CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Sơ lược sinh lý sinh sản nam 1. Cấu tạo hệ sinh dục nam Hệ sinh dục nam bao gồm: - Tinh hoàn: là nơi sinh ra tinh trùng và tổng hợp nội tiết tố nam testosterone.
- Đường dẫn tinh trùng: từ tinh hoàn đi đến đổ vào niệu đạo và ra ngoài. - Các tuyến sinh dục phụ: chế tiết các dịch tiết, đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành tinh dịch. Sự điều hòa hoạt động sinh tinh chế tiết nội tiết tố của tinh hoàn thông qua trục hạ đồi – tuyến yên – tinh hoàn và một số cơ chế điều hòa nội tại ở tinh hoàn. Hiện tượng cương dương vật và phóng tinh ở nam có sự tham gia của hệ thần kinh tự động và hệ thần kinh cảm thể [3], [7].
Trong những năm gần đây, vô sinh nam đang thu hút sự quan tâm ngày càng tăng vì bằng chứng về chất lượng tinh dịch giảm ở những người đàn ông trẻ và khỏe mạnh trên toàn thế giới [12], [83], [106]. Giảm số lượng hay chất lượng tinh trùng hay bất thường ở bất kỳ giai đoạn nào trong quá trình sinh tinh trùng, vận chuyển tinh trùng, phóng tinh… đều có thể dẫn đến vô sinh nam [21], [100]. Cấu tạo tinh trùng người Tinh trùng người là các tế bào đơn bội, mang 23 nhiễm sắc thể (NST) là đặc điểm di truyền của người cha. Tinh trùng có cấu tạo phù hợp giúp tinh trùng có thể di chuyển, nhận biết và thụ tinh với noãn trong đường sinh dục nữ.
Tế bào tinh trùng có kích thước nhỏ nhất trong cơ thể và có mức độ biệt hóa cao. Một tinh trùng trưởng thành có chiều dài khoảng 50µm, bao gồm phần đầu và phần đuôi. Phần đầu có chiều dài khoảng 5µm, ngang 2,5µm và dày 1,5µm bao gồm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 thể cực đầu (acrosome) chứa các enzyme cần thiết cho quá trình thụ tinh và nhân chứa vật chất di truyền [1]. Phần đuôi tinh trùng dài khoảng 45µm, gồm phần cổ, đoạn giữa, đoạn chính và chóp đuôi.
Đuôi tinh trùng là bộ phận chịu trách nhiệm chính cho khả năng di động của tinh trùng (Hình 1. Cấu trúc tinh trùng trưởng thành [14] (Head: đầu; Plasma membrane: màng plasma; Acrosome: thể cực đầu; Nucleus: nhân; Centriole: trung thể; Mitochondria: ty thể; Mid-pieace: đoạn giữa; Tail: đuôi; End piece: chóp đuôi; Flagellium: roi; Axialflament: trục chính) Theo Mortimer (1994), sau khi quá trình sinh tinh được diễn ra, để hình thành nên tinh trùng trưởng thành từ tinh nguyên bào sẽ mất khoảng 70 ± 4 ngày và gồm 2 giai đoạn chính [84]: - Giai đoạn hình thành tinh tử. - Giai đoạn tinh tử biệt hóa thành tinh trùng. Các tinh nguyên bào tinh trùng gồm có tinh nguyên bào loại A1, A2, A3, A4, tinh nguyên bào trung gian và tinh nguyên bào loại B nằm ở phần biểu mô gần màng đáy ống sinh tinh.
Mỗi loại, theo thứ tự là kết quả của việc phân chia nguyên nhiễm từ loại tinh nguyên bào trước đó. Tinh nguyên bào loại B là loại cuối cùng còn nguyên phân để tạo nên tinh bào sơ cấp. Các tinh bào sơ cấp trải qua giảm phân I tạo thành tinh bào thứ cấp. Tinh bào thứ cấp giảm phân II tạo ra tinh tử đơn bội.
Theo Dym (1971), các tinh nguyên bào sẽ liên kết với nhau qua cầu sinh chất trong suốt quá trình phân bào và tế bào chất phân chia không hoàn toàn. Suốt quá trình phát triển, các tế bào dần dần di chuyển từ màng đáy để tiến về lòng ống sinh tinh. Khi tinh tử đến thành ngoài cùng của lòng ống, chúng tách bỏ phần tế bào chất dính với nhau (thể thừa) và biệt hóa thành các tinh trùng tự do [41], [88]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Để tạo nên tinh trùng trưởng thành, tinh tử sẽ thay đổi về cấu tạo, hình thái sau khi trải qua 3 bước gồm: sự cô đặc nhân, sự hình thành thể cực đầu (acrosome) và quá trình hình thành đuôi.
Sự cô đặc nhân là quá trình nén chặt để NST (Nhiễm sắc thể) có cấu trúc nhỏ gọn nhất. Cấu trúc này giúp ổn định và bảo vệ DNA người cha trong suốt quá trình di chuyển của tinh trùng. Acrosome được hình thành từ bộ máy Golgi, che phủ khoảng 30 – 50% bề mặt nhân tế bào tinh trùng [37]. Acrosome có chứa nhiều enzyme thủy phân, bao gồm hyaluronidase và proacrosine, cần thiết cho quá trình xâm nhập vào noãn và thụ tinh của tinh trùng.
Những enzyme này có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ tinh trùng xâm nhập vào màng trong suốt (màng zona pellucida – zp) của noãn. Như vậy, nhân tinh trùng và acrosome là cấu tạo chính phần đầu của tinh trùng. Phần cổ và đuôi tinh trùng được hình thành từ trung tử. Đuôi có cấu trúc sợi trục, gồm hai sợi trong trung tâm và chín cặp ngoại vi.
Các ti thể bao bọc quanh sợi trục ở phần giữa, cung cấp năng lượng cho hoạt động di chuyển của đuôi tinh trùng. Sự sinh tinh [41] Như vậy, sự biệt hóa thành tinh tử được đặc trưng bởi việc bất hoạt bộ gen, nhiễm sắc thể được nén chặt tạo thuận lợi cho quá trình di chuyển của tinh trùng và sự hình thành các cấu trúc chức năng quan trọng cho quá trình di chuyển và thụ tinh như phần đuôi tinh trùng, thể cực đầu. Sự phát sinh tinh trùng là một quá trình được kiểm soát liên tục và chính xác, bao gồm những thay đổi cực kỳ rõ rệt về tế bào, di truyền và nhiễm sắc thể dẫn đến việc tạo ra các tế bào tinh trùng chuyên biệt cao. Sau khi tinh trùng được giải phóng ra mào tinh, tinh trùng mất đi các túi bào tương thừa ở cổ, ổn định cấu trúc cực đầu.
Cấu trúc glycoprotein màng ngoài tinh trùng thay đổi tạo thuận lợi cho quá trình nhận diện và phản ứng với noãn. Bên cạnh đó, mức độ chuyển hóa trong tinh trùng tăng dần và khả năng di động của tinh trùng tăng dần trong thời gian tinh trùng di chuyển dọc theo mào LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Như vậy, sự trưởng thành của tinh trùng trong mào tinh giúp tinh trùng tăng khả năng di chuyển, nhận diện và kết hợp với noãn trong đường sinh dục nữ. Cấu tạo nhiễm sắc chất tinh trùng người Nhiễm sắc chất (Chromatin) là vật chất di truyền của tế bào gồm các chuỗi DNA kết hợp với protein cấu trúc.
Phần lớn chất nhiễm sắc của tinh trùng được ngưng tụ bởi các protamine ở dạng cấu trúc hình xuyến rất nhỏ gọn, mỗi cấu trúc chứa khoảng 50 Kb DNA [18], [62], mặc dù khoảng 8% DNA vẫn được tổ chức bởi histones [55], [56], [61]. Các protein cấu trúc này có vai trò tổ chức hình thái và điều hòa hoạt động của DNA. Ở tế bào sinh dưỡng, protein cấu trúc chủ yếu là các protein histone. Chromatin trong tế bào tinh trùng có sự khác biệt với chromatin của tế bào sinh dưỡng.
Trước quá trình giảm phân, chromatin của tinh nguyên bào cũng mang các protein histone, khi các tế bào giảm phân, protein histone này được thay thế bởi biến thể histone đặc trưng cho tinh hoàn [30]. Trước khi tiến hành thay thế histone, chromatin dãn rộng và có nhiều vùng co cụm. Các biến thể histone thay thế vào giúp chromatin trở nên gọn gàng và đồng đều hơn [86]. Tiếp theo, trong các tinh tử hình cầu, protein histone được thay thế dần bởi protein chuyển tiếp.
Đến giai đoạn tinh tử kéo dài, protein chuyển tiếp bị loại khỏi chromatin và thay bằng protamine. Ở người khi kết thúc quá trình sinh tinh, khoảng 85% histone được thay thế bởi protamine [39]. Quá trình thay thế histone thành protamine rất quan trọng trong sự hình thành tinh trùng cũng như chức năng sinh lý của tinh trùng khi gặp noãn [115]. Protamine có kích thước khoảng một nửa histone.
Chúng là các protein rất kiềm, giàu 2 amino axit là arginine và cysteine [39], [71]. Hàm lượng arginine cao (lên đến 70% trong tổng số các amino axit) hình thành một mạng lưới điện tích dương, giúp protamine có thể liên kết chặt chẽ với DNA mang điện tích âm [26]. Cysteine góp phần trong việc hình thành cầu nối disulfide nội phân tử của protamine và liên kết giữa các protamine với nhau [34]. Protamine giúp nén chặt các sợi DNA và hình thành các đơn vị đóng gói cơ bản của chromatin tinh trùng được gọi là toroid, một phần nhỏ liên kết với histone tạo cấu trúc lỏng lẻo hơn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 và phần còn lại liên kết với chất nền nhân tinh trùng (Matrix Attachment Regions - MAR) có kích thước khoảng 50kb (Hình 1.
Các liên kết chéo disulfide nội phân tử và liên phân tử giữa các cysteine trong protamine giúp các toroid càng nén chặt hơn nữa [70]. Với cấu trúc có sự tham gia của protamine, DNA tinh trùng người được nén chặt bằng 1/6 so với DNA của tế bào sinh dưỡng bình thường. Cấu trúc chromatin của tinh trùng [111] Thành phần protein quan trọng khác trong cấu trúc DNA tinh trùng là histone. Theo Hammoud và cộng sự (2009), có khoảng 4% lượng DNA liên kết với histone tại các vùng gen khởi động phiên mã (gene promoter site) [61].
Toàn bộ các vùng gen đặc trưng cho quá trình sinh tinh và thụ tinh được xác định là liên kết với histone trong nhiễm sắc thể của tinh trùng. Tuy nhiên, những vùng gen này lại dễ bị bất hoạt bởi hoạt động của các enzyme nuclease. Histone trong DNA tinh trùng không được thay thế bởi histone của noãn sau quá trình thụ tinh nên bất cứ tổn thương nào ở vùng này cũng sẽ truyền trực tiếp cho phôi [10]. Do đó, nếu không được phát hiện và sửa chữa sẽ ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của phôi và thai nhi.
Tình hình vô sinh ở nam giới 1. Sơ lược vô sinh nam Vô sinh nam được định nghĩa là tình trạng nam giới không có khả năng thụ thai cho nữ giới sau khi kết hôn 12 tháng mà không sử dụng biện pháp tránh thai nào [40]. Người ta ước tính rằng 20 - 30% các trường hợp vô sinh chỉ do yếu tố nam giới và 20% khác liên quan đến các vấn đề từ cả hai vợ chồng [64] và sự suy giảm số lượng tinh trùng được báo cáo trong các báo cáo khoa học ngày càng tăng [78]. Song song với số lượng tinh trùng, suy giảm là một xu hướng đáng lo ngại không kém và kéo dài trong các bất thường của hệ thống sinh sản nam giới, chẳng hạn như hiện tượng tinh hoàn ẩn, khối u tế bào mầm và đến tuổi dậy thì [104].
Nếu xu hướng tiêu cực về số lượng tinh trùng và các vấn đề về hệ thống sinh sản nam có giá trị, thì điều đó có nghĩa gì đối với khả năng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.