MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Người trưởng thành hiện nay làm việc trong nền kinh tế mang tính cạnh tranh cao cùng những yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường lao động, dẫn đến gặp phải nhiều vấn đề sức khỏe tâm thần liên quan đến công việc. Thống kê từ Văn phòng Tổ chức Lao động Quốc tế tại Việt Nam cho thấy năm 2018 có 31,4% NLĐ làm việc nhiều hơn 48 giờ mỗi tuần (ILO, 2019, tr. Với nhịp độ của công việc bị chi phối bởi các phương tiện liên lạc mọi lúc, mọi nơi và cạnh tranh toàn cầu gắt gao, ranh giới giữa công việc và cuộc sống riêng tư trở nên khó nhận ra.
Sự cân bằng giữa làm việc và thư giãn, công việc và đời sống cá nhân ngày càng khó đạt được. Tình trạng quá tải công việc, những áp lực xoay quanh cấp trên, đồng nghiệp và cả thời gian hoàn thành công việc có nguy cơ tạo nên căng thẳng, lo âu, trầm cảm ở nhân viên (Bashir, 2010; ILO, 2016). Bên cạnh các khó khăn tâm lý kể trên, KSNN cũng là một vấn đề phát sinh từ tình trạng căng thẳng mãn tính tại nơi làm việc, không được chủ thể quản lý thành công. Trong Bảng phân loại quốc tế về bệnh tật lần thứ 11 (International Classification of diseases - ICD-11), Tổ chức Y tế thế giới (WHO) xác định KSNN là một hiện tượng nghề nghiệp, thuộc nhóm các vấn đề liên quan đến việc làm hoặc thất nghiệp.
Việc phân loại này cho thấy KSNN là một vấn đề đặc thù bởi những khó khăn liên quan đến công việc, phân biệt với các tình trạng bệnh lý có một số biểu hiện gần như rối loạn lo âu, trầm cảm, rối loạn stress cấp tính (WHO, 2019). Gia tăng số giờ đi trễ hoặc số ngày nghỉ phép đột xuất và làm suy giảm hiệu suất công việc là những hệ quả tiêu biểu cho NLĐ và cả tổ chức mà KSNN tạo ra (Brian, Ryan, 2010). Cá nhân KSNN sớm có khả năng thay đổi công việc hoặc thậm chí thay đổi nghề nghiệp nhiều hơn so với những nhân viên khác (Cary, C. Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng KSNN được xác định theo ba nhóm chính gồm các đặc điểm của tổ chức, các đặc điểm thuộc về đặc thù nghề nghiệp hoặc các đặc điểm thuộc về cá nhân.
Ở cấp độ tổ chức, các công trình nghiên cứu cho thấy có sự ảnh hưởng của bầu không khí tâm lý nơi làm việc đến tình trạng kiệt sức của NLĐ (Pretty, G. Nơi làm việc, hoặc nhà quản lý đặt kỳ vọng 2 nhân viên duy trì hiệu suất làm việc trong khi lại giảm đi các nguồn lực và chính sách đãi ngộ làm cho tình trạng kiệt sức của NLĐ nghiêm trọng hơn (Shirom, A. Đối với cấp độ nghề nghiệp, yếu tố dự đoán cho tình trạng kiệt sức của nhân viên là sự tương tác dày đặc giữa nhân viên với khách hàng và các yêu cầu cao của công việc (Cordes, C. So với các yếu tố thuộc về tổ chức hay công việc, đặc điểm cá nhân có sự ổn định tương đối tốt hơn.
Và vì vậy, việc dựa vào đặc điểm cá nhân để dự báo tình trạng kiệt sức sẽ dẫn đến những phát hiện rõ ràng và chắc chắn hơn so với các yếu tố ảnh hưởng bên ngoài. Một số nghiên cứu trên thế giới tìm hiểu về nguyên nhân dẫn đến KSNN, ở cấp độ cá nhân, đã chỉ ra sự tác động của ĐĐNC đến tình trạng cạn kiệt về cảm xúc và hiệu quả làm việc của nhân viên. Biểu hiện kiệt sức nghề nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc phản ánh cách mà ĐĐNC ảnh hưởng đến các hành vi thích ứng của chủ thể đối với công việc (Rothmann, S. Tại Việt Nam, vấn đề KSNN cũng bắt đầu được quan tâm trong lĩnh vực tâm lý học.
Tuy nhiên, các công trình khoa học đang dừng lại ở mức độ tổng quan lý thuyết về biểu hiện, nguyên nhân, hậu quả trên cơ sở các nghiên cứu về KSNN trên thế giới (Nguyễn Thị Hồng Loan, 2012). Thực trạng này cho thấy sự cần thiết của các nghiên cứu xác định mức độ biểu hiện và các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng KSNN trong NLĐ Việt Nam. Để có được cái nhìn khoa học và toàn diện về các biểu hiện KSNN ở NLĐ Việt Nam nói chung, người trưởng thành nói riêng; cũng như ảnh hưởng của ĐĐNC đến tình trạng KSNN, đề tài “Mối quan hệ giữa biểu hiện kiệt sức nghề nghiệp và đặc điểm nhân cách của người lao động” được xác lập. Mục đích nghiên cứu Xác định mối quan hệ giữa biểu hiện KSNN và ĐĐNC của NLĐ.
Đối tượng và khách thể nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Mối quan hệ giữa biểu hiện KSNN và ĐĐNC của NLĐ; - Khách thể nghiên cứu: 669 NLĐ trong độ tuổi từ 25-40. Giả thuyết nghiên cứu - Có tương quan thuận giữa biểu hiện KSNN và tính nhiễu tâm (neuroticism) ở NLĐ; 3 - Có tương quan nghịch giữa biểu hiện KSNN và tính hướng ngoại (extraversion), tính dễ chấp nhận (agreeableness), tính cởi mở (openness), tính tận tâm (conscientiousness) ở NLĐ. Nhiệm vụ nghiên cứu - Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài: KSNN, nhân cách, mối quan hệ giữa KSNN và ĐĐNC, NLĐ, các yếu tố tâm lý của NLĐ; - Khảo sát thực trạng biểu hiện KSNN và ĐĐNC của NLĐ, từ đó xác định mối quan hệ giữa biểu hiện KSNN và ĐĐNC. Giới hạn nghiên cứu - Về nội dung nghiên cứu: Các biểu hiện KSNN ở khách thể được tiếp cận thông qua tự đánh giá, không mang ý nghĩa chẩn đoán.
Đồng thời, các ĐĐNC của khách thể được tiếp cận theo mô hình nhân cách năm thành tố Big-Five, cũng thông qua tự đánh giá. - Về khách thể nghiên cứu: Đề tài thực hiện khảo sát ở NLĐ đáp ứng các tiêu chí: (1) trong độ tuổi từ 25-40, (2) không thay đổi công việc trong vòng 01 năm, (3) không trải qua các sang chấn tâm lý trong vòng 01 năm, (4) không có tiền sử hoặc đang trong quá trình điều trị các rối loạn tâm thần. Phương pháp nghiên cứu 7.1 Phương pháp luận nghiên cứu 7. Quan điểm hệ thống - cấu trúc KSNN là một cấu trúc tâm lý phức tạp, các biểu hiện KSNN được thể hiện qua nhiều mặt có liên quan chặt chẽ với nhau.
Do đó vấn đề này cần được đo lường dựa trên việc khảo sát các mặt biểu hiện một cách cụ thể, toàn diện. Tương tự, các ĐĐNC cũng là một hệ thống chỉnh thể các thành phần, vì vậy việc định lượng được thực hiện thông qua định lượng từng thành tố, cụ thể trong giới hạn của đề tài là năm thành tố theo mô hình Big-Five 7. Quan điểm lịch sử Đề tài xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu dựa trên tiền đề lịch sử nghiên cứu về KSNN, ĐĐNC và mối quan hệ giữa chúng. Các công cụ nghiên cứu của đề tài có sự kế thừa thang đo từ những nghiên cứu đi trước, tuy nhiên có sự xây dựng lại và điều chỉnh theo bối cảnh tại Việt Nam.
Quan điểm thực tiễn Đề tài tìm hiểu mối quan hệ giữa biểu hiện KSNN và ĐĐNC NLĐ thông qua việc khảo sát thực tiễn thực trạng biểu hiện KSNN và thực trạng ĐĐNC của khách thể. Phương pháp nghiên cứu 7. Nhóm Phương pháp nghiên cứu lý luận Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa những vấn đề lý luận trong tài liệu, văn bản, công trình nghiên cứu để xây dựng cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu liên quan đến KSNN, ĐĐNC, mối quan hệ giữa KSNN và ĐĐNC, ĐĐNC NLĐ. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn - Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi Nhằm đáp ứng mục đích nghiên cứu và các giới hạn nghiên cứu của đề tài, bảng hỏi được xây dựng với ba phần: (1) Sàng lọc rối nhiễu, (2) Biểu hiện KSNN, (3) ĐĐNC.
Để đảm bảo các khách thể tham gia khảo sát không trải qua các sang chấn trong vòng một năm, một danh sách các sự kiện có nguy cơ gây sang chấn hoặc khó khăn để thích ứng được liệt kê, trích từ Bảng kiểm sang chấn ở người trưởng thành (Trauma Checklist Adult) đề xuất bởi Trung tâm Sang chấn và Lạm dụng Harborview. Nếu khách thể trải qua một trong các sự kiện được nêu trong vòng một năm, khách thể không thực hiện các phần còn lại của bảng hỏi. Để tìm hiểu các biểu hiện KSNN ở mẫu khách thể nghiên cứu, đề tài tiến hành xây dựng thang đo KSNN dựa trên cấu trúc ba thành phần được đề xuất bởi Maslach (1993) gồm cạn kiệt về cảm xúc, sự tách biệt cá nhân trong công việc và các mối quan hệ làm việc, suy giảm thành tích cá nhân. Đối với các ĐĐNC của khách thể, đề tài sử dụng bảng kiểm kê nhân cách theo mô hình nhân cách năm thành tố Big-Five (Big-Five Inventory – BFI-2) bản rút gọn của hai tác giả Soto và John (2017), bản dịch tiếng Việt bởi Bùi Thị Thanh Huyền.
Công cụ gồm 60 mục, mỗi thành tố trong mô hình nhân cách được xác định qua 12 mục. Bảng kiểm được công khai bản tiếng Việt và cho phép sử dụng rộng rãi với mục đích học tập, nghiên cứu. 5 - Phương pháp phỏng vấn Bảng phỏng vấn được xây dựng với mục đích tìm hiểu cách thức lý giải và phản ứng của khách thể đối với các sự kiện xảy ra trong công việc. Khách thể phỏng vấn được lựa chọn trong các khách thể đã tham gia khảo sát, gồm hai nhóm.
Nhóm 1 gồm 10 khách thể có mức độ biểu hiện KSNN cao hoặc rất cao, đồng thời có một trong các ĐĐNC: tính hướng ngoại thấp, tính dễ chấp nhận thấp, sự tận tâm thấp, tính cởi mở thấp, tính nhiễu tâm cao. Nhóm 2 gồm 10 khách thể có mức độ biểu hiện KSNN thấp hoặc rất thấp, đồng thời có một trong các ĐĐNC: tính hướng ngoại cao, tính dễ chấp nhận cao, sự tận tâm cao, tính cởi mở cao, tính nhiễu tâm thấp. Phương pháp thống kê toán học Phần mềm SPSS 24.0 được sử dụng để xử lý số liệu thu được từ phương pháp điều tra bằng bảng hỏi. Các thông số thống kê bao gồm điểm trung bình, độ lệch chuẩn, kiểm định trung bình và hệ số tương quan.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA BIỂU HIỆN KIỆT SỨC NGHỀ NGHIỆP VÀ ĐẶC ĐIỂM NHÂN CÁCH CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG 1. Tổng quan các nghiên cứu về kiệt sức nghề nghiệp và đặc điểm nhân cách 1. Một số nghiên cứu trên thế giới a. Một số nghiên cứu trên thế giới về kiệt sức nghề nghiệp Trên thế giới, khái niệm KSNN được quan tâm nghiên cứu từ những năm 1970, xuất phát từ các nhà tâm lý học Mỹ, với vai trò là một trải nghiệm liên quan đến công việc.