ giao dịch và lựa chọn danh mục cho vay của mình (Hồ Diệu, 2002). Hay nói cách khác rủi ro tín dụng có thể xuất phát từ những rủi ro đặc trưng hoạt động của mỗi ngân hàng. 4 Trong phạm vi luận án chỉ tập trung kiểm định tác động của 2 nhóm nhân tố: Rủi ro vĩ mô và rủi ro từ đặc trưng hoạt động của các ngân hàng thương mại – đây là những nhân tố quan trọng quyết định rủi ro tín dụng trên phạm vi rộng lớn.
Rủi ro vĩ mô Rủi ro vĩ mô là những rủi ro từ môi trường tổng quát có bao gồm ba nhóm rủi ro. Thứ nhất, biến động các nhân tố đặc trưng của kinh tế quốc gia như tăng trưởng kinh tế, lạm phát, thất nghiệp. Đây là những nhân tố cơ bản trong các mô hình lý thuyết chu kỳ sống (Lawrence, 1995), thứ hai, biến động tỷ giá hối đoái và thứ ba là biến động ngành kinh tế. Lược khảo các nghiên cứu về nhân tố tăng trưởng kinh tế, lạm phát, thất nghiệp tại quốc gia, khu vực, thời gian khác nhau cho thấy sự tác động của các nhân tố này đến rủi ro tín dụng cũng khác nhau.
Ví dụ như: − Về nhân tố tăng trưởng kinh tế, nghiên cứu của Pestova và Mamonov (2011), Nkusu (2011), Trần Hoàng Ngân và các cộng sự (2014) minh chứng rằng một khi nền kinh tế tăng trưởng, các doanh nghiệp bán hàng tốt hơn và sẵn sàng đầu tư mở rộng sản xuất, nhu cầu cấp tín dụng gia tăng, doanh số bán hàng, lợi tức của doanh nghiệp và thu nhập cá nhân gia tăng góp phần làm tăng khả năng hoàn trả nợ vay. Trong khi đó nghiên cứu của Schechman và Gaglianone (2011) tìm thấy sự tác động cùng chiều của tăng trưởng kinh tế năm trước đối với rủi ro tín dụng. Điều đó chứng minh một khi nền kinh tế bùng nổ, xu hướng tâm lý phát sinh là các ngân hàng sẽ dễ dàng cấp tín dụng, kể cả trong việc sàng lọc khách hàng và tài sản thế chấp. Lúc đó ngân hàng dễ bị tổn thương bởi lựa chọn bất lợi về khách hàng vay.
− Nhân tố lạm phát cũng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm điều tra lại mối liên hệ với rủi ro tín dụng. Tuy nhiên qua lược khảo các tài liệu nghiên cứu trước đây cho thấy sự tương quan của lạm phát với rủi ro tín dụng không giống nhau. Nghiên cứu của Nkusu (2011), Schechman và Gaglianone (2011), Poudel (2013), Trần Hoàng Ngân và các cộng sự (2014), Nguyễn Quốc Anh (2016) kiểm định tác động cùng chiều của tỷ lệ lạm phát với rủi ro tín dụng. Nghiên cứu của Pestova và Mamonov (2011), Vogiazas và 5 Nikolaidou (2011), Washington (2014) cho rằng trong ngắn hạn lạm phát không có ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng vì khi ngân hàng dự báo chính xác lạm phát, các nhà điều hành ngân hàng có thể điều chỉnh lãi suất thích hợp để tăng doanh thu của họ nhanh hơn so với chi phí mà xem nhẹ các tác động tiêu cực của lạm phát (Poudel, 2013) − Cũng như tăng trưởng kinh tế, yếu tố thất nghiệp liên quan trực tiếp đến khả năng tạo dòng tiền trả nợ của cá nhân và doanh nghiệp.
Do đó tỷ lệ thất nghiệp cũng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm điều tra về mối liên hệ với rủi ro tín dụng. Tuy nhiên kết quả nghiên cứu cho thấy sự tương quan giữa tỷ lệ thất nghiệp với rủi ro tín dụng không giống nhau. Ở một số nước có nền kinh tế mới nổi như Hy Lạp (Louzis , 2010), Brazil (Schechman và Gaglianone, 2011), Nga (Pestova và Mamonov, 2011), tỷ lệ thất nghiệp tương quan cùng chiều với rủi ro tín dụng. Trong khi đó tại nước Mỹ (Park và Zhang, 2012) và Romania (Vogiazas và Nikolaidou, 2011) tỷ lệ thất nghiệp tương quan ngược chiều với nợ xấu.
Nhân tố tỷ giá hối đoái được nhấn mạnh trong các công trình nghiên cứu tại các nước nền kinh tế mới nổi, bởi vì tại đó ngoại tệ được xem trọng và có khối lượng vay ngoại tệ gia tăng. Chất lượng các khoản vay này phụ thuộc vào sự biến động của tỷ giá. Tuy nhiên nghiên cứu của Poudel (2013), Washington (2014) lại cho kết quả tương quan âm giữa tỷ giá và rủi ro tín dụng. Liên quan đến rủi ro tập trung, thì có lẽ sau khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, các nhà nghiên cứu đã có cái nhìn đặc biệt đến rủi ro từ thị trường bất động sản là một nhân tố mới và rất quan trọng liên quan đến rủi ro tín dụng trên phạm vi rộng lớn như nghiên cứu của Soros (2008),Nkusu (2011), Fainstein (2011) và Pestova và Mamonov (2011).
Tuy nhiên tại Việt Nam đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào tiếp cận yếu tố của “Bong bóng” địa ốc để phân tích đánh giá mức độ ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam, trong khi đó thực tế hoạt động ngân hàng Việt Nam trong những năm gần đây dư nợ cho vay đầu tư, kinh doanh bất động sản khá cao (bình quân khoảng 8%/tổng dư nợ, có những năm lớn hơn 10%/tổng dư nợ). Bên 6 cạnh đó các khoản vay ngân hàng phần lớn đều được đảm bảo bằng bất động sản. Nếu kể cả khoản tín dụng kinh doanh, đầu tư bất động sản và khoản tín dụng thế chấp bằng bất động sản thì dư nợ đối với bất động sản lớn hơn 50% tổng dư nợ (1). Khi giá cả thị trường bất động sản trầm lắng đã làm nhiều doanh nghiệp bất động sản phá sản, tài sản thế chấp sụt giá, ngân hàng không thể phát mãi thu hồi nợ từ đó gây nên nợ xấu lớn.
Chính vì thế theo báo cáo về thực trạng nợ xấu của NHTMVN tại phiên họp Quốc hội ngày 07/07/2017, Thống đốc NHNNVN Lê Minh Hưng đã nhận định rằng một trong những nguyên nhân gây nên nợ xấu tại hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam là sự trầm lắng của thị trường bất động sản (Ngọc Quang, 2017). Tóm lại: Qua lược khảo các nghiên cứu tiếp cận các nhân tố đặc trưng kinh tế vĩ mô, tỷ giá và biến động thị trường bất động sản cho thấy: Thứ nhất: Mỗi quốc gia, khu vực có đặc thù chính sách kinh tế khác nhau và trong thời gian khác nhau thì kết quả ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến rủi ro tín dụng cũng khác nhau.