Chương 1: Cơ sở lý luận về mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam 1. Một số khái niệm cơ bản được sử dụng trong đề tài 1.1 Dân số và giới tính Dân số là một tập hợp người (hay cộng đồng người) sinh sống trong một quốc gia, một địa phương hay một vùng lãnh thổ nhất định, được xác định tại một thời điểm cụ thể (Tổng cục DSKHHGĐ, 2010) Dân số là dân cư được xem xét, nghiên cứu ở góc độ quy mô và cơ cấu. Như vậy khi nói đến dân số cũng tức là nói đến quy mô, chất lượng, sự phân bố và cơ cấu, trong đó có cơ cấu dân số theo giới tính khi sinh và những thành tố tạo nên sụ biến động của nó như sinh, chết, di dân (chuyển đến, chuyển đi). Như vậy, có thể nói dân số theo nghĩa rộng bao gồm lĩnh vực: Quy mô, cơ cấu (trong đó có cơ cấu theo giới tính khi sinh), phân bổ, chất lượng dân số (Tổng cục DSKHHGĐ, 2010).
Giới tính: là sự khác biệt giữa nam và nữ về mặt sinh học. Sự khác biệt này chủ yếu liên quan đến sinh đẻ và di truyền nòi giống, con người khi sinh ra đã có những đặc điểm về giới tính (nam hay nữ). Các đặc điểm nay không thể thay đổi được trừ khi phẫu thuật chuyển ododir giới tính so với giới tính gốc của mình. Giới tính khác với khái niệm giới, đó là những đặc điểm tính cách, cách ứng xử, vai trò và trách nhiệm của nam và nữ mà xã hội quy định.
Các đặc điểm này được hình thành từ cuộc sống, chịu ảnh hưởng của gia đình, bạn bè, tôn giáo, văn hoá, nhà trường, xã hội.các đặc điểm này có thể thay đổi (Tổng cục DSKHHGĐ, 2010). Mức sinh: phản ánh mức độ sinh sản của dân số, nó biểu thị số trẻ em sinh sống mà một phụ nữ có được trong suốt cuộc đời sinh sản của mình. Mức sinh phụ 9 thuộc vào rất nhiều yếu tố sinh học, tự nhiên và xã hội (Nguyễn Mạnh Tiến, voer.2 Cơ cấu dân số và cơ cấu dân số theo giới tính Cơ cấu dân số là tổng số dân được phân loại theo giới tính, độ tuổi, dân tộc, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân và các đặc trưng khác (khoản 3, điều 3 Pháp lệnh dân số, 2003). Cơ cấu dân số: bên cạnh những đặc điểm chung của con người là cùng chung sống trong một lãnh thổ, họ lại có những đặc điểm riêng về giới tính và độ tuổi.Do vậy, để hiểu biết chi tiết hơn về dân số, chúng ta cần chia dân số thành những vấn đề khác nhau theo tiêu thức nào đó, sự phân chia theo các nhóm gọi là cơ cấu dân số.
(Nguyễn Mạnh Tiến, voer. Cơ cấu dân số theo độ tuổi: đây là phân chia dân số của một lãnh thổ thành những nhóm dân số có tuổi hoặc khoảng tuổi khác nhau tại một thời điểm nào đó. (Nguyễn Mạnh Tiến, voer. Cơ cấu dân số theo giới tính: nếu chia toàn bộ dân số nam và dân số nữ thì ta có cơ cấu dân số theo giới tính.
Các chỉ tiêu thường dùng là tỷ lệ hoặc tỷ số giới tính. Nếu ký hiệu Pm và Pf lần lượt là dân số nam và dân số nữ thì tỷ số giới tính (SR) được xác định như sau SR= Pm /Pf x 100 (Nguyễn Mạnh Tiến, voer. Với cạnh tiếp cận như vậy, cơ cấu dân số là sự phân chia tổng thể dân số thành các nhóm, các bộ phận theo một chiều hoặc nhiều tiêu thức (đặc trưng nào đó của dân số). Hai đặc trưng cơ bản trong dân số là đặc trưng theo tuổi và giới tính.
Đó chính là những đặc trưng sinh học thông thường đối với mỗi con người; có ý nghĩa quan trọng trong dân số, thể hiện các đặc tính tự nhiên của dân số đó. Cơ cấu tuổi và giới tính chiếm vị trí đặc biệt quan trong phân loại cơ cấu dân số. Bên cạnh đó, giới tính có vai trò quyết định cân bằng sinh thái của cộng đồng trong các mối liên hệ xã hội và kinh tế. 10 Nếu phân chia toàn bộ dân số thành hai bộ phận là dân số nam và dân số nữ thì ta có cơ cấu dân số theo giới tính.
Trong nghiên cứu dân số, tiêu thức phân chia này có ý nghĩa hết sức quan trọng vì giới tính có vai trò quyết định cân bằng sinh thái của cộng đồng trong các mối quan hệ xã hội và kinh tế mật thiết. Tìm hiểu về cơ cấu dân số theo giới tính chính là tìm hiểu sự phân bổ giữa số lượng nam giới và phụ nữ trong một tập hợp người. Nếu phân bố này cân bằng (số nam và số nữ hay tỷ lệ nam nữ là cân bằng nhau), những vấn đề về cơ cấu hôn nhân gia đình như nam giới không lấy được vợ do thiếu hụt phụ nữ hay phụ nữ không lấy được chồng do thiếu nam giới hoặc những vấn đề xã hội như mua bán phụ nữ và trẻ em sẽ được giảm thiểu. Cơ cấu giới tính khi sinh: chúng ta có thể xem xét cơ cấu dân số chung của một địa phương (xã/phường/thị trấn; huyện/quận; tỉnh/thành phố; quốc gia) hoặc cơ cấu giới tính cho dân số ở từng độ tuổi khác nhau.
Đối với nhóm trẻ mới sinh ra (0- 1 tuổi) hàng năm trong dân số của một địa phương, phân chia tổng số trẻ này thành hai bộ phận: các bé trai sinh ra sống và các bé gái sinh ra sống thì có được co cấu giới tính trẻ em hay nói gọn là cơ cấu giới tính khi sinh [33, tr.3 Tỷ số giới tính khi sinh Tỉ số giới tính khi sinh được tính bằng số trẻ em trai sinh ra trên 100 trẻ em gái trong năm. Thông thường cứ 100 bé gái được sinh ra sẽ có tương ứng khoảng 103 đến 106 bé trai sinh ra, và tỷ số giới tính khi sinh (TSGTKS) ổn định qua thời gian và không gian giữa các châu lục, quốc gia, khu vực và chủng tộc người. Bất kỳ sự thay đổi đáng kể nào của TSGTKS so với mức sinh học bình thường đều phản ánh những can thiệp có chủ ý ở một mức độ nào đó. Thước đo trên cho thấy bất cứ 100 bé gái được sinh ra sẽ có bao nhiêu bé trai được sinh ra.
Theo tự nhiên sinh học, do xác suất thụ thai cho thai nhi mang giới tính nữ là khoảng 49 và xác suất thụ thai nhi mang giới tính nam là khoảng 51, tỷ số giới tính khi sinh bình thường ở mức 103-106 và không có sự khác biệt giữa các địa phương, các chủng tộc, dân tộc, các nhóm dân số khác nhau. Nếu tỷ số giới tính khi 11 sinh tăng hoặc thấp hơn mức sinh học bình thường sẽ góp phần trực tiếp làm tăng tỷ số giới tính chung trong tổng dân số của một địa phương.4 Một số khái niệm khác Mất cân bằng giới tính khi sinh: Thông thường cứ 100 bé gái được sinh ra sẽ có tương ứng khoảng 103-106 bé trai sinh ra, mất cân bằng giới tính khi sinh (MCBGTKS) xảy ra khi tỷ số giới tính khi sinh lớn hơn 106 hoặc nhỏ hơn 104 (UNFPA). Lựa chọn giới tính khi sinh: Lựa chọn giới tính (LCGT) là các thực hành nhằm tăng xác suất thụ thai, hoặc các biện pháp đảm bảo bào thai chỉ mang giới tính theo mong muốn đã xác định trước để sinh ra một đứa trẻ mang giới tính nam hoặc nữ theo mong đợi của gia đình. Hiện nay ở Việt Nam, lựa chọn giới tính tập trung chủ yếu là tìm cách để có thể mang thai bé trai và loại bỏ thai nhi gái ở qui mô rộng đã gây MCBGTKS giữa nam và nữ (UNFPA).
Cơ sở lý luận Trong đề tài này tác giả sử dụng lý thuyết sự lựa chọn hợp lý (hay còn gọi là thuyết lựa chọn duy lý) trong xã hội học có nguồn gốc từ triết học, kinh tế học và nhân học vào thế kỷ VIII, XIX. Thuyết này gắn với các đại diện tiêu biểu bao gồm: James Coleman, Alfred Marschal, Gorger Homans, Jonh Elster, Max Weber, George Simmel, George Homans, Peter Blau. Một số nhà triết học đã cho rằng bản chất của con người là vị kỉ, luôn tìm đến sự hài lòng, sự thoả mãn và lãng tránh nỗi khổ đau. Một số nhà kinh tế học cổ điển thì từng nhấn mạnh vai trò động lực cơ bản của động co kinh tế, lợi nhuận khi con người phải đưa ra quyết định lựa chọn hành động.
Luận điểm gốc: Thuyết sự lựa chọn duy lý dựa vào tiền đề cho rằng con người luôn hành động một cách có chủ đích, có suy nghĩ để lựa chọn và sử dụng các nguồn lực một cách duy lý nhằm đạt được kết quả tối đa với chi phí tối thiểu. Tức là trước khi 12 quyết định một hành động nào đó con người luôn đặt lên bàn cân để đo đong đếm giữa chi phí và lợi nhuận mang lại. Nếu chi phí ngang bằng hoặc nhỏ hơn lợi nhuận thì sẽ thực hiện hành động và nếu chi phí lớn hơn lợi nhuận thì sẽ không hành động. Thuật ngữ lựa chọn được dùng để nhấn mạnh sự cân nhắc, tính toán để quyết định sử dụng loại phương tiện hay cách thức tối ưu trong số những điều kiện hay cách thức để đạt được mục tiêu trong điều kiện khan hiếm các nguồn lực.
Phạm vi của mục đích ở đây không chỉ có vật chất (lãi, lợi nhuận, thu nhập) mà còn là yếu tố lợi ích cho xã hội và tinh thần. Định đề này được Homans diễn đạt theo kiểu định lý toán học như sau: khi lựa chọn trong các số hành động có thể có, cá nhân sẽ chọn hành động nào mà họ cho là tích của xác suất thành công của hành động đó với giá trị mà phần thưởng của hành động đó là lớn nhất (C=[P+V]=max). Tức là Homans đã nhấn mạnh tới đặc trưng thứ hai của lựa chọn hợp lý đó là quá trình tối ưu hoá. Thuyết hành động hợp lý không phải chỉ giải thích hành động xã hội trên cấp độ vi mô- hành động cá nhân, mặc dù nó còn có tên gọi thuyết hành động lựa chọn duy lý.
Thuyết này được xây dựng, phát triển để xem xét hoạt động chức năng của các hệ thống và thiết chế kinh tế xã hội, tức là trên cấp độ vĩ mô. Trên thực tế thuyết sự lựa chọn duy lý với các biến thể của nó chủ yếu được triển khai trên cấp độ từ hành động xã hội của cá nhân đến chức năng hệ thống xã hội và mối tương tác giữa cá nhân, nhóm, thiết chế và hệ thống xã hội.