Chương 1 Khái lược về tự sự học và sáng tác của nhà văn Svetlana Alexievich 1.1 Giới thuyết tự sự học Xét về từ nguyên, tự sự học (narratology) là khoa học về trần thuật. Trong thập kỷ 70 của thế kỷ trước, các nhà phê bình theo chủ nghĩa cấu trúc đã dùng thuật ngữ này trong sự phân tích có tính cấu trúc, cụ thể hơn là theo xu hướng cấu trúc chủ nghĩa về trần thuật. Do đó, định nghĩa về tự sự học bị rút gọn lại. Hiện nay, tự sự học được hiểu theo các định nghĩa rộng hơn và hẹp hơn.
Theo nghĩa rộng, lí thuyết về tác phẩm tự sự ra đời dưới ảnh hưởng của Chủ nghĩa cấu trúc. Tự sự học nghiên cứu quy luật vận động, phát triển, hình thức, tính chất của tác phẩm tự sự với nhiều chất liệu khác nhau, cũng như nghiên cứu đối tượng tiếp nhận tác phẩm, năng lực tự sự của tác giả (chủ thể sản sinh). Đối với Aristote, trần thuật là một tác phẩm có một cốt truyện (ví dụ sử thi, bi kịch, hài kịch). Trần thuật gồm nhiều loại hình, trong đó có cả diễn ngôn phi văn học như quảng cáo, kịch, phim, lịch sử.
Ở cách hiểu hẹp, nghiên cứu tác phẩm tự sự trong tính cách là một biểu đạt văn tự đối với các sự kiện câu chuyện. Theo đó, tự sự học tập trung quan tâm đến diễn ngôn tự sự, không tập trung vào bản thân câu chuyện. Các nhà tự sự học không đi vào các vấn đề nội dung, chủ đề của tự học mà nghiên cứu các phương thức tạo nên văn bản tự sự. Ngày nay, trần thuật học nghiên cứu các phương tiện có tính chất trần thuật của nhiều thể loại và diễn ngôn văn học hay phi văn học mà không được xác định một cách chặt chẽ là trần thuật, như thơ trữ tình, phim ảnh, kịch, lịch sử, quảng cáo.
Tự sự học là một lĩnh vực tri thức rộng lớn, có lịch sử lâu đời. Thời Hi Lạp cổ đại, Platon đã đối lập mô phỏng tự sự. Sang thế kỷ 20, Thomas Lister bàn về điểm nhìn, John Lockhart chú ý đến khái niệm khoảng cách, các học giả Nga V.Tomashevski đã làm cho các học giả 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phương Tây chú ý với những đề xuất của họ về cấu trúc tự sự. Ban đầu, chủ nghĩa cấu trúc lấy truyện kể làm đối tượng nghiên cứu nhưng chỉ tập trung vào hành động, sự kiện mà bỏ qua nghiên cứu cách kể, nhân vật và ý nghĩa của truyện.
Về sau, tự sự học phát triển theo khuynh hướng chủ nghĩa cấu trúc kinh điển là nghiên cứu lời kể, cách kể hoặc nói cách khác là nghiên cứu diễn ngôn tự sự. Các nhà nghiên cứu như Todorov, Genette, Chatman tập trung nghiên cứu lớp ngôn ngữ trần thuật và các yếu tố tạo nên nó: người kể, hành động kể, ngôi kể, điểm nhìn, giọng điệu. Khi đề xuất tự sự học, Tz.Todorov nêu quan điểm: “Tự sự học là lí luận về cấu trúc của tự sự. Để phát hiện cấu trúc và miêu tả cấu trúc ấy, người nghiên cứu đem hiện tượng tự sự chia thành các bộ phận hợp thành, sau đó cố gắng xác định chức năng và mối quan hệ qua lại của chúng” [20].
Nhà nghiên cứu người Hà Lan - Mieke Bal - trong cuốn Trần thuật học – Dẫn luận lí luận tự sự (1999) đã kết hợp nghiên cứu cấu trúc chuyện với văn bản và định nghĩa về tự sự học khác Todorov: “Tự sự học là lí luận về trần thuật, văn bản trần thuật, hình tượng, hình ảnh sự vật, sự kiện cùng sản phẩm văn hóa „kể chuyện‟” [23].Bal chia tự sự làm ba tầng bậc: văn bản trần thuật (gồm người kể chuyện, trần thuật, bình luận phi trần thuật, miêu tả), chuyện kể (gồm trật tự sắp xếp, nhịp điệu, tần xuất, không gian, tiêu điểm), chất liệu (gồm sự kiện, kẻ hành vi, thời gian, địa điểm).Trong chức năng và mục đích kể chuyện, các tầng bậc đan kết, xuyên thấm vào nhau. Các nhà tự sự học không nghiên cứu văn bản tự sự cụ thể mà chỉ nghiên cứu cấu trúc nội tại của tự sự. Từ đây, đối tượng của tự sự học được xác định là ngữ pháp, các nguyên tắc tạo ra văn bản, không nghiên cứu nhân vật, hành động, chỉ nghiên cứu chức năng. Tóm lại, tự sự học không nghiên cứu các yếu tố bề ngoài mà nghiên cứu các mối quan hệ bề sâu của tự sự.
Ngành tự sự học phát triển như ngày hôm nay nhờ vào công sức đóng góp lớn của một số nhà tự sự học như: M.Bakhtin, Roland Barthes, Todorov, Mieke Bal… M.Bakhtin (1895 – 1975) là nhà khoa học nhân văn lỗi lạc, đỉnh 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cao của thi pháp học và đặt nền tảng cho tự sự học Nga. Phạm trù nền tảng ông nghiên cứu là đối thoại, phức điệu, đa thanh, bản chất ngôn từ của tiểu thuyết. Tính đa thanh trong văn chương được Bakhtin quan niệm như một thuộc tính phổ biến của tư duy con người. Nó là biểu hiện của nguyên tắc đối thoại.
Đối thoại chính là bản chất của diễn ngôn. Roland Barthes là nhà phê bình văn học, nhà văn hóa học Pháp, một trong những đại biểu nổi tiếng nhất của trường phái ký hiệu học Pháp, đã đi từ chủ nghĩa cấu trúc đến giải cấu trúc, có đóng góp lớn cho nghiên cứu tự sự học. Phạm trù nền tảng trong các công trình của R.Bathes là tự sự có mặt ở khắp mọi nơi. Tự sự là cuộc sống.
Trong cuốn Nhập môn phân tích cấu trúc truyện kể (1966), ông viết: “Việc kể chuyện với muôn hình vạn trạng luôn tồn tại khắp nơi, mọi thời, trong mọi xã hội. Con người ta bắt đầu kể chuyện ngay từ buổi sơ khai của lịch sử loài người. Vâng! Không bao giờ và cũng chẳng ở đâu lại có tồn tại một dân tộc mà lại không biết kể chuyện. Tất thảy mọi giai cấp, các nhóm xã hội đều có những “tâm sự” riêng của mình.
Nhiều khi những con người thuộc các nền văn hóa khác nhau, nếu không muốn nói là đối lập nhau, lại cùng dõi theo một câu chuyện” [32]. Tự sự trong quan niệm của R.Barthes là bỏ qua mọi cách biệt giữa văn học có giá trị hay tầm thường, xé bỏ những rào cản về văn hóa, lịch sử và dân tộc, nó tồn tại trong thế giới như chính bản thân cuộc sống. Một trong những đóng góp lớn của Todorov là ông đã đề xướng thuật ngữ “narratologie”, một khoa học nghiên cứu tự sự học, khoa học của truyện kể, là lý thuyết về một môn khoa học cho đến lúc bấy giờ chưa hề có, một lý thuyết đúng nghĩa, chứ không phải chỉ là những kinh nghiệm. Từ đây, thuật ngữ này được sử dụng như thuật ngữ chính thức của ngành nghiên cứu tự sự.
Công trình khai sinh ra thuật ngữ này chính là Ngữ pháp “Truyện mười ngày” được Todorov viết năm 1969. Todorov quan tâm nhất đến ngữ pháp có thể áp dụng cho bất cứ ngôn ngữ nào chứ không phải chỉ là thứ ngữ pháp mang những quy tắc riêng của mỗi ngôn ngữ. Điều này được ông làm rõ thêm trong Ngữ pháp của truyện kể để minh chứng cho sự tồn tại của ngữ pháp phổ quát. Mike Bal 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Nhà khoa học Hà Lan được xếp vào cùng một nhóm với các nhà nghiên cứu lấy G. Genette làm trung tâm, có xu hướng quan tâm nghiên cứu đến lớp ngôn từ của người trần thuật, đồng thời, bà là một trong những đại diện tiêu biểu cho xu hướng tam phân trong lĩnh vực nghiên cứu tự sự. Bal cũng là người mở rộng đối tượng nghiên cứu của tự sự học sang điện ảnh, nghệ thuật thị giác…Ở Việt Nam, nhà nghiên cứu Trần Đình Sử là một trong những nhà khoa học có công lớn trong việc giới thiệu lý thuyết tự sự học vào Việt Nam. Ông đã đề xướng tổ chức hai cuộc hội thảo về tự sự học vào năm 2001 và 2008.2 Khái lược sáng tác của nhà văn Svetlana Alexievich Svetlana Alexievich sinh năm 1948 tại thị trấn Ivano – Frankovsk miền Tây Ukraina trong một gia đình có cha là người Belarus, mẹ là người Ukraina.
Bà là con của một quân nhân, sau khi cha bà giải ngũ, cả gia đình đã quay trở lại chính quê hương Belarus để ổn định cuộc sống.Alexievich đã trở thành phóng viên cho một số tờ báo địa phương trước khi tốt nghiệp Đại học Lenin (1972), nay là Đại học Nhà nước Belarus ở Minsk và sau này trở thành phóng viên của tạp chí văn học Neman (1976). Khởi nghiệp từ ngành báo chí, hiện thực cuộc sống là nơi Svetlana thuộc về và sự thật là nguồn nuôi dưỡng chính nghiệp bút của bà. Khi còn là phóng viên cho một tờ báo địa phương vào những năm 70 của thế kỉ 20, bà đã bắt đầu cuộc hành trình truy tìm công lý của mình bằng việc ghi âm lời kể của những nữ binh sĩ từng tham gia chiến tranh thế giới thứ II, nói về những điều chưa hề được đề cập tới trong bất kì trang viết nào của lịch sử cuộc chiến ngày ấy. Và cũng từ đây, Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ đã ra đời – cột mốc đánh dấu sự xuất hiện đầu tiên của cây bút S.Alexievich trên diễn đàn văn nghệ vào năm 1983.
Từ sức nóng và độ vang của tác phẩm đầu tiên, Alexievich cho ra mắt Những nhân chứng cuối cùng vào năm 1985, Quan tài kẽm ( Zinky Boys: Soviet Voices from the Afghanistan War) xuất 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bản năm 1989, đặc biệt vào năm 1998 bà được giải sách Leipzig về Thông cảm Châu Âu cho cuốn sách mang tựa đề “Voices from Chernobyl” (Tiếng vọng từ Chernobyl, sáng tác năm 1997). Cuốn sách phơi bày thảm trạng kinh hoàng của những người công nhân dọn phóng xạ sau thảm họa hạt nhân ở Ukraina. Svetlana Alexievich viết những tác phẩm truyện ngắn, những bài luận (essays) và cả những bài phóng sự. Người mà theo như bà có chia sẻ là đã có ảnh hưởng nhất định tới giọng văn (voice) của mình đó là Ales Adamovich, một nhà văn người Belarus, người đã phát triển thể loại tiểu thuyết qua nhiều cách tiếp diện : “collective novel” (tiểu thuyết có tính sưu tập), “novel – evidence”, the “epic chorus” (hợp xướng thiên sử thi).
Theo Sara Danius, người thư ký kì cựu của học viện Swedish, mỗi khi đã nhắc tới S.Alexievich, bà luôn ngợi ca, khâm phục nữ nhà văn như một cây bút mang trong mình một sức mạnh “phi thường” (extraordinary). Từ chính những sự “phi thường” ấy, công chúng đón nhận tài năng của S.Alexievich bằng niềm tin yêu cảm mến bởi những gì bà phơi mở– đó là máu, là tận cùng của nỗi khổ đau trong vết trượt dài bi thương của cuộc tồn sinh.