Mối Liên Hệ Giữa Thứ Tự Sinh Và Mất Cân Bằng Giới Tính Khi Sinh Ở Nước Ta Hiện Nay

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu mối liên hệ giữa thứ tự sinh và mất cân bằng giới tính trước khi sinh ở nước ta hiện nay, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất giải pháp

Trường đại học

Học viện Khoa học xã hội

Chuyên ngành

Xã hội học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2019

87
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Mất Cân Bằng Giới Tính Khi Sinh Hiện Nay

Tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh (MCBGTKS) ở Việt Nam đang là một vấn đề được quan tâm. Tỷ số giới tính khi sinh (TSGTKS) là số bé trai trên 100 bé gái. TSGTKS lý tưởng là 103-106. Việt Nam ghi nhận TSGTKS lần đầu năm 1999. Năm 2000, TSGTKS ở mức bình thường (106,2). Đến năm 2007, con số này tăng lên 111,6 và duy trì ở mức cao. Sự khác biệt về TSGTKS giữa các vùng miền rất lớn. Đồng bằng sông Hồng có TSGTKS cao nhất, 120,7 vào năm 2015. Đề án Kiểm soát MCBGTKS 2016-2020 chỉ rõ các tỉnh có MCBGTKS cao ở Đồng bằng sông Hồng. Các nghiên cứu gần đây cũng chỉ ra sự khác biệt vùng miền về tỷ lệ giới tính khi sinh. Trình độ học vấn và kinh tế của người mẹ cũng liên quan đến TSGTKS. Nhóm bà mẹ có học vấn và kinh tế cao có TSGTKS cao hơn. TSGTKS tăng từ 107,4 ở nhóm không biết chữ lên 113,9 ở nhóm có trình độ cao đẳng trở lên.

1.1. Định Nghĩa Mất Cân Bằng Giới Tính Khi Sinh MCBGTKS

MCBGTKS xảy ra khi tỷ số giới tính khi sinh (TSGTKS) vượt quá ngưỡng tự nhiên. Theo UNFPA, TSGTKS bình thường là 103-106 bé trai trên 100 bé gái. Khi TSGTKS lớn hơn 106 hoặc nhỏ hơn 104, đó là dấu hiệu của mất cân bằng giới tính khi sinh. Tình trạng này thường do can thiệp lựa chọn giới tính trước sinh. Điều này dẫn đến sự thiếu hụt hoặc dư thừa số lượng nam hoặc nữ trong dân số. MCBGTKS gây ra nhiều hệ lụy về xã hội, kinh tế và nhân khẩu học.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Nghiên Cứu Về Thứ Tự Sinh Con

Nghiên cứu về thứ tự sinh con giúp hiểu rõ hơn về động cơ lựa chọn giới tính. Các gia đình có thể ưu tiên con trai ở những lần sinh sau nếu chưa có con trai. Điều này dẫn đến TSGTKS cao hơn ở các lần sinh thứ hai, thứ ba. Phân tích thứ tự sinh giúp xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sinh con. Các yếu tố này bao gồm văn hóa, kinh tế, và trình độ học vấn. Nghiên cứu này cung cấp thông tin quan trọng cho các chính sách dân số. Các chính sách này nhằm giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh và thúc đẩy bình đẳng giới.

II. Thực Trạng Mất Cân Bằng Giới Tính Khi Sinh Tại Việt Nam

Sự khác biệt về TSGTKS giữa các vùng miền cho thấy sự can thiệp của con người. Điều này phản ánh mong muốn có con trai. Các gia đình sử dụng các biện pháp can thiệp lựa chọn giới tính thai nhi. Các dự báo dân số cho thấy TSGTKS mất cân bằng kéo dài sẽ gây hậu quả lớn. Nếu TSGTKS không trở về mức bình thường, sẽ có sự chênh lệch lớn về số lượng nam và nữ. Điều này dẫn đến các vấn đề về hôn nhân. Các hậu quả khác là áp lực kết hôn sớm cho nữ giới, tăng buôn bán phụ nữ. Tình trạng bạo lực giới có thể tăng lên nếu tỷ lệ nam giới tăng cao. TSGTKS ở Việt Nam khác biệt theo thứ tự sinh con.

2.1. Tỷ Lệ Giới Tính Khi Sinh Theo Vùng Miền

TSGTKS khác nhau giữa các vùng sinh thái và tỉnh thành. Điều này cho thấy sự can thiệp có chủ đích của con người. Đồng bằng sông Hồng có TSGTKS cao nhất cả nước. Các tỉnh như Quảng Ninh, Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh có TSGTKS cao. Sự khác biệt này phản ánh sự khác biệt về văn hóa và kinh tế. Các vùng có kinh tế phát triển hơn có xu hướng TSGTKS cao hơn. Điều này có thể do khả năng tiếp cận các dịch vụ siêu âm thai nhinạo phá thai lựa chọn giới tính.

2.2. Ảnh Hưởng Của Trình Độ Học Vấn Và Kinh Tế

Trình độ học vấn và điều kiện kinh tế của người mẹ có liên quan đến TSGTKS. Nhóm bà mẹ có trình độ học vấn và kinh tế cao có TSGTKS cao hơn. TSGTKS tăng từ 107,4 ở nhóm không biết chữ lên 113,9 ở nhóm có trình độ cao đẳng trở lên. Điều này cho thấy sự lựa chọn giới tính có thể phổ biến hơn ở các gia đình có điều kiện. Họ có khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế và công nghệ hỗ trợ sinh sản. Tuy nhiên, điều này cũng có thể phản ánh sự thay đổi về quan niệm về giới ở các nhóm dân cư khác nhau.

III. Mối Liên Hệ Giữa Thứ Tự Sinh Và Mất Cân Bằng Giới Tính

TSGTKS của Việt Nam cao ngay từ lần sinh đầu tiên. Ở nhiều quốc gia, TSGTKS tăng nhanh vào những lần sinh sau. Ở Việt Nam, TSGTKS đã cao ngay trong lần sinh đầu: 110,2. Lần sinh thứ hai: 109. Lần sinh thứ ba trở lên (16% tổng số trẻ): 115,5. Một số cặp vợ chồng đã lựa chọn giới tính ngay từ lần mang thai đầu. TSGTKS rất cao ở lần sinh cuối cùng. Trước đây, người ta sinh nhiều con cho đến khi có con trai. Trong nhân khẩu học, đây là “quy luật dừng”. Yếu tố giới tính quyết định việc dừng sinh đẻ. Mức sinh cao, tổng tỷ suất sinh khoảng 6 con, chỉ 1,5% phụ nữ không có con trai.

3.1. Quy Luật Dừng Và Lựa Chọn Giới Tính

“Quy luật dừng” là hiện tượng các cặp vợ chồng tiếp tục sinh con cho đến khi có con trai. Điều này dẫn đến TSGTKS cao ở lần sinh cuối cùng. Từ đầu những năm 2000, mức sinh giảm nhanh. Việc tiếp cận dễ dàng các kỹ thuật chẩn đoán giới tính trước sinh cũng ảnh hưởng. Một số cặp vợ chồng chủ động tìm kiếm các kỹ thuật chẩn đoán giới tính trước sinh ngay từ lần sinh thứ nhất. Nếu chưa được như mong muốn, họ sẽ tìm kiếm dịch vụ trong những lần có thai sau. TSGTKS trong lần sinh thứ ba trở lên ở nhóm các bà mẹ chưa có con trai lên tới 130.

3.2. Tác Động Của Văn Hóa Á Đông Và Định Kiến Giới

Ảnh hưởng của văn hóa Á Đôngđịnh kiến giới đóng vai trò quan trọng. Tâm lý thích con trai hơn con gái vẫn còn phổ biến. Áp lực sinh con trai nối dõi tông đường tạo ra động lực lựa chọn giới tính. Điều này đặc biệt đúng ở các vùng nông thôn và các gia đình có truyền thống gia trưởng. Các chính sách dân số trước đây, như chính sách một con, cũng có thể góp phần làm gia tăng tình trạng lựa chọn giới tính.

IV. Giải Pháp Giảm Thiểu Mất Cân Bằng Giới Tính Khi Sinh

Việt Nam đã rút kinh nghiệm từ các nước châu Á khác. Các nước này đang chịu hậu quả của mất cân bằng giới tính khi sinh. Việt Nam học hỏi các chính sách đối phó từ các quốc gia này. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn đối mặt với các yếu tố nguy cơ. Mức sinh giảm, tâm lý thích con trai và sự sẵn có công nghệ chẩn đoán giới tính là những thách thức lớn. Mặc dù Việt Nam cấm lựa chọn giới tính trước khi sinh, việc này vẫn diễn ra. Điều tra Dân số năm 2007 cho thấy 63,5% bà mẹ biết giới tính con trước khi sinh. Lựa chọn giới tính là một lý do gây ra tỷ số giới tính cao.

4.1. Tuyên Truyền Nâng Cao Nhận Thức Về Bình Đẳng Giới

Tuyên truyền nâng cao nhận thức về bình đẳng giới là rất quan trọng. Cần thay đổi quan niệm về vai trò của con trai và con gái trong gia đình và xã hội. Các chiến dịch truyền thông nên tập trung vào lợi ích của việc có con gái. Cần nhấn mạnh rằng con gái cũng có thể thành công và đóng góp cho gia đình và xã hội. Giáo dục về bình đẳng giới nên được đưa vào chương trình học ở các cấp học.

4.2. Thực Thi Nghiêm Các Quy Định Pháp Luật

Cần thực thi nghiêm các quy định pháp luật về cấm lựa chọn giới tính trước sinh. Mức phạt cần đủ sức răn đe đối với các hành vi vi phạm. Cần tăng cường kiểm tra, giám sát các cơ sở y tế cung cấp dịch vụ siêu âm thai nhi. Cần có cơ chế bảo vệ người tố cáo các hành vi vi phạm. Đồng thời, cần đảm bảo quyền tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ.

V. Tác Động Kinh Tế Xã Hội Của Mất Cân Bằng Giới Tính Khi Sinh

Mất cân bằng giới tính gây ra nhiều hệ lụy kinh tế xã hội. Tình trạng “thừa nam” có thể dẫn đến khó khăn trong hôn nhân. Nam giới có thể gặp khó khăn trong việc tìm kiếm bạn đời. Điều này có thể dẫn đến các vấn đề xã hội như tảo hôn, buôn bán phụ nữ, và bạo lực giới. Sự thiếu hụt phụ nữ có thể ảnh hưởng đến lực lượng lao động. Nó cũng có thể ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế. Cần có các nghiên cứu sâu hơn về tác động kinh tế xã hội của MCBGTKS.

5.1. Khó Khăn Trong Tìm Kiếm Bạn Đời Và Hôn Nhân

Tình trạng thừa nam giới gây ra khó khăn trong tìm kiếm bạn đời. Áp lực kết hôn sớm có thể gia tăng đối với phụ nữ. Điều này có thể dẫn đến các cuộc hôn nhân không hạnh phúc. Tình trạng buôn bán phụ nữ có thể gia tăng do thiếu hụt phụ nữ. Cần có các biện pháp hỗ trợ nam giới tìm kiếm bạn đời. Cần tăng cường giáo dục về tình yêu và hôn nhân.

5.2. Ảnh Hưởng Đến Sự Phát Triển Bền Vững

Mất cân bằng giới tính ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững. Nó cản trở việc đạt được các Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDGs). Đặc biệt là các mục tiêu liên quan đến bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ. Cần có các chính sách và chương trình thúc đẩy bình đẳng giới. Cần đảm bảo rằng phụ nữ và trẻ em gái được hưởng đầy đủ các quyền của mình.

VI. Tương Lai Dân Số Việt Nam Và Mất Cân Bằng Giới Tính

Nếu không có các biện pháp can thiệp hiệu quả, xu hướng mất cân bằng giới tính có thể tiếp tục. Điều này sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho tương lai dân số Việt Nam. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành và địa phương. Cần có sự tham gia của toàn xã hội trong việc giải quyết vấn đề này. Cần có các nghiên cứu sâu hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến MCBGTKS. Cần có các giải pháp sáng tạo và phù hợp với điều kiện của Việt Nam.

6.1. Nghiên Cứu Về Tâm Lý Thích Con Trai Hơn Con Gái

Cần có các nghiên cứu về tâm lý thích con trai hơn con gái. Cần tìm hiểu nguyên nhân sâu xa của tâm lý này. Cần có các biện pháp thay đổi nhận thức và thái độ của người dân. Cần khuyến khích các gia đình yêu quý và trân trọng cả con trai và con gái. Cần tạo ra một môi trường xã hội mà ở đó con gái được đánh giá cao như con trai.

6.2. Chính Sách Dân Số Và Bình Đẳng Giới

Cần rà soát và điều chỉnh các chính sách dân số để đảm bảo bình đẳng giới. Cần loại bỏ các quy định và chính sách có thể gây ra phân biệt đối xử với phụ nữ và trẻ em gái. Cần có các chính sách hỗ trợ phụ nữ và trẻ em gái. Cần tạo điều kiện để phụ nữ và trẻ em gái phát huy hết tiềm năng của mình.

08/06/2025
Luận văn thạc sĩ mối liên hệ giữa thứ tự sinh và mất cân bằng giới tính trước khi sinh ở nước ta hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lý luận về mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam 1. Một số khái niệm cơ bản được sử dụng trong đề tài 1.1 Dân số và giới tính Dân số là một tập hợp người (hay cộng đồng người) sinh sống trong một quốc gia, một địa phương hay một vùng lãnh thổ nhất định, được xác định tại một thời điểm cụ thể (Tổng cục DSKHHGĐ, 2010) Dân số là dân cư được xem xét, nghiên cứu ở góc độ quy mô và cơ cấu. Như vậy khi nói đến dân số cũng tức là nói đến quy mô, chất lượng, sự phân bố và cơ cấu, trong đó có cơ cấu dân số theo giới tính khi sinh và những thành tố tạo nên sụ biến động của nó như sinh, chết, di dân (chuyển đến, chuyển đi). Như vậy, có thể nói dân số theo nghĩa rộng bao gồm lĩnh vực: Quy mô, cơ cấu (trong đó có cơ cấu theo giới tính khi sinh), phân bổ, chất lượng dân số (Tổng cục DSKHHGĐ, 2010).

Giới tính: là sự khác biệt giữa nam và nữ về mặt sinh học. Sự khác biệt này chủ yếu liên quan đến sinh đẻ và di truyền nòi giống, con người khi sinh ra đã có những đặc điểm về giới tính (nam hay nữ). Các đặc điểm nay không thể thay đổi được trừ khi phẫu thuật chuyển ododir giới tính so với giới tính gốc của mình. Giới tính khác với khái niệm giới, đó là những đặc điểm tính cách, cách ứng xử, vai trò và trách nhiệm của nam và nữ mà xã hội quy định.

Các đặc điểm này được hình thành từ cuộc sống, chịu ảnh hưởng của gia đình, bạn bè, tôn giáo, văn hoá, nhà trường, xã hội.các đặc điểm này có thể thay đổi (Tổng cục DSKHHGĐ, 2010). Mức sinh: phản ánh mức độ sinh sản của dân số, nó biểu thị số trẻ em sinh sống mà một phụ nữ có được trong suốt cuộc đời sinh sản của mình. Mức sinh phụ 9 thuộc vào rất nhiều yếu tố sinh học, tự nhiên và xã hội (Nguyễn Mạnh Tiến, voer.2 Cơ cấu dân số và cơ cấu dân số theo giới tính Cơ cấu dân số là tổng số dân được phân loại theo giới tính, độ tuổi, dân tộc, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân và các đặc trưng khác (khoản 3, điều 3 Pháp lệnh dân số, 2003). Cơ cấu dân số: bên cạnh những đặc điểm chung của con người là cùng chung sống trong một lãnh thổ, họ lại có những đặc điểm riêng về giới tính và độ tuổi.Do vậy, để hiểu biết chi tiết hơn về dân số, chúng ta cần chia dân số thành những vấn đề khác nhau theo tiêu thức nào đó, sự phân chia theo các nhóm gọi là cơ cấu dân số.

(Nguyễn Mạnh Tiến, voer. Cơ cấu dân số theo độ tuổi: đây là phân chia dân số của một lãnh thổ thành những nhóm dân số có tuổi hoặc khoảng tuổi khác nhau tại một thời điểm nào đó. (Nguyễn Mạnh Tiến, voer. Cơ cấu dân số theo giới tính: nếu chia toàn bộ dân số nam và dân số nữ thì ta có cơ cấu dân số theo giới tính.

Các chỉ tiêu thường dùng là tỷ lệ hoặc tỷ số giới tính. Nếu ký hiệu Pm và Pf lần lượt là dân số nam và dân số nữ thì tỷ số giới tính (SR) được xác định như sau SR= Pm /Pf x 100 (Nguyễn Mạnh Tiến, voer. Với cạnh tiếp cận như vậy, cơ cấu dân số là sự phân chia tổng thể dân số thành các nhóm, các bộ phận theo một chiều hoặc nhiều tiêu thức (đặc trưng nào đó của dân số). Hai đặc trưng cơ bản trong dân số là đặc trưng theo tuổi và giới tính.

Đó chính là những đặc trưng sinh học thông thường đối với mỗi con người; có ý nghĩa quan trọng trong dân số, thể hiện các đặc tính tự nhiên của dân số đó. Cơ cấu tuổi và giới tính chiếm vị trí đặc biệt quan trong phân loại cơ cấu dân số. Bên cạnh đó, giới tính có vai trò quyết định cân bằng sinh thái của cộng đồng trong các mối liên hệ xã hội và kinh tế. 10 Nếu phân chia toàn bộ dân số thành hai bộ phận là dân số nam và dân số nữ thì ta có cơ cấu dân số theo giới tính.

Trong nghiên cứu dân số, tiêu thức phân chia này có ý nghĩa hết sức quan trọng vì giới tính có vai trò quyết định cân bằng sinh thái của cộng đồng trong các mối quan hệ xã hội và kinh tế mật thiết. Tìm hiểu về cơ cấu dân số theo giới tính chính là tìm hiểu sự phân bổ giữa số lượng nam giới và phụ nữ trong một tập hợp người. Nếu phân bố này cân bằng (số nam và số nữ hay tỷ lệ nam nữ là cân bằng nhau), những vấn đề về cơ cấu hôn nhân gia đình như nam giới không lấy được vợ do thiếu hụt phụ nữ hay phụ nữ không lấy được chồng do thiếu nam giới hoặc những vấn đề xã hội như mua bán phụ nữ và trẻ em sẽ được giảm thiểu. Cơ cấu giới tính khi sinh: chúng ta có thể xem xét cơ cấu dân số chung của một địa phương (xã/phường/thị trấn; huyện/quận; tỉnh/thành phố; quốc gia) hoặc cơ cấu giới tính cho dân số ở từng độ tuổi khác nhau.

Đối với nhóm trẻ mới sinh ra (0- 1 tuổi) hàng năm trong dân số của một địa phương, phân chia tổng số trẻ này thành hai bộ phận: các bé trai sinh ra sống và các bé gái sinh ra sống thì có được co cấu giới tính trẻ em hay nói gọn là cơ cấu giới tính khi sinh [33, tr.3 Tỷ số giới tính khi sinh Tỉ số giới tính khi sinh được tính bằng số trẻ em trai sinh ra trên 100 trẻ em gái trong năm. Thông thường cứ 100 bé gái được sinh ra sẽ có tương ứng khoảng 103 đến 106 bé trai sinh ra, và tỷ số giới tính khi sinh (TSGTKS) ổn định qua thời gian và không gian giữa các châu lục, quốc gia, khu vực và chủng tộc người. Bất kỳ sự thay đổi đáng kể nào của TSGTKS so với mức sinh học bình thường đều phản ánh những can thiệp có chủ ý ở một mức độ nào đó. Thước đo trên cho thấy bất cứ 100 bé gái được sinh ra sẽ có bao nhiêu bé trai được sinh ra.

Theo tự nhiên sinh học, do xác suất thụ thai cho thai nhi mang giới tính nữ là khoảng 49 và xác suất thụ thai nhi mang giới tính nam là khoảng 51, tỷ số giới tính khi sinh bình thường ở mức 103-106 và không có sự khác biệt giữa các địa phương, các chủng tộc, dân tộc, các nhóm dân số khác nhau. Nếu tỷ số giới tính khi 11 sinh tăng hoặc thấp hơn mức sinh học bình thường sẽ góp phần trực tiếp làm tăng tỷ số giới tính chung trong tổng dân số của một địa phương.4 Một số khái niệm khác Mất cân bằng giới tính khi sinh: Thông thường cứ 100 bé gái được sinh ra sẽ có tương ứng khoảng 103-106 bé trai sinh ra, mất cân bằng giới tính khi sinh (MCBGTKS) xảy ra khi tỷ số giới tính khi sinh lớn hơn 106 hoặc nhỏ hơn 104 (UNFPA). Lựa chọn giới tính khi sinh: Lựa chọn giới tính (LCGT) là các thực hành nhằm tăng xác suất thụ thai, hoặc các biện pháp đảm bảo bào thai chỉ mang giới tính theo mong muốn đã xác định trước để sinh ra một đứa trẻ mang giới tính nam hoặc nữ theo mong đợi của gia đình. Hiện nay ở Việt Nam, lựa chọn giới tính tập trung chủ yếu là tìm cách để có thể mang thai bé trai và loại bỏ thai nhi gái ở qui mô rộng đã gây MCBGTKS giữa nam và nữ (UNFPA).

Cơ sở lý luận Trong đề tài này tác giả sử dụng lý thuyết sự lựa chọn hợp lý (hay còn gọi là thuyết lựa chọn duy lý) trong xã hội học có nguồn gốc từ triết học, kinh tế học và nhân học vào thế kỷ VIII, XIX. Thuyết này gắn với các đại diện tiêu biểu bao gồm: James Coleman, Alfred Marschal, Gorger Homans, Jonh Elster, Max Weber, George Simmel, George Homans, Peter Blau. Một số nhà triết học đã cho rằng bản chất của con người là vị kỉ, luôn tìm đến sự hài lòng, sự thoả mãn và lãng tránh nỗi khổ đau. Một số nhà kinh tế học cổ điển thì từng nhấn mạnh vai trò động lực cơ bản của động co kinh tế, lợi nhuận khi con người phải đưa ra quyết định lựa chọn hành động.

Luận điểm gốc: Thuyết sự lựa chọn duy lý dựa vào tiền đề cho rằng con người luôn hành động một cách có chủ đích, có suy nghĩ để lựa chọn và sử dụng các nguồn lực một cách duy lý nhằm đạt được kết quả tối đa với chi phí tối thiểu. Tức là trước khi 12 quyết định một hành động nào đó con người luôn đặt lên bàn cân để đo đong đếm giữa chi phí và lợi nhuận mang lại. Nếu chi phí ngang bằng hoặc nhỏ hơn lợi nhuận thì sẽ thực hiện hành động và nếu chi phí lớn hơn lợi nhuận thì sẽ không hành động. Thuật ngữ lựa chọn được dùng để nhấn mạnh sự cân nhắc, tính toán để quyết định sử dụng loại phương tiện hay cách thức tối ưu trong số những điều kiện hay cách thức để đạt được mục tiêu trong điều kiện khan hiếm các nguồn lực.

Phạm vi của mục đích ở đây không chỉ có vật chất (lãi, lợi nhuận, thu nhập) mà còn là yếu tố lợi ích cho xã hội và tinh thần. Định đề này được Homans diễn đạt theo kiểu định lý toán học như sau: khi lựa chọn trong các số hành động có thể có, cá nhân sẽ chọn hành động nào mà họ cho là tích của xác suất thành công của hành động đó với giá trị mà phần thưởng của hành động đó là lớn nhất (C=[P+V]=max). Tức là Homans đã nhấn mạnh tới đặc trưng thứ hai của lựa chọn hợp lý đó là quá trình tối ưu hoá. Thuyết hành động hợp lý không phải chỉ giải thích hành động xã hội trên cấp độ vi mô- hành động cá nhân, mặc dù nó còn có tên gọi thuyết hành động lựa chọn duy lý.

Thuyết này được xây dựng, phát triển để xem xét hoạt động chức năng của các hệ thống và thiết chế kinh tế xã hội, tức là trên cấp độ vĩ mô. Trên thực tế thuyết sự lựa chọn duy lý với các biến thể của nó chủ yếu được triển khai trên cấp độ từ hành động xã hội của cá nhân đến chức năng hệ thống xã hội và mối tương tác giữa cá nhân, nhóm, thiết chế và hệ thống xã hội.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Chào bạn,

Bài viết "Mối Liên Hệ Giữa Thứ Tự Sinh Và Mất Cân Bằng Giới Tính Khi Sinh Tại Việt Nam" đi sâu vào phân tích một vấn đề nhức nhối của xã hội: tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh và mối liên hệ của nó với thứ tự sinh con trong gia đình Việt Nam. Bài viết này cung cấp cái nhìn sâu sắc về các yếu tố văn hóa, xã hội ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn giới tính thai nhi, đặc biệt là mong muốn có con trai để nối dõi tông đường. Việc hiểu rõ những yếu tố này là vô cùng quan trọng để xây dựng các chính sách và biện pháp can thiệp hiệu quả, nhằm giảm thiểu tình trạng mất cân bằng giới tính, hướng tới một xã hội công bằng và bình đẳng hơn.

Nếu bạn quan tâm đến thực trạng mất cân bằng giới tính ở các địa phương cụ thể và các yếu tố liên quan, bạn có thể tham khảo thêm luận văn: Luận văn thực trạng mất cân bằng giới tính khi sinh và một số yếu tố liên quan trên địa bàn tỉnh thái nguyên. Tài liệu này sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn chi tiết hơn về vấn đề này ở cấp độ địa phương.