Tổng quan luận án

Sau khi gia nhập các tổ chức quốc tế như Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) năm 1995, Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) năm 1998 và Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2007, hệ thống tài chính và ngân hàng thương mại Việt Nam chịu sự chi phối mạnh mẽ từ xu hướng tự do hóa thương mại và tài chính. Quá trình này đem lại nhiều thành tựu sau hơn 25 năm đổi mới nhưng cũng đặt hệ thống ngân hàng trước những biến động và rủi ro lớn hơn so với thời kỳ kinh tế kế hoạch tập trung. Đặc biệt, tình trạng nợ xấu gia tăng và đạt đỉnh điểm vào giai đoạn 2011 – 2012 đã đẩy hệ thống ngân hàng vào tình trạng căng thẳng thanh khoản nghiêm trọng. Dù đã thực hiện đề án tái cơ cấu hệ thống ngân hàng trong 5 năm, nợ xấu vẫn là vấn đề tồn tại kéo dài đối với hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định xuất phát từ thực tiễn:

  • Thứ nhất, các công trình trong nước chưa tiếp cận phân tích sự biến động của thị trường bất động sản (bong bóng địa ốc) như một nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng ngân hàng, dù dư nợ cho vay và tài sản thế chấp gắn liền với bất động sản tại Việt Nam chiếm tỷ trọng lớn (dư nợ kinh doanh bất động sản khoảng 8% tổng dư nợ, tổng dư nợ liên quan đến thế chấp bằng bất động sản vượt trên 50%).
  • Thứ hai, chưa có nghiên cứu trong nước nào kiểm định tác động của sự gia tăng mạng lưới hoạt động của các ngân hàng thương mại (một chỉ báo về năng lực quản trị liên quan đến chi phí) đến rủi ro tín dụng, dù mạng lưới đã mở rộng từ 3.249 điểm giao dịch năm 2005 lên 5.252 điểm năm 2008 và tiếp tục tăng mạnh đến năm 2011.
  • Thứ ba, tỷ lệ trích lập dự phòng chung 0,75% được duy trì trong hơn 13 năm (từ Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN đến thời điểm nghiên cứu) nhưng chưa có công trình nào đánh giá liệu tỷ lệ dự phòng chung này có phát huy tác dụng hạn chế rủi ro tín dụng hay không.

Mục tiêu chung của luận án là xác định các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2004 – 2015, bao gồm nhóm nhân tố vĩ mô và nhóm nhân tố đặc trưng hoạt động ngân hàng. Tác giả đặt ra 3 mục tiêu cụ thể tương ứng với 3 câu hỏi nghiên cứu:

  • Câu hỏi 1 (RQ1): Liệu có ảnh hưởng của sự biến động thị trường bất động sản đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam hay không?
  • Câu hỏi 2 (RQ2): Liệu việc mở rộng mạng lưới hoạt động liên quan đến năng lực quản trị ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam hay không?
  • Câu hỏi 3 (RQ3): Liệu có sự ảnh hưởng của dự phòng chung đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam hay không?

Đối tượng nghiên cứu của luận án là tác động của nhóm nhân tố kinh tế vĩ mô và nhóm nhân tố đặc trưng hoạt động ngân hàng đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam.

  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu được thực hiện trên mẫu 31 ngân hàng thương mại nội địa của Việt Nam (gồm 05 ngân hàng thương mại nhà nước và 26 ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân; không bao gồm các ngân hàng bị Ngân hàng Nhà nước mua lại bắt buộc: Ngân hàng Xây Dựng, Ngân hàng Dầu Khí Toàn Cầu, Ngân hàng Đại Dương), không khảo sát toàn bộ các định chế tài chính khác.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn thu thập và phân tích dữ liệu kéo dài 12 năm, từ năm 2004 đến năm 2015.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã điểm lại các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo hai nhóm nhân tố:

Nhóm nhân tố vĩ mô:

  • Tăng trưởng kinh tế: Các nghiên cứu của Pestova và Mamonov (2011), Nkusu (2011), Trần Hoàng Ngân và các cộng sự (2014) cho thấy tăng trưởng kinh tế hỗ trợ doanh nghiệp bán hàng, gia tăng thu nhập và nâng cao khả năng hoàn trả nợ, từ đó giảm rủi ro tín dụng. Trái lại, Schechman và Gaglianone (2011) tìm thấy tác động cùng chiều của tăng trưởng kinh tế năm trước đối với rủi ro tín dụng do tâm lý lạc quan quá mức khiến ngân hàng hạ chuẩn cấp tín dụng.
  • Lạm phát: Nkusu (2011), Schechman và Gaglianone (2011), Poudel (2013), Trần Hoàng Ngân và các cộng sự (2014), Nguyễn Quốc Anh (2016) chỉ ra lạm phát tác động cùng chiều đến rủi ro tín dụng. Ngược lại, Pestova và Mamonov (2011), Vogiazas và Nikolaidou (2011), Washington (2014) cho rằng trong ngắn hạn lạm phát không có ảnh hưởng đáng kể do ngân hàng chủ động điều chỉnh lãi suất.
  • Thất nghiệp: Tương quan cùng chiều được ghi nhận tại Hy Lạp (Louzis, 2010), Brazil (Schechman và Gaglianone, 2011), Nga (Pestova và Mamonov, 2011); trong khi tương quan ngược chiều xuất hiện tại Mỹ (Park và Zhang, 2012) và Romania (Vogiazas và Nikolaidou, 2011).
  • Tỷ giá hối đoái: Tác động cùng chiều với rủi ro tín dụng được ghi nhận trong nghiên cứu của Fofack (2005), Castro (2012), Trần Hoàng Ngân và các cộng sự (2014), Nguyễn Quốc Anh (2016). Ngược lại, Poudel (2013) và Washington (2014) ghi nhận mối quan hệ ngược chiều, trong khi Nkusu (2011) không tìm thấy tác động rõ ràng.
  • Thị trường bất động sản: Các tác giả quốc tế như Soros (2008), Nkusu (2011), Fainstein (2011), Pestova và Mamonov (2011) đã đưa biến động giá nhà ở hoặc doanh số mua bán bất động sản vào mô hình rủi ro tín dụng nhưng chưa kiểm chứng rõ ràng tác động đối với các thị trường mới nổi.

Nhóm nhân tố đặc trưng hoạt động ngân hàng:

  • Tăng trưởng cho vay: Das và Ghosh (2007), Boudriga và cộng sự (2009), Espinoza và Prasad (2010), Pestova và Mamonov (2011), Castro (2012) lập luận tăng trưởng tín dụng quá nhanh làm suy giảm tiêu chuẩn cho vay và gia tăng nợ xấu sau đó. Ngược lại, Schechman và Gaglianone (2011), Nkusu (2011), Vogiazas và Nikolaidou (2011), Washington (2014), Trần Hoàng Ngân và các cộng sự (2014), Nguyễn Thị Hoài Phương (2017) cho rằng mở rộng tín dụng thúc đẩy kinh tế, tăng khả năng trả nợ và làm giảm nợ xấu.
  • Năng lực tài chính: Demsetz và Strahan (1997), Nguyễn Quốc Anh (2016), Lê Thị Thu Diềm (2016) chỉ ra quy mô lớn giúp đa dạng hóa danh mục và hạn chế rủi ro. Ngược lại, Das và Ghosh (2007) cho rằng quy mô lớn kích thích tâm lý chấp nhận rủi ro cao; trong khi Berger và DeYoung (1997), Park và Zhang (2012) chỉ ra ngân hàng nhỏ cũng chấp nhận rủi ro danh mục cao dẫn đến nợ xấu.
  • Chính sách lãi suất: Louzis và cộng sự (2010), Pestova và Mamonov (2011), Park và Zhang (2012), Castro (2012), Lê Văn Chí (2014), Nguyễn Quốc Anh (2016) kết luận lãi suất hoặc tỷ lệ lãi biên cao phản ánh chính sách tín dụng mạo hiểm, dẫn đến rủi ro tín dụng cao hơn. Trong khi Fofack (2005), Das và Ghosh (2007), Trần Hoàng Ngân và cộng sự (2014) cho rằng ngân hàng có thể chủ động điều chỉnh lãi suất ngắn hạn mà không làm tăng rủi ro.
  • Năng lực quản trị và chi phí: Berger và DeYoung (1997) đưa ra hai giả thuyết: giả thuyết quản lý tồi (Bad management hypothesis) và giả thuyết cắt giảm chi phí (Skimping hypothesis). Các nghiên cứu của Boudriga và cộng sự (2009), Louzis (2010), Salas và Saurina (2002) dùng ROA, ROE hoặc tỷ lệ chi phí hoạt động trên tổng thu nhập. Das và Ghosh (2007) mở rộng việc xem xét mạng lưới hoạt động nhưng chưa có nghiên cứu trong nước nào kiểm tra khía cạnh này.
  • Thanh khoản và dự phòng: Hasan và Wall (2004), Boudriga và cộng sự (2009) chỉ ra quỹ dự phòng lớn dễ kích thích hành vi mạo hiểm. Gabriel và Saurina (2006) phân tích cơ chế dự phòng chu kỳ và chỉ ra sự khác biệt giữa dự phòng cụ thể và dự phòng chung.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết:

  1. Đưa yếu tố biến động giá thị trường bất động sản vào mô hình kiểm định thực nghiệm tại Việt Nam.
  2. Kiểm tra ảnh hưởng của việc tăng trưởng mạng lưới chi nhánh (chỉ báo về năng lực quản trị và áp lực chi phí) đối với rủi ro tín dụng.
  3. Đánh giá tác động thực nghiệm của tỷ lệ trích lập dự phòng chung đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam.
  4. Đề xuất thước đo rủi ro tín dụng mới dựa trên độ lệch chuẩn của tỷ lệ lãi biên (SigNIM).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên các lý thuyết nền tảng sau:

  • Thuyết chu kỳ kinh tế (Real Business Cycle theory) và lý thuyết chu kỳ sống (Lawrence, 1995): giải thích sự phụ thuộc của khả năng trả nợ của người vay vào pha tăng trưởng hay suy thoái của nền kinh tế.
  • Lý thuyết "Nợ - Giảm phát" (Fisher, 1933) và thuyết "Gia tốc tài chính" (Bernanke, 1994): giải thích cơ chế đòn bẩy tài chính và ảnh hưởng của sự bùng nổ tín dụng đến biến động chu kỳ kinh tế.
  • Hiệu ứng lãi suất thực của Fisher (1933): giải thích chính sách duy trì lãi suất thực dương của ngân hàng trong điều kiện lạm phát và áp lực trả nợ của khách hàng vay vốn.
  • Lý thuyết rủi ro tiền tệ (Levi, 2005; Poudel, 2013): phân tích tác động của biến động tỷ giá hối đoái tới chi phí sản xuất, cán cân thương mại và nghĩa vụ trả nợ vay ngoại tệ.
  • Thuyết rủi ro tập trung (Basel Committee, 2002; Hồ Diệu, 2002) và thuyết thông tin bất cân xứng (Akerlof, 1970; Soros, 2008): phân tích hiện tượng ngân hàng tập trung tín dụng vào bất động sản và sự phụ thuộc quá mức vào tài sản bảo đảm là đất đai, nhà ở dẫn tới lựa chọn bất lợi khi bong bóng vỡ.
  • Giả thuyết quản lý tồi (Bad management hypothesis) và giả thuyết cắt giảm chi phí (Skimping hypothesis) của Berger và DeYoung (1997): giải thích tác động của năng lực quản trị, tỷ lệ chi phí hoạt động và việc mở rộng mạng lưới chi nhánh đối với nợ xấu tương lai.
  • Lý thuyết danh mục của Markowitz (1952), Rose (1999) và Lepetit và cộng sự (2007): cung cấp nền tảng sử dụng độ phân tán (độ lệch chuẩn) của các chỉ số tài chính (như ROA, ROE, NIM) để lượng hóa tính rủi ro và bất ổn định.
  • Khuôn mẫu hạch toán dự phòng của IMF, The Financial Soundness Indicator Guide (2005), Ngân hàng Thế giới (WB) và nghiên cứu của Gabriel và Saurina (2006): phân biệt bản chất giữa dự phòng cụ thể (dựa trên tổn thất phát sinh của từng khoản vay) và dự phòng chung (dựa trên tổn thất dự kiến trên tổng dư nợ).

Phương pháp nghiên cứu và mô hình thực nghiệm: Luận án áp dụng phương pháp định lượng với dữ liệu bảng không cân bằng của 31 ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2004 – 2015. Để hạn chế sự thiên vị trong ước lượng, tác giả tách biệt thành các mô hình kiểm định nhóm nhân tố vĩ mô và nhóm nhân tố đặc trưng ngân hàng, ước lượng bằng phương pháp GMM (Generalized Method of Moments).

Hai biến phụ thuộc đại diện cho rủi ro tín dụng gồm:

  • $LLR$: Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng dư nợ hàng năm (bao gồm cả dự phòng trích lập cho trái phiếu đặc biệt của VAMC). Tác giả chọn LLR thay vì tỷ lệ nợ xấu do các kỹ thuật giữ nguyên nhóm nợ theo Quyết định 780/QĐ-NHNN và việc bán nợ cho VAMC khiến số liệu nợ xấu công bố không phản ánh đúng thực tế.
  • $SigNIM$: Độ lệch chuẩn của tỷ lệ lãi biên ($NIM$). $NIM$ tính bằng: $$\text{NIM} = \frac{\text{Thu nhập lãi} - \text{Chi phí trả lãi}}{\text{Tài sản bình quân}}$$ Biến thiên độ lệch chuẩn của $NIM$ đo lường sự không chắc chắn và biến động tiềm ẩn của thu nhập tín dụng trên tài sản.

Các biến độc lập trong các mô hình:

  • Nhóm nhân tố vĩ mô: Tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội ($GDP$), Chỉ số giá tiêu dùng/lạm phát ($CPI$), Chỉ số tỷ giá hối đoái ($EXI$), Chỉ số giá nhà ở ($ESI$).
  • Nhóm nhân tố đặc trưng hoạt động ngân hàng: Tăng trưởng tín dụng ($LOAN$), Quy mô ngân hàng ($Log(SIZE)$), Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản ($ETA$), Lãi suất cho vay danh nghĩa/thực ($IIR$), Tỷ lệ lãi biên ($NIM$), Tỷ lệ cho vay trên tiền gửi ($LDR$), Tỷ lệ chi phí hoạt động ($OEXPR$), Tăng trưởng mạng lưới chi nhánh ($TTML$), Tỷ lệ trích lập dự phòng chung ($GPROV$).

Hệ thống mô hình thực nghiệm gồm:

  • Mô hình kiểm định vĩ mô: Mô hình $LLR1$ (biến phụ thuộc $LLR$) và Mô hình $SigNIM1$ (biến phụ thuộc $SigNIM$).
  • Mô hình kiểm định đặc trưng ngân hàng: Mô hình $LLR2$ (biến phụ thuộc $LLR$) và Mô hình $SigNIM2$ (biến phụ thuộc $SigNIM$).

Quy trình kiểm định tính vững và xử lý khuyết tật dữ liệu: Tác giả thực hiện kiểm định tính đồng thời của các biến, kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến (hệ số tương quan và VIF), kiểm định phương sai sai số thay đổi, kiểm định tự tương quan chuỗi và kiểm định hiện tượng biến nội sinh. Để kiểm tra độ tin cậy của phương pháp ước lượng GMM, luận án sử dụng kiểm định Sargan/Hansen (kiểm định J về tính hợp lệ của biến công cụ) và kiểm định Arellano – Bond ($AR(1)$, $AR(2)$ về tự tương quan của sai số).

Nguồn dữ liệu:

  • Dữ liệu vi mô: Báo cáo tài chính đã kiểm toán và Báo cáo thường niên của 31 ngân hàng thương mại Việt Nam.
  • Dữ liệu vĩ mô: Niên giám và số liệu công bố của Tổng cục Thống kê Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Mức trích lập dự phòng theo khuyến nghị của Ngân hàng Thế giới (WB) được luận án tổng hợp như sau:

Phân loại tài sản Tỷ lệ dự phòng cụ thể Tỷ lệ dự phòng chung
Nợ đủ tiêu chuẩn (Pass - Nhóm 1) 1 - 2% Tùy thuộc đặc thù mỗi quốc gia
Nợ cần chú ý (Watch - Nhóm 2) 5 - 10% Tùy thuộc đặc thù mỗi quốc gia
Nợ dưới tiêu chuẩn (Substandard - Nhóm 3) 10 - 30% Tùy thuộc đặc thù mỗi quốc gia
Nợ nghi ngờ (Doubtful - Nhóm 4) 50 - 75% Tùy thuộc đặc thù mỗi quốc gia
Nợ có khả năng mất vốn (Loss - Nhóm 5) 100% Tùy thuộc đặc thù mỗi quốc gia

Dữ liệu cán cân xuất nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 2004 – 2015 được luận án sử dụng để phân tích tác động của rủi ro tỷ giá:

Năm Giá trị xuất khẩu (GTXK - Tỷ USD) Giá trị nhập khẩu (GTNK - Tỷ USD) Cán cân XK - NK (Tỷ USD) Tỷ lệ nhập siêu (%)
2004 26,48 31,97 -5,49 21%
2005 32,45 36,76 -4,31 13%
2006 39,83 44,89 -5,06 13%
2007 48,56 62,76 -14,20 29%
2008 62,68 80,71 -18,03 29%
2009 57,10 69,95 -12,85 23%
2010 72,24 84,84 -12,60 17%
2011 96,91 106,75 -9,84 10%
2012 114,53 113,78 0,75 0%
2013 132,03 132,03 0,00 0%
2014 150,22 147,85 2,37 2%
2015 162,02 165,57 -3,55 -

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Giới thiệu

Chương mở đầu phân tích bối cảnh hội nhập quốc tế của Việt Nam từ khi gia nhập ASEAN, APEC và WTO, chỉ ra những biến động rủi ro gia tăng sau tự do hóa tài chính. Tác giả nêu bật thực trạng nợ xấu tăng cao, đạt đỉnh vào giai đoạn 2011 – 2012, kéo theo sự căng thẳng thanh khoản trong toàn hệ thống. Chương 1 xác định 3 vấn đề nghiên cứu còn bỏ ngỏ: biến động bất động sản, sự mở rộng mạng lưới hoạt động và tỷ lệ trích lập dự phòng chung 0,75%. Từ đó, tác giả thiết lập mục tiêu nghiên cứu tổng quát cùng 3 mục tiêu cụ thể, xác định đối tượng nghiên cứu là các nhân tố vĩ mô và đặc trưng ngân hàng ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại 31 ngân hàng thương mại nội địa giai đoạn 2004 – 2015. Cuối chương, tác giả tóm tắt phương pháp GMM, đóng góp khoa học, các giới hạn nghiên cứu và kết cấu 5 chương của luận án (250 trang, 18 hình vẽ, 39 bảng biểu và 101 trang phụ lục).

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước

Chương này hệ thống hóa các khái niệm về tín dụng, bản chất quan hệ tín dụng (dựa trên lòng tin, tính hoàn trả và thời hạn). Tác giả phân tích các tiêu chí đo lường rủi ro tín dụng, so sánh định nghĩa nợ xấu theo thông lệ quốc tế (IMF, BCBS, chuẩn mực IAS 39) với quy định của Việt Nam (Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN, Quyết định 18/2007/QĐ-NHNN, Thông tư 02/2013/TT-NHNN, Thông tư 09/2014/TT-NHNN). Tác giả chỉ ra hạn chế của số liệu nợ xấu tại Việt Nam do ảnh hưởng của việc đảo nợ theo Quyết định 780/QĐ-NHNN và xử lý nợ qua VAMC, từ đó lập luận việc dùng tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng ($LLR$) và độ lệch chuẩn của $NIM$ ($SigNIM$) làm thước đo thay thế. Chương 2 phân tích các lý thuyết nền: chu kỳ kinh tế, rủi ro hối đoái, rủi ro tập trung, thông tin bất cân xứng, nợ - giảm phát, gia tốc tài chính, giả thuyết quản trị tồi, khuôn mẫu dự phòng của IMF và WB. Đồng thời, tác giả tổng hợp các công trình thực nghiệm trước đây, xây dựng bảng tổng hợp 3 câu hỏi nghiên cứu và các giả thuyết kiểm định.

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu

Chương 3 trình bày chi tiết quy trình xây dựng các biến phụ thuộc ($LLR$, $SigNIM$) và các biến giải thích, biến kiểm soát thuộc nhóm vĩ mô ($GDP$, $CPI$, $EXI$, $ESI$) và nhóm đặc trưng ngân hàng ($LOAN$, $SIZE$, $ETA$, $IIR$, $NIM$, $LDR$, $OEXPR$, $TTML$, $GPROV$). Tác giả thiết lập 4 mô hình hồi quy: $LLR1$, $SigNIM1$, $LLR2$, $SigNIM2$. Dữ liệu nghiên cứu gồm 31 ngân hàng thương mại nội địa thu thập từ báo cáo kiểm toán giai đoạn 2004 – 2015 và các chỉ số kinh tế vĩ mô từ Tổng cục Thống kê. Chương này thực hiện thống kê mô tả, phân tích ma trận tương quan và kiểm định các khuyết tật của dữ liệu bảng: tính đồng thời, hiện tượng đa cộng tuyến, phương sai sai số thay đổi, tự tương quan chuỗi và biến nội sinh. Cuối cùng, chương 3 giải trình việc lựa chọn phương pháp ước lượng GMM (General Method of Moments) nhằm giải quyết hiện tượng nội sinh và kiểm định tính vững của mô hình thông qua kiểm định Sargan/Hansen (J) và kiểm định Arellano – Bond.

Chương 4: Kết quả kiểm định và thảo luận

Chương 4 báo cáo kết quả ước lượng thực nghiệm cho từng mô hình:

  • Kết quả kiểm định câu hỏi 1 (nhân tố vĩ mô qua mô hình $LLR1$ và $SigNIM1$): Kiểm định Sargan/Hansen và Arellano-Bond xác nhận mô hình đạt độ tin cậy. Kết quả chỉ ra tăng trưởng kinh tế gắn liền với sự bùng nổ của thị trường bất động sản làm gia tăng rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam do tâm lý cho vay nới lỏng tiêu chuẩn. Biến động tăng tỷ giá tác động làm gia tăng rủi ro tín dụng đối với các khoản nợ vay ngoại tệ và doanh nghiệp nhập khẩu.
  • Kết quả kiểm định câu hỏi 2 và câu hỏi 3 (nhân tố đặc trưng ngân hàng qua mô hình $LLR2$ và $SigNIM2$): Tác giả chứng minh sự tăng trưởng nhanh chóng của mạng lưới hoạt động làm gia tăng chi phí quản lý và làm suy giảm hiệu quả kiểm soát chất lượng tín dụng, dẫn đến rủi ro tín dụng tiềm ẩn tăng cao. Tỷ lệ vốn chủ sở hữu và quy mô tài sản có tác động ngược chiều đến rủi ro: ngân hàng quy mô nhỏ có xu hướng chấp nhận rủi ro cao hơn. Tỷ lệ trích lập dự phòng chung cao thể hiện vai trò là công cụ hạn chế tư tưởng mạo hiểm của ban điều hành ngân hàng.
  • Thảo luận kết quả: Tác giả so sánh kết quả tìm thấy với các nghiên cứu trước đây tại bảng 4.9, giải thích nguyên nhân phù hợp với bối cảnh đặc thù của hệ thống ngân hàng Việt Nam.

Chương 5: Kết luận, hàm ý và những đóng góp, hạn chế của luận án

Chương cuối cùng tổng hợp toàn bộ các phát hiện nghiên cứu thực nghiệm và trình bày các hàm ý chính sách:

  • Hàm ý đối với Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Duy trì tăng trưởng GDP bền vững; ổn định thị trường bất động sản nhằm tránh biến động tài sản bảo đảm; giám sát tỷ lệ cho vay trên tiền gửi ($LDR$); áp dụng tỷ lệ trích lập dự phòng chung linh hoạt theo từng nhóm ngân hàng có mức độ rủi ro khác nhau thay vì mức cố định 0,75%; kiểm soát và hạn chế việc mở rộng mạng lưới giao dịch ồ ạt.
  • Hàm ý đối với các ngân hàng thương mại: Xây dựng hệ thống dự báo và quản trị rủi ro tín dụng; tăng cường sức mạnh tài chính và vốn tự có; kiểm soát tăng trưởng tín dụng tương xứng với quy mô vốn; đa dạng hóa hoạt động để phân tán rủi ro ngoài thu nhập từ lãi; áp dụng chính sách lãi suất linh hoạt. Chương 5 cũng nêu rõ những đóng góp khoa học mới về mặt lý thuyết, phương pháp, dữ liệu và phân tích các hạn chế của đề tài.

Kết quả và những đóng góp mới

Kết quả nghiên cứu thực nghiệm của luận án đưa ra các phát hiện sau:

  1. Rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam chịu tác động tiêu cực từ tăng trưởng kinh tế khi tăng trưởng gắn liền với sự bùng nổ của thị trường bất động sản. Sự bùng nổ này kích thích tâm lý dễ dãi trong phê duyệt tín dụng và định giá tài sản bảo đảm, tạo ra nguy cơ nợ xấu lớn khi thị trường suy giảm.
  2. Sự biến động tăng của tỷ giá hối đoái tác động làm gia tăng rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại do áp lực gia tăng chi phí vốn vay ngoại tệ và gia tăng chi phí nhập khẩu của khách hàng vay vốn trong điều kiện Việt Nam nhập siêu kéo dài.
  3. Năng lực tài chính có vai trò kiềm chế rủi ro: các ngân hàng có quy mô tài sản và vốn chủ sở hữu nhỏ thường có khuynh hướng chấp nhận rủi ro và mạo hiểm cao hơn các ngân hàng có quy mô lớn.
  4. Tốc độ mở rộng mạng lưới hoạt động nhanh tác động tiêu cực làm gia tăng rủi ro tín dụng ngân hàng, xuất phát từ việc chi phí quản lý tăng cao kết hợp với trình độ nhân sự và chất lượng giám sát không theo kịp tốc độ mở rộng điểm giao dịch.
  5. Tăng trưởng tín dụng dù có mối liên hệ ngược chiều ngắn hạn với rủi ro tín dụng nhưng nếu tỷ lệ cho vay so với tiền gửi ($LDR$) vượt mức kiểm soát, áp lực thanh khoản sẽ buộc ngân hàng tăng lãi suất huy động và lãi suất cho vay, từ đó làm suy yếu khả năng hoàn trả của khách hàng.
  6. Tỷ lệ trích lập dự phòng chung đóng vai trò như một cơ chế điều tiết, kiềm chế tư tưởng mạo hiểm và hạ chuẩn cấp tín dụng của ban điều hành ngân hàng.

Những đóng góp mới của luận án:

  • Đóng góp về phương pháp nghiên cứu: Luận án là công trình thực nghiệm đầu tiên đề xuất và sử dụng thước đo Độ lệch chuẩn của tỷ lệ lãi biên ($SigNIM$) để lượng hóa rủi ro tín dụng ngân hàng bên cạnh tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng ($LLR$).
  • Đóng góp bổ sung các nhân tố mới vào mô hình nghiên cứu tại Việt Nam:
    • Bổ sung nhân tố biến động giá cả thị trường bất động sản vào mô hình rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam.
    • Bổ sung nhân tố tăng trưởng mạng lưới chi nhánh giao dịch như một biến số đại diện cho năng lực quản trị và chi phí.
    • Bổ sung và kiểm định thực nghiệm vai trò của tỷ lệ dự phòng chung ($GPROV$) đối với rủi ro tín dụng, điều mà các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam và quốc tế chưa tiếp cận độc lập.
  • Đóng góp về mặt thực tiễn: Cung cấp bằng chứng thực nghiệm giúp các cơ quan quản lý (Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước) và các ngân hàng thương mại nhận diện cơ chế truyền dẫn rủi ro, từ đó đề xuất các giải pháp kiểm soát tăng trưởng mạng lưới, điều chỉnh chính sách dự phòng chung và giám sát an toàn thanh khoản.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Luận án tự xác định các hạn chế sau:

  • Hạn chế về dữ liệu: Nghiên cứu chưa đi sâu phân tích các nhân tố cụ thể từ phía từng khách hàng vay vốn, chưa lượng hóa chi tiết trình độ chuyên môn của đội ngũ nhân viên tín dụng cũng như quy trình quản trị rủi ro nội bộ của từng ngân hàng thương mại.
  • Bỏ sót nhân tố sở hữu chéo: Một đặc thù lớn của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2004 – 2015 là cấu trúc sở hữu chéo phức tạp giữa các tổ chức tín dụng và tập đoàn kinh tế chưa được đưa vào mô hình do rào cản thông tin.
  • Biến số kinh tế vĩ mô: Do số liệu thống kê về tỷ lệ thất nghiệp tại Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu có độ tin cậy chưa cao và thiếu tính đồng nhất, luận án không đưa biến tỷ lệ thất nghiệp vào mô hình thực nghiệm như các nghiên cứu quốc tế.

Hướng nghiên cứu tiếp theo: Các công trình sau có thể mở rộng thu thập dữ liệu về cơ cấu sở hữu chéo, đánh giá chi tiết quy trình phê duyệt rủi ro tín dụng tại từng phân khúc khách hàng, và cập nhật chuỗi số liệu sau giai đoạn tái cơ cấu khi hệ thống thống kê thị trường lao động và tỷ lệ thất nghiệp được hoàn thiện.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn cho các nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý nhà nước (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tài chính): Tham khảo các kết quả thực nghiệm về tác động của tỷ lệ dự phòng chung và tỷ lệ $LDR$ để nghiên cứu thay đổi quy định trích lập dự phòng chung linh hoạt (thay vì áp dụng cứng nhắc một tỷ lệ 0,75% cho mọi ngân hàng), kiểm soát cấp phép mở rộng mạng lưới giao dịch chi nhánh, và điều tiết dòng vốn tín dụng chảy vào lĩnh vực bất động sản.
  • Ban điều hành các ngân hàng thương mại: Tham khảo mô hình phân tích chi phí quản lý gắn liền với tốc độ mở rộng mạng lưới điểm giao dịch; nhận diện nguy cơ chấp nhận rủi ro khi quy mô vốn còn hạn chế; xây dựng khung lãi suất cho vay linh hoạt tránh gây áp lực nợ xấu lên khách hàng.
  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng: Tham khảo phương pháp sử dụng mô hình GMM để xử lý hiện tượng nội sinh trong dữ liệu bảng ngân hàng; tham khảo phương pháp đo lường rủi ro tín dụng mới qua biến độ lệch chuẩn tỷ lệ lãi biên ($SigNIM$) và cách thức xây dựng các biến đặc thù thị trường tài chính Việt Nam tại Chương 3 và Chương 4.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tại sao luận án không sử dụng tỷ lệ nợ xấu công bố để đo lường rủi ro tín dụng? Tác giả không sử dụng tỷ lệ nợ xấu chính thức vì trong giai đoạn nghiên cứu (đặc biệt từ năm 2012 trở đi), các ngân hàng thương mại Việt Nam áp dụng Quyết định 780/QĐ-NHNN cho phép cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ, cùng với cơ chế chuyển nợ xấu sang VAMC từ cuối năm 2014. Những biện pháp kỹ thuật này làm sai lệch số liệu nợ xấu trên sổ sách (ví dụ ngày 31/5/2012 số liệu tự báo cáo là 4,47%, trong khi thanh tra Ngân hàng Nhà nước ghi nhận 8,6% và Fitch Ratings ước tính 15,65%). Do đó, tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng dư nợ ($LLR$) gồm cả dự phòng trái phiếu VAMC phản ánh trung thực hơn quy mô tài sản bị suy yếu.

  2. Thước đo rủi ro tín dụng $SigNIM$ được xây dựng trên cơ sở lý thuyết nào? $SigNIM$ là độ lệch chuẩn của tỷ lệ lãi biên ($NIM$). Thước đo này kế thừa nền tảng lý thuyết danh mục của Markowitz (1952) cùng các nghiên cứu của Rose (1999) và Lepetit và cộng sự (2007) về việc sử dụng độ phân tán (độ lệch chuẩn) của các chỉ số sinh lời ($ROA$, $ROE$) để đo lường rủi ro ngân hàng. Tỷ lệ lãi biên biến động lớn phản ánh tính không chắc chắn trong thu nhập tín dụng và hàm ý ngân hàng đang theo đuổi các chính sách tín dụng rủi ro cao.

  3. Biến động thị trường bất động sản tác động tới rủi ro tín dụng ngân hàng Việt Nam theo cơ chế nào? Biến động thị trường bất động sản tác động qua hai kênh: rủi ro tập trung và thông tin bất cân xứng. Tại Việt Nam, dư nợ kinh doanh bất động sản chiếm khoảng 8,85% tổng dư nợ (cuối năm 2014 đạt 313.000 tỷ đồng) và tổng dư nợ bảo đảm bằng bất động sản vượt 50%. Khi thị trường bùng nổ, ngân hàng dễ dãi hạ chuẩn cấp tín dụng dựa trên giá trị tài sản thế chấp tăng ảo. Khi thị trường đóng băng và giá giảm sâu (như đợt suy giảm 50 - 70% năm 2008), các doanh nghiệp địa ốc mất khả năng thanh toán, tài sản thế chấp bị giảm giá trị và thanh khoản đóng băng, gây tổn thất trực tiếp cho ngân hàng.

  4. Việc mở rộng mạng lưới hoạt động của ngân hàng tác động như thế nào đến rủi ro tín dụng? Mở rộng mạng lưới chi nhánh làm tăng điểm giao dịch quá nhanh (tăng gần 62% giai đoạn 2005 – 2008) làm gia tăng chi phí thuê địa điểm, mua sắm tài sản và tuyển dụng nhân sự. Dưới áp lực chi phí hoạt động cao trong khi biên lãi giảm, các nhà điều hành có xu hướng hạ chuẩn cấp tín dụng để tăng trưởng dư nợ bù đắp chi phí. Mặt khác, việc tuyển dụng ồ ạt nhân sự thiếu kinh nghiệm dẫn đến năng lực thẩm định và giám sát tín dụng yếu kém (phù hợp giả thuyết quản lý tồi của Berger và DeYoung), dẫn đến nợ xấu tăng cao trong tương lai.

  5. Tỷ lệ trích lập dự phòng chung có ý nghĩa thực nghiệm như thế nào trong luận án? Theo quy định Việt Nam, tỷ lệ trích lập dự phòng chung là 0,75% trên tổng dư nợ nhóm 1 đến nhóm 4. Kết quả ước lượng thực nghiệm cho thấy tỷ lệ dự phòng chung cao có tác dụng kiềm chế hành vi cấp tín dụng mạo hiểm của nhà quản trị ngân hàng, đóng vai trò như tấm đệm vốn cấp 2 bảo vệ ngân hàng trước tổn thất tín dụng tiềm tàng.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Bá Trực đã cung cấp bức tranh thực nghiệm về các nhân tố vĩ mô và đặc trưng ngân hàng ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của 31 ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2004 – 2015. Bằng phương pháp ước lượng GMM và việc đưa vào các thước đo mới như độ lệch chuẩn tỷ lệ lãi biên ($SigNIM$), luận án chứng minh sự bùng nổ bất động sản, việc mở rộng mạng lưới giao dịch quá nhanh và quy mô tài chính hạn chế là những nhân tố thúc đẩy rủi ro tín dụng, trong khi dự phòng chung đóng vai trò kiềm chế hành vi mạo hiểm. Các kết quả này cung cấp luận cứ thực chứng quan trọng để Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại hoàn thiện chính sách giám sát an toàn vi mô và vĩ mô trong hệ thống ngân hàng Việt Nam.