Chương 1 GIÁO DỤC ĐÀO TẠO VÀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1. Một số vấn đề chung về giáo dục đào tạo ở Việt Nam 1. Quá trình hình thành nền giáo dục đào tạo Nhân dân Việt Nam có truyền thống hiếu học và một nền giáo dục lâu đời. Từ khi cộng đồng người Việt xuất hiện đã lưu truyền việc giáo dục kiến thức để làm ra của cải vật chất, mưu sinh, dạy nhau tổ chức đời sống xã hội và giáo dục đạo dức nhân sinh tạo nên nhân cách con người Việt Nam.
* Giáo dục Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 Năm 938, dân tộc Việt Nam khôi phục nền độc lập, thống nhất quốc gia, xây dựng nhà nước phong kiến. Nền giáo dục hình thành và phát triển do nhà nước phong kiến chi phối trải qua hơn 10 thế kỷ. Tuy mỗi triều đại có những yêu cầu và cách thức riêng nhưng cơ bản là giống nhau về cơ cấu, nội dung, cách tổ chức việc dạy và học, thi hành chế độ khoa cử. Các triều đại thường chú trọng việc xây dựng một trường đại học ở kinh đô, đặt các giáo chức ở các phủ, lộ để trông coi việc học hành.
Tại các trường lớp tư gia, có các ông đồ ngồi dạy trẻ. Các ông đồ được người dân tôn kính, quý trọng bởi họ là những nhà nho, các nhà khoa bảng. Nội dung dạy học từ lớp tư gia đến các trường lớp ở lộ, phủ, kinh đô đều lấy tứ thư, ngũ kinh làm sách giáo khoa. Các triều đại Lý, Trần, Lê, Nguyễn tổ chức các khoa thi (thi hương, thi hội, thi đình hay thi tiến sĩ) về cơ bản là giống nhau.
Từ năm 1075, nhà Lý mở khoa thi Minh Kinh đầu tiên, đến năm 1919 nhà Nguyễn tổ chức khoa thi cuối cùng. Chế độ khoa cử của nền giáo dục phong kiến Việt Nam trải qua 844 năm với trên 180 khoá thi và hơn 2900 người đỗ từ tiến sĩ tới trạng nguyên. 9 Trải qua gần một nghìn năm lịch sử, nền giáo dục phong kiến Việt Nam đã đào tạo nhiều thế hệ tri thức tinh hoa của dân tộc, đồng thời cung cấp lực lượng chủ yếu cho hệ thống quan chức quản lý nhà nước và xã hội. Nền giáo dục ấy đã đào tạo nên nhiều nhà bác học, nhà văn, nhà viết sử, nhà giáo, thầy thuốc có danh tiếng cùng những thế hệ tri thức giữ vai trò quan trọng trong việc xây dựng, vun đắp nền văn hiến Việt Nam.
Một nền giáo dục phong kiến coi trọng luân lý, lễ nghĩa góp phần cơ bản xây dựng nền tảng đạo đức xã hội. Tuy nhiên, ý thức tồn cổ của Nho gia đã cản trở những tư tưởng cải cách, kìm hãm sự phát triển của xã hội, phương pháp học khuôn sáo, giáo điều, nặng về tầm chương, trích cú, lý thuyết suông, chạy theo hư danh… là những hạn chế của nền giáo dục phong kiến Việt Nam. Cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp xâm chiếm nước ta. Nền giáo dục phong kiến nước ta bị thay đổi toàn bộ, chữ Hán thay bằng chữ quốc ngữ và chữ Pháp.
Từ nội dung chương trình sách giáo khoa đến cách học, cách dạy, cách tổ chức các kỳ thi thay đổi, hệ thống các trường từ sơ cấp đến tiểu học, trung học phổ thông đến các trường chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học dần dần được hình thành. Thực dân Pháp coi nền giáo dục phong kiến là công cụ quan trọng để chinh phục thuộc địa. Chúng mở các trường nhằm đào tạo một số công chức cho bộ máy cai trị, các cơ sở kinh doanh… Số trường học ít và số người đi học cũng ngày càng ít hơn. Trong khoảng từ năm 1931 đến 1940 cứ 100 người dân thì chưa đến 3 người được đi học và hầu hết chỉ đến bậc tiểu học và vỡ lòng, trên 3 vạn dân mới có 1 sinh viên (cao đẳng, đại học).
Mặc dù đã thực hiện một số chính sách giáo dục nô dịch với thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt nhưng thực dân Pháp không đạt được kết quả mong muốn. Phần lớn những người Việt Nam được Pháp đào tạo vẫn có ý thức dân tộc, một số không nhỏ có tinh thần yêu nước chống Pháp, trở thành chiến sỹ cách mạng và đảng viên cộng sản. 10 Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo cuộc đấu tranh của nhân dân chống thực dân Pháp, giáo dục được coi là bộ phận của Cách mạng Việt Nam. Tư tưởng dân tộc, khoa học, đại chúng là những nguyên tắc chỉ đạo việc xây dựng nền giáo dục Cách mạng Việt Nam.
* Giáo dục Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay Từ khi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, nền giáo dục được hình thành trên cơ sở tiếp quản và cải tổ nền giáo dục Pháp thuộc. Nền giáo dục mới được tiến hành trên 3 nguyên tắc: dân tộc, khoa học, đại chúng với mục tiêu cao cả là: tôn trọng nhân phẩm, rèn luyện chí khí, phát triển tài năng, đề cao tinh thần khoa học, học tập và giảng dạy bằng tiếng Việt từ các trường phổ thông đến đại học. Từ tháng 9/1945, cả nước cùng khai giảng năm học mới. Nhân ngày khai trường, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho học sinh, trong đó, Người chỉ rõ: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đệp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với cáccường quốc năm châu hay không, chính là một phần lớn ở công học tập cuả các châu”.
Khi thực dân Pháp quay lại xâm chiếm nước ta một lần nữa, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Các trường học ở thành phố di chuyển về nông thôn và các khu an toàn. Phong rào xoá mù chữ vần được duy trì. Đến năm 1950 cả nước có trên 10 triệu người được xoá mù chữ và đã có 10 tỉnh, 80 huyện, 1424 xã, 7248 thôn đạt tiêu chuẩn xoá nạn mù chữ.
Năm 1950 Trung ương Đảng và Chính phủ quyết định tiến hành cải cách giáo dục: nền giáo dục của dân, do dân, vì dân được thiết lập trên 3 nguyên tắc: dân tộc, khoa học, đại chúng. Phương châm giáo dục là học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn. Đến năm học 1953-1954 ở vùng giải phóng đã có 3673 trường cấp I, 397 trường cấp II, 34 trường cấp III, 5 trường trung học chuyên nghiệp và 4 trường đại học. Sau năm 1954, nền giáo dục dân chủ nhân dân được xây dựng trong 11 kháng chiến chuyển hướng mạnh mẽ nhằm đáp ứng yêu cầu mới của nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai ở miền Bắc là bước đi quan trọng trong quá trình xây dựng nền giáo dục XHCN. Hệ thống giáo dục mới được hình thành không chỉ ở giáo dục phổ thông mà ở cả giáo dục đại học và chuyên nghiệp. Nội dung giáo dục mới mang tính chất toàn diện trên bốn mặt: đức, trí, thể, mỹ. Phương châm giáo dục là liên hệ lý luận với thực tiễn, gắn nhà trường với đời sống xã hội.
Do cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, các trường học và các cơ sở giáo dục vừa tiến hành sơ tán vừa tiếp tục duy trì việc dạy và học ở tất cả các lớp học, các cấp học, các ngành học. Có thể nói, ngành giáo dục nước ta trong thời kỳ này đã giữ vững được quy mô, chất lượng giáo dục và đạt được nhiều kỳ tích lớn. Năm 1975 đất nước được hoàn toàn giải phóng. Nhiệm vụ cấp bách của ngành giáo dục là xây dựng một nền giáo dục thống nhất theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Giáo dục miền Nam được sự hỗ trợ sức người, sức của từ miền Bắc đã nhanh chóng khôi phục và trở lại hoạt động bình thường. Đến năm 1976, việc đào tạo sau đại học được triển khai, đến năm 1980 đã có 42 trường đại học và viện nghiên cứu khoa học được nhà nước quyết định làm cơ sở đào tạo sau đại học. Tháng 1 năm 1979, cuộc cách mạng lần thứ ba về giáo dục được triển khai. Hệ thống giáo dục 12 năm được thiết kế thống nhất trong toàn quốc.
Các bộ sách giáo khoa mới theo tinh thần và nội dung cải cách được thực hiện mỗi năm một lớp bắt đầu từ năm học 1981- 1982. Mạng lưới các trường đại học, cao đẳng, các trường trung cấp chuyên nghiệp ở trung ương và địa phương được cải cách từ mục tiêu đào tạo đến nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy. Tuy nhiên những khó khăn của nền kinh tế - xã hội nói chung và 12 bản thân ngành giáo dục nói riêng đã tác động trực tiếp đến quá trình phát triển của ngành, làm cho hệ thống giáo dục ngày càng xuống cấp nghiêm trọng. Trước tình hình đó, Bộ Giáo dục đã xây dựng và triển khai chương trình phát triển giáo dục 3 năm (1987- 1990).
Sau 3 năm đổi mới, ngành giáo dục đã dần tháo gỡ khó khăn, khắc phục tình trạng yếu kém và thu được những kết quả đáng khích lệ. Năm 1991, Quốc hội khoá VIII kỳ họp thứ 9 đã thông qua luật Giáo dục tiểu học. Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ tư (khoá VII) đã đề ra Nghị quyết về “Tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo”. Nghị quyết nêu lên 4 quan điểm chỉ đạo phát triển GD - ĐT trong đó nhấn mạnh GD - ĐT cùng với khoa học, công nghệ được xem là quốc sách hàng đầu.
Tháng 12 năm 1996, Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII tiếp tục ra nghị quyết chuyên đề về GD - ĐT. Đại hội IX của Đảng (tháng 4/2001) đã coi phát triển GD - ĐT là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp CNH, HĐH là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng tưởng kinh tế nhanh và bền vững. Phát triển khoa học công nghệ cùng với phát triển GD - ĐT là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Đặc biệt, việc “tạo bước chuyển mạnh về phát triển nguồn nhân lực, trọng tâm là GD - ĐT, khoa học và công nghệ” [25, tr.219] đã được xác định là một trong ba khâu đột phá then chốt để làm chuyển động toàn bộ tình hình kinh tế - xã hội.