Chương 1: Giới thiệu đề tài. Trong chương này, tác giả sẽ trình bày vì sao chọn đề tài này để làm luận văn, mục tiêu nghiên cứu, các nội dung cần nghiên cứu và tác giả sẽ giới thiệu sơ lược về phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của luận văn. Chương 2: Cơ sở lý luận khoa học và các nghiên cứu trước đây trên thế giới về mối quan hệ giữa cấu trúc vốn, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và cơ cấu sở hữu. Ở nội dung này, tác giả sẽ nêu tổng quát các lý thuyết có liên quan đến luận văn và trình bày tóm tắt những kết quả nghiên cứu đã được thực hiện trên thế giới có liên quan đến nội dung của luận văn.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Trong phần này tôi sẽ trình bày cách thức thực hiện nghiên cứu, trình bày cách đo lường biến độc lập và biến phụ thuộc trong nghiên cứu, trình bày đặc trưng của mô 123doc 6 hình nghiên cứu, đưa ra các giả định để kiểm định và nguồn của dữ liệu để thực hiện nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Nội dung chương này, tác giả đưa ra các kết quả của nghiên cứu thực nghiệm về vấn đề nghiên cứu ở đây là sự tác động lẫn nhau của cấu trúc vốn, hiệu quả hoạt động và cơ cấu sở hữu của doanh nghiệp sản xuất trên sàn chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2012-2015, đồng thời thảo luận các kết quả thực nghiệm nhận được Chương 5: Kết luận. Cuối cùng, Chương 5, tác giả tổng hợp lại các vấn đề đã nghiên cứu, nhận xét một lần nữa kết quả thực nghiệm từ mô hình nghiên cứu, từ đó đưa những hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu mở rộng của đề tài.
123doc 7 CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2.1 Lý thuyết về cấu trúc vốn 2.1 Lý thuyết của Franco Modigliani và Merton Miller (MM) về cấu trúc vốn Theo quan điểm truyền thống về cấu trúc vốn cho rằng khi doanh nghiệp sử dụng nợ, thuận lợi sẽ nhiều hơn bất lợi. Chi phí nợ thấp, kết hợp với lợi ích về thuế sẽ làm cho chi phí sử dụng vốn bình quân giảm khi nợ tăng. Tuy nhiên, khi tỷ lệ giữa nợ và vốn chủ sở hữu gia tăng, do tác động của tỷ lệ vốn vay trên tổng nguồn vốn khiến cho các chủ sở hữu phải gia tăng lợi nhuận yêu cầu của họ (nghĩa là chi phí vốn chủ sở hữu tăng).
Ở mức tỷ lệ nợ và vốn chủ sở hữu tăng cao, chi phí sử dụng nợ cũng tăng bởi vì chi phí kiệt quệ tài chính sẽ gia tăng hay nguy cơ phái sản tăng cao. Do đó, ở mức tỷ số giữa nợ và vốn chủ sở hữu cao hơn, chi phí sử dụng vốn bình quân sẽ tăng. Trái với quan điểm truyền thống, Modilligani và Miller (1958) đã tìm hiểu xem chi phí vốn tăng hay giảm khi một doanh nghiệp tăng hay giảm nợ. Để chứng minh một lý thuyết khả thi, Modilligani và Miller (MM) đã đưa ra một số những giả định đơn giản hoá, phổ biến trong lý thuyết về tài chính: họ giả định là thị trường vốn là hoàn hảo, vì vậy sẽ không có các chi phí giao dịch và lãi suất cho vay bằng lãi suất đi vay; môi trường kinh doanh không đánh thuế và rủi ro được tính dựa vào sự không ổn định của các dòng tiền.
Nếu thị trường vốn là hoàn hảo, MM tranh luận rằng các doanh nghiệp có cơ hội kinh doanh giống nhau và tiền lãi mong đợi hàng năm giống nhau phải có giá trị doanh nghiệp như nhau bất chấp cấu trúc vốn bởi vì giá trị của một doanh nghiệp phụ thuộc vào giá trị hiện tại hoạt động của nó, không phải dựa trên cách thức cấp vốn. Từ đây, có thể rút ra rằng nếu tất cả những công ty như vậy có tỷ suất sinh lợi mong đợi như nhau và giá trị giống nhau cũng phải có chi phí sử dụng vốn bằng nhau ở mọi mức độ tỷ lệ giữa nợ và vốn chủ sở hữu. Mặc dù những giả định về thị trường vốn hoàn hảo là không có thực, tuy nhiên, có 2 giả thiết cần được nhấn mạnh và có tác động đáng kể đến kết quả. Giả định là không có việc đánh thuế: đây là vấn đề quan trọng và một trong những thuận lợi then chốt của nợ là việc giảm nhẹ thuế cho những chi tiêu tiền lãi.
Rủi ro trong lý thuyết của MM được tính toán hoàn toàn bởi tính biến đổi của các dòng tiền. Họ bỏ qua khả năng các dòng tiền có thể dừng vì vỡ nợ. Đây là một vấn đề đáng kể khác với lý thuyết này nếu nợ cao. Đưa ra các giả định này có nghĩa là chỉ có một thuận lợi của việc vay tiền (nợ rẻ hơn và ít rủi ro cho nhà đầu tư) và một bất lợi (chi phí vốn chủ sở hữu tăng cùng với nợ vì tỷ lệ vốn vay so với tổng vốn) Modigliani và Miler chỉ ra là những tác động này cân bằng một cách chính xác.
Việc sử dụng nợ mang đến cho chủ sở hữu tỷ suất lợi tức cao hơn, nhưng lợi tức cao hơn này chính xác là những gì họ bù đắp cho nguy cơ tăng lên từ tỷ lệ vốn vay so với tổng vốn. Với các giả thuyết trên, dẫn đến các phương trình cho lý thuyết của MM Vg = Vu: Tổng giá trị của doanh nghiệp sử dụng nợ bằng tổng giá trị của doanh nghiệp không sử dụng nợ. Năm 1963, Modilligani và Miller đưa ra một nghiên cứu tiếp theo với việc loại bỏ giả thiết về thuế thu nhập doanh nghiệp. Theo MM, với thuế thu nhập doanh nghiệp, việc sử dụng nợ sẽ làm tăng giá trị của doanh nghiệp.
Vì chi phí lãi vay là chi phí hợp lý được khấu trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp, do đó mà một phần thu nhập của doanh nghiệp có sử dụng nợ được chuyển được chuyển cho các nhà đầu tư theo phương trình: Vg = Vu + T.D: giá trị của doanh nghiệp sử dụng nợ bằng giá trị của doanh nghiệp không sử dụng nợ cộng với khoản lợi từ việc sử dụng nợ. Trong đó, D là tổng số nợ sử dụng, T là thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp, T.D là khoản lợi từ việc sử dụng nợ. Như vậy, theo mô hình thuế MM (1963) sử dụng nợ sẽ làm gia tăng giá trị của một doanh nghiệp.2 Lý thuyết đánh đổi Được phát triển bởi Kraus & Litzenberger (1973) cho rằng nhà quản trị của doanh nghiệp có thể xác định được một cấu trúc vốn tối ưu nhằm tối đa hóa giá trị công ty 123doc 9 dựa trên sự đánh đổi giữa lợi ích và chi phí của việc sử dụng nợ. Lợi ích từ nợ đó là lợi ích từ lá chắn thuế nhờ lãi vay.
Còn chi phí tiềm tàng từ việc sử dụng nợ là chi phí kiệt quệ tài chính (Financial Distress Cost) bao gồm các chi phí như chi phí trả cho luật sư giải quyết phá sản, chi phí trả cho kế toán và nhân viên quản trị công ty trong quá trình chờ phá sản, chi phí do mất khách hàng và nhà cung cấp hay chi phí đại diện… Theo quan điểm của lý thuyết đánh đổi, nhà quản trị có thể tối ưu cấu trúc vốn của mình bằng cách xác định điểm mà tại đó với mỗi lượng nợ tăng thêm vừa đủ để bù đắp cho sự gia tăng của chi phí kiệt quệ tài chính dự tính trong điều kiện các kế hoạch đầu tư và tài sản của doanh nghiệp là không đổi. Lý thuyết đánh đổi đã giải thích được mặt hạn chế của lý thuyết M&M về chi phí kiệt quệ tài chính của doanh nghiệp vay nợ. Ngoài ra, lý thuyết cũng cho thấy được sự khác biệt trong cấu trúc vốn giữa nhiều ngành có mức sử dụng tài sản cố định hữu hình khác nhau.3 Lý thuyết trật tự phân hạng Thuyết trật tự phân hạng thị trường được nghiên cứu khởi đầu bởi Myers và Majluf (1984) dự đoán không có cơ cấu nợ trên vốn cổ phần mục tiêu rõ ràng. Lý thuyết này khởi nguồn từ thông tin bất cân xứng tức là giả thiết rằng ban quản trị nắm rõ các tiềm năng cũng như rủi ro và các giá trị của doanh nghiệp hơn các nhà đầu tư bên ngoài.
do đó, sự bất cân xứng về thông tin này đã tác động đến việc lựa chọn giữa nguồn vốn bên trong doanh nghiệp và nguồn vốn được tài trợ từ bên ngoài, và giữa việc phát hành mới chứng khoán nợ và chứng khoán vốn cổ phần. Kết quả là dẫn tới một thứ tự phân hạng các khoản tài trợ của doanh nghiệp như sau: Tài trợ bằng vốn bên trong doanh nghiệp, chủ yếu là lợi nhuận giữ lại hay quỹ đầu tư phát triển; Căn cứ các cơ hội đầu tư để điều chỉnh tỷ lệ chi trả cổ tức mục tiêu, nhằm tránh việc thay đổi tăng giảm đột ngột trong cổ tức; Khi dòng tiền ở doanh nghiệp lớn hơn chi tiêu vốn của doanh nghiệp, doanh nghiệp thanh toán hết nợ vay hay đầu tư vào thị trường chứng khoán để kiếm lời. Và thực 123doc 10 hiện ngược lại nếu dòng tiền ở doanh nghiệp nhỏ hơn chi tiêu vốn. Đây gọi là chính sách dòng tiền linh hoạt; Khi sử dụng nguồn tài trợ từ bên ngoài doanh nghiệp sẽ bắt đầu từ việc vay nợ, sau đó đến trái phiếu chuyển đổi và cuối cùng là phát hành cổ phiếu.
Vì ban quản trị tin tưởng cổ phiếu được đánh giá cao hơn là đánh giá thấp, họ có thể phát hành chứng khoán ra bên ngoài, thị trường này chấp nhận cổ phiếu được đánh giá cao hơn là đánh giá thấp, do đó hoạt động này sẽ mang đến những thông tin không thuận lợi cho các nhà đầu tư. Nếu ban quản trị đi theo những thị trường vốn này, có khả năng họ phát sinh nợ nhiều hơn nếu như họ tin là cổ phiếu của họ được đánh giá thấp và sẽ sinh ra vốn cổ phần nếu như họ cho rằng cổ phiếu của họ được đánh giá cao. Do đó, Những quyết định về kết cấu vốn không dựa trên tỷ lệ Nợ/Tài sản tối ưu mà được quyết định từ việc phân hạng thị trường. Trước hết, các nhà quản trị sẽ dự định sử dụng nguồn tài chính nội bộ, tiếp đến có thể phát hành tiền cho vay, và cuối cùng là phát hành vốn cổ phần.
Mục tiêu của lý thuyết này là không tìm ra kết cấu vốn tối ưu mà tập trung vào những quyết định tài chính sắp tới.4 Lý thuyết về chi phí đại diện Chí phí đại diện là loại chi phí phát sinh khi một tổ chức gặp phải vấn đề về sự thiếu đồng thuận giữa mục đích của người quản trị và người sở hữu và vấn đề thông tin bất Cân xứng.