Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu Trình bày cơ sở hình thành đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa của đề tài và kết cấu của đề tài. 6 Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Trong chương này tác giả sẽ trình bày tổng quát các lý thuyết về sự hài lòng, lòng trung thành của khách hàng cá nhân, phân loại sự hài lòng của khách hàng cá nhân, mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ, sự hài lòng, lòng trung thành của khách hàng cá nhân, các công trình nghiên cứu trong nước và nước ngoài có liên quan đến đề tài. Từ đó, tác giả đưa ra mô hình nghiên cứu đề xuất, xây dựng các giả thuyết, tiến hành nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Tác giả trình bày cụ thể phương pháp nghiên cứu của đề tài, tác giả cho thấy được phương pháp nghiên cứu, cũng như các vấn đề cần thiết trong việc thu thập dữ liệu từ bảng khảo sát và các bước phân tích như: Thiết kế bảng hỏi, các bước điều tra, thống kê mô tả dữ liệu và mô hình hồi quy.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu Tác giả thực hiện phân tích mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ, sự hài lòng và lòng trung thành của khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TNHH MTV Shinhan Việt Nam trên địa bàn Thành Phố Hồ Chí Minh. Cụ thể, tác giả trình bày các kết quả nghiên cứu sau khi phân tích số liệu bằng phân tích SEM thông qua phần mềm SPSS 20 và AMOS 20. Ngoài ra, tác giả còn đánh giá thực trạng chất lượng dịch vụ, sự hài lòng và lòng trung thành của khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TNHH MTV Shinhan Việt Nam trên địa bàn Thành Phố Hồ Chí Minh qua nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ NH trong giai đoạn từ năm 2020 – 2022. Tìm ra hạn chế, nguyên nhân của hạn chế làm cơ sở cho tác giả đề xuất hàm ý quản trị ở Chương 5 của luận văn.
Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị Tác giả dựa trên kết quả nghiên cứu tại chương 4, đề xuất một số hàm ý quản trị về chất lượng dịch vụ nhằm nâng cao sự hài lòng cũng như cải thiện lòng trung thành của khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TNHH MTV Shinhan Việt Nam trên địa bàn Thành Phố Hồ Chí Minh. Chương 5, tác giả trình bày những hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo. 7 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Lý thuyết nền về sự hài lòng, thỏa mãn của khách hàng 2.1 Mô hình chỉ số hài lòng khách hàng của Mỹ Mô hình chỉ số hài lòng khách hàng được ứng dụng để đo lường sự hài lòng của khách hàng đối với các ngành, các doanh nghiệp ở nhiều quốc gia phát triển trên thế giới. “Chỉ số hài lòng của khách hàng bao gồm các biến số đặc trưng cho sản phẩm, dịch vụ.
Xung quanh các biến số này là hệ thống các mối quan hệ nhân quả xuất phát từ những biến số khởi tạo như sự mong đợi (expectations) của khách hàng, hình ảnh (image) doanh nghiệp và sản phẩm, chất lượng cảm nhận (perceived quality) và giá trị cảm nhận (perceived quality) về sản phẩm hoặc dịch vụ kèm theo đến các biến số kết quả của sự hài lòng như sự trung thành (customer loyalty) hay sự than phiền của khách hàng (customer complaints)” (Anderson, W. Mô hình chỉ số hài lòng khách hàng của Mỹ (Nguồn: Anderson, W., 2000) Chỉ số hài lòng khách hàng Mỹ (ACSI) là một chỉ số kinh tế dựa trên việc lập mô hình các đánh giá của khách hàng về chất lượng hàng hóa và dịch vụ được mua ở Mỹ và được sản xuất bởi cả các công ty trong và ngoài nước với thị phần khá lớn ở Mỹ. Chỉ số hài lòng khách hàng Mỹ được phát triển bởi Trung tâm nghiên cứu chất lượng quốc gia (NQRC) tại trường Kinh doanh Stephen M. Ross thuộc đại học Michigan, dẫn đầu là giáo sư Claes Fornell.
8 Chỉ số hài lòng khách hàng Mỹ sử dụng các cuộc phỏng vấn khách hàng như là dữ liệu đầu vào cho một mô hình toán kinh tế đa phương trình. Mô hình ACSI là Sự mong đợi (Expectation) Sự trung thành (Loyalty) Sự than phiền (Complaint) Giá trị cảm nhận (Perceived value) Sự hài lòng của khách hàng (SI) Chất lượng cảm nhận (Perceived quality) một mô hình với các chỉ số ảnh hưởng đến sự hài lòng bên phía tay trái (sự mong đợi, chất lượng được cảm nhận và giá trị được cảm nhận), sự hài lòng (ACSI) ở giữa, và kết quả của sự hài lòng bên tay phải (sự than phiền, sự trung thành bao gồm sự duy trì khách hàng và chấp nhận giá cao hơn).2 Mô hình chỉ số hài lòng khách hàng của các quốc gia Châu Âu Trong mô hình chỉ số hài lòng của Mỹ (ACSI), “giá trị cảm nhận chịu tác động bởi chất lượng cảm nhận và sự mong đợi của khách hàng. Khi đó, sự mong đợi của khách hàng có tác động trực tiếp đến chất lượng cảm nhận. Trên thực tế, khi mong đợi càng cao, có thể tiêu chuẩn về chất lượng cảm nhận của khách hàng đối với sản phẩm càng cao hoặc ngược lại” (Anderson, E.
Do vậy, yêu cầu về chất lượng sản phẩm và dịch vụ cung cấp cho khách hàng cần phải đảm bảo trên cơ sở sự hài lòng của họ. Sự hài lòng của khách hàng được tạo thành trên cơ sở chất lượng cảm nhận, sự mong đợi và giá trị cảm nhận, nếu chất lượng và giá trị cảm nhận cao hơn sự mong đợi sẽ tạo nên lòng trung thành đối với khách hàng, trường hợp ngược lại, đó là sự phàn nàn hay sự than phiền về sản phẩm mà họ tiêu dùng.2 Mô hình chỉ số hài lòng khách hàng các quốc gia EU (Nguồn: Anderson, E., 1994) 9 Mô hình chỉ số hài lòng Châu Âu (ECSI) có một số khác biệt nhất định. So với ACSI, hình ảnh của sản phẩm, thương hiệu có tác động trực tiếp đến sự mong đợi của khách hàng. Khi đó, sự hài lòng của khách hàng là sự tác động tổng hòa của 4 nhân tố hình ảnh, giá trị cảm nhận, chất lượng cảm nhận về cả sản phẩm hữu hình và vô hình.
Thông thường, chỉ số ACSI thường áp dụng cho lĩnh vực công còn chỉ số ECSI thường ứng dụng đo lường các sản phẩm, các ngành. Điểm mạnh của cách tiếp cận này là nó làm dịch chuyển ngay tức khắc kinh nghiệm tiêu dùng, tạo điều kiện cho việc nghiên cứu mối quan hệ nhân quả đối giữa các yếu tố cấu thành sự hài lòng và sự trung thành của khách hàng. Do vậy, mục tiêu đầu tiên của việc tiếp cận theo cấu trúc CSI là việc giải thích sự trung thành của khách hàng đối với một sản phẩm nói riêng hay một doanh nghiệp, một quốc gia nói chung thông qua chỉ số hài lòng khách hàng khi chịu sự tác động trực tiếp hoặc gián tiếp bởi hình ảnh, sự mong đợi, chất lượng cảm nhận (về sản phẩm hoặc dịch vụ) và giá trị cảm nhận đối với sản phẩm và dịch vụ đó (Anderson, Fornell & Lehmann, 1994).2 Các khái niệm nghiên cứu chính 2.1 Khái niệm về chất lượng dịch vụ Chất lượng dịch vụ đã nhận được sự chú ý lớn trong nghiên cứu tiếp thị trong vài thập kỷ qua (Izogo & Ogba, 2015; Seth & cộng sự, 2004). Chất lượng dịch vụ có liên quan chặt chẽ và thường bị nhầm lẫn với sự hài lòng của khách hàng (Hussain & cộng sự, 2015).
Nó đề cập đến đánh giá của khách hàng về sự xuất sắc hoặc ưu việt của dịch vụ tổ chức cung cấp (Zeithaml, 1988). Chất lượng dịch vụ đề cập đến một ấn tượng chung về đánh giá của khách hàng liên quan đến dịch vụ được cung cấp bởi tổ chức (Hussain & cộng sự, 2015; Wang, 2010). Cạnh tranh toàn cầu gia tăng đã dẫn đến nhiều cách thức mà các tổ chức tìm cách duy trì lợi thế cạnh tranh. Một trong những chiến lược là cung cấp dịch vụ chất lượng cao không thể so sánh với các đối thủ cạnh tranh (Hu & cộng sự, 2009; Hussain & cộng sự, 2015; Kim, 2011; Wu & cộng sự, 2015; Zameer & cộng sự, 2015).
Kuo và cộng sự (2009) cho rằng chìa khóa để đạt được lợi thế cạnh tranh và thành công chung của tổ chức là nâng cao chất lượng dịch vụ. Tương tự, sự 10 thành công của các doanh nghiệp dựa trên dịch vụ là nhờ vào việc cung cấp chất lượng dịch vụ vượt trội (Thaichon & cộng sự, 2014). Theo cách nói chung, Chất lượng dịch vụ đề cập đến mức độ xuất sắc của hiệu suất dịch vụ (Zeithaml & cộng sự, 2011). Do đó, dựa trên nhận thức của khách hàng về việc dịch vụ phù hợp với nhu cầu và mong đợi của họ như thế nào và họ so sánh dịch vụ thực tế với dịch vụ mong đợi (Ennew & Waite, 2013).
Liên quan đến quan điểm này, nhiều tác giả đã giải thích chất lượng dịch vụ như một dạng thái độ của khách hàng, kết quả từ việc so sánh sự mong đợi của người tiêu dùng đối với các dịch vụ được cung cấp với hiệu suất của họ (Tan & cộng sự, 2010).2 Các thành phần của chất lượng dịch vụ Chất lượng dịch vụ là một cấu trúc đa chiều bao gồm năm thành phần, đó là mức độ tin cậy, sự đảm bảo, phương tiện hữu hình, mức độ đồng cảm và mức độ đáp ứng (Lovelock & Wirtz, 2011; Wu & cộng sự, 2015). Tuy nhiên, một cách đo lường chất lượng dịch vụ được sử dụng rộng rãi nhất là mô hình SERVQUAL được phát triển bởi Parasuraman và các tác giả khác (1985, 1988). SERVQUAL đo lường chất lượng dịch vụ thông qua việc so sánh sự mong đợi của khách hàng trước một dịch vụ và nhận thức của khách hàng về dịch vụ thực sự được chuyển giao (Parasuraman & cộng sự, 1985). Đặc biệt, SERVQUAL là thang đo đa mục được xây dựng để đánh giá sự nhận thức của khách hàng về chất lượng dịch vụ trong ngành dịch vụ và bán lẻ.
Thang đo phân tích khái niệm chất lượng dịch vụ thành 5 nhân tố sau: Mức độ tin cậy, mức độ đáp ứng, sự đảm bảo, mức độ đồng cảm, phương tiện hữu hình. Mức độ tin cậy (Reliability) Mức độ tin cậy liên quan đến việc cung cấp dịch vụ cho khách hàng như đã hứa theo cách đáng tin cậy và chính xác (Lovelock & Wirtz, 2011). Tổ chức sẽ gây dựng nên niềm tin của khách hàng bằng cách hứa hẹn sẽ làm một điều gì đó đối với khách hàng. Khi khách hàng gặp trở ngại thì tổ chức luôn quan tâm thực sự giải quyết vấn đề đó.