Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Biến đổi khí hậu toàn cầu và sự suy thoái môi trường tự nhiên đang đặt ra những thách thức nghiêm trọng đối với mô hình tăng trưởng kinh tế truyền thống vốn dựa nhiều vào khai thác tài nguyên và nhiên liệu hóa thạch. Theo các số liệu được tác giả tổng hợp từ các tổ chức quốc tế:

  • Năm 2017, nhiệt độ Trái Đất đã tăng khoảng 1°C so với các thời kỳ trước, với mức tăng trung bình 0,2°C mỗi thập kỷ; tốc độ gia tăng nồng độ khí CO2 toàn cầu đạt khoảng 20 ppm/thập kỷ kể từ năm 2000, nhanh gấp 10 lần so với chu kỳ 800.000 năm trước đó.
  • Ngân hàng Thế giới (WB) ghi nhận thiên tai do biến đổi khí hậu gây thiệt hại khoảng 18 tỷ USD mỗi năm tại các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình; các biến cố cực đoan làm giảm 520 tỷ USD tiêu dùng toàn cầu hàng năm và đẩy 26 triệu người vào cảnh nghèo đói.
  • Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) chỉ ra 97% đô thị ở các nước thu nhập thấp và trung bình không đạt tiêu chuẩn không khí, dẫn đến ước tính 7 triệu ca tử vong liên quan đến ô nhiễm trong năm 2016. Tốc độ khai thác tài nguyên thiên nhiên toàn cầu đang cao gấp 1,75 lần khả năng tự tái tạo của hành tinh.

Tại Việt Nam, Báo cáo Chỉ số Hiệu quả Môi trường (EPI) năm 2018 xếp hạng quốc gia ở vị trí 132/180 về hiệu quả môi trường chung và 161/180 về chất lượng không khí. Trước bối cảnh đó, chuyển đổi sang mô hình kinh tế xanh trở thành yêu cầu cấp thiết. Với vai trò trung gian tài chính phân bổ vốn cho nền kinh tế, các ngân hàng thương mại (NHTM) nắm giữ vị trí then chốt trong việc điều hướng dòng vốn đầu tư vào các dự án bảo vệ môi trường và kiểm soát hoạt động phát thải. Xuất phát từ thực tiễn này, tác giả Nguyễn Thị Hà Trang (Khoa Ngân hàng, Học viện Ngân hàng) đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài "Mở rộng hoạt động tín dụng xanh tại các ngân hàng thương mại Việt Nam".

Mục đích nghiên cứu của khóa luận là đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm mở rộng hoạt động tín dụng xanh (TDX) tại các NHTM Việt Nam. Để đạt được mục đích trên, tác giả xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Tổng hợp các vấn đề lý luận có liên quan đến mở rộng TDX ở NHTM;
  2. Phân tích thực trạng mở rộng TDX ở các NHTM Việt Nam;
  3. Đề xuất giải pháp và kiến nghị nhằm mở rộng TDX ở các NHTM Việt Nam những năm tới.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu được xác định rõ:

  • Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến hoạt động tín dụng xanh của NHTM.
  • Phạm vi không gian: Tập trung khảo sát nhóm 4 NHTM Nhà nước gồm Agribank, Vietinbank, Vietcombank và BIDV.
  • Phạm vi thời gian: Số liệu và thực tiễn được thu thập chủ yếu trong giai đoạn 2017 – 2019.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào các khía cạnh mở rộng hoạt động tín dụng xanh của các ngân hàng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng nền tảng lý luận xuất phát từ bản chất của tín dụng ngân hàng: quan hệ chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn có thời hạn, dựa trên cơ sở lòng tin, nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi, cam kết hoàn trả vô điều kiện và luôn tiềm ẩn rủi ro. Tín dụng ngân hàng đóng vai trò thúc đẩy tái sản xuất, tập trung vốn nhàn rỗi, tài trợ cho các ngành kinh tế mũi nhọn, hỗ trợ Nhà nước điều tiết kinh tế vĩ mô và mở rộng kinh tế đối ngoại.

Về khái niệm tín dụng xanh, tác giả tiếp cận định nghĩa của Saleena (2014): TDX là các khoản cấp tín dụng cho những dự án có mức độ rủi ro môi trường thấp hoặc các dự án trực tiếp bảo vệ môi trường, đồng thời từ chối cấp vốn cho các hoạt động gây tổn hại đến hệ sinh thái. Hoạt động TDX bao hàm ba nội dung trọng tâm:

  1. Hỗ trợ dự án/doanh nghiệp tiết kiệm năng lượng và thân thiện môi trường qua các gói lãi suất, thời hạn và hạn mức phù hợp;
  2. Chế tài các chủ thể vi phạm quy định môi trường bằng việc dừng giải ngân, hạn chế hoặc thu hồi tín dụng;
  3. Hướng dẫn, giám sát khách hàng quản lý rủi ro môi trường - xã hội gắn với chính sách tín dụng.

Mở rộng TDX được hiểu là quá trình NHTM gia tăng số lượng khách hàng vay vốn xanh hoặc gia tăng doanh số giải ngân, quy mô dư nợ xanh trên tệp khách hàng hiện hữu. Tác giả thiết lập hệ thống chỉ tiêu đo lường gồm hai nhóm:

  • Nhóm chỉ tiêu định lượng: Doanh số cho vay TDX; Tỷ lệ tăng trưởng dư nợ TDX [(Dư nợ năm nay - Dư nợ năm trước) / Dư nợ năm trước * 100%]; Số lượng khách hàng vay vốn TDX; Thị phần tín dụng xanh (Dư nợ TDX của ngân hàng / Tổng dư nợ TDX toàn hệ thống).
  • Nhóm chỉ tiêu định tính: Mức độ đa dạng của sản phẩm tín dụng xanh; Tính minh bạch, ổn định trong chính sách tín dụng; Quy mô hệ thống kênh phân phối; Mức độ hài lòng của khách hàng.

Khung pháp lý được tác giả hệ thống hóa gồm: Quyết định số 2053/QĐ-TTg năm 2016 thực thi Hiệp định Paris (Nhiệm vụ 47); Chỉ thị số 03/CT-NHNN ngày 24/03/2015 về thúc đẩy tăng trưởng TDX và quản lý rủi ro môi trường - xã hội; Quyết định số 1552/QĐ-NHNN ngày 06/08/2015 ban hành Kế hoạch hành động ngành ngân hàng thực hiện Chiến lược Tăng trưởng xanh đến 2020; Quyết định số 1604/QĐ-NHNN năm 2018 phê duyệt Đề án phát triển ngân hàng xanh tại Việt Nam; Sổ tay hướng dẫn đánh giá rủi ro môi trường - xã hội cho 10 ngành kinh tế (phối hợp IFC, tháng 8/2018); Quyết định số 1731/QĐ-NHNN (2018) và Quyết định số 34/QĐ-NHNN (2019).

Phương pháp nghiên cứu trong khóa luận là nghiên cứu bàn giấy (desk research) dựa trên dữ liệu thứ cấp. Dữ liệu được trích xuất từ báo cáo thường niên của các NHTM, báo cáo số liệu của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) và Vụ Tín dụng các ngành kinh tế. Tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích tổng hợp và phương pháp so sánh (so sánh theo chuỗi thời gian 2017 – 2019, so sánh cơ cấu tỷ trọng và tốc độ tăng trưởng) để làm rõ thực trạng mở rộng tín dụng xanh.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề chung về mở rộng tín dụng xanh

Chương 1 hệ thống hóa lý luận cơ bản về tín dụng và tín dụng xanh của NHTM, khẳng định sự khác biệt căn bản: nếu tín dụng truyền thống chú trọng tính khả thi tài chính của phương án vay thì TDX bắt buộc phải xem xét thêm mức độ thân thiện và an toàn đối với môi trường sinh thái. Mở rộng TDX mang lại lợi ích đa chiều: giảm thiểu ô nhiễm sinh thái, hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng kỹ thuật cao, thúc đẩy chuyển giao công nghệ sạch quốc tế, đa dạng hóa danh mục doanh thu và củng cố uy tín thương hiệu của ngân hàng.

Tác giả dành dung lượng lớn phân tích kinh nghiệm quốc tế tại bốn quốc gia:

  • Cộng hòa Liên bang Đức: Vai trò chủ đạo của Ngân hàng Tái thiết Đức (KfW). Năm 2013, KfW cam kết hơn 22 tỷ EUR (khoảng trên 26 tỷ USD) cho các dự án môi trường và khí hậu; tài trợ 80% trang trại điện gió mới và 50% dự án nhà ở mới tại Đức. Các chương trình điển hình bao gồm: tài trợ tiết kiệm năng lượng (yêu cầu giảm tối thiểu 20% điện năng cho đầu tư thay thế và 15% cho đầu tư mới); tài trợ năng lượng tái tạo; hỗ trợ dự án điện mặt trời tại Bangladesh (cùng WB, GEF); dự án địa nhiệt tại Kenya (11 triệu EUR); dự án xử lý chất thải nước tại Thổ Nhĩ Kỳ. Ngoài ra, bốn ngân hàng chuyên biệt tích hợp hoàn toàn mô hình xanh gồm GLS, UmweltBank, Triodos và EthikBank.
  • Trung Quốc: Ban hành Chính sách Tín dụng xanh năm 2007 phối hợp tiêu chuẩn của Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) và Các Nguyên tắc Xích đạo (Equator Principles). Quốc gia này triển khai chính sách "Ba đồng thời" (kiểm soát môi trường trong thiết kế, xây dựng và vận hành); chính sách "Nhân đôi cao" (kiểm soát chặt 14 ngành tiêu thụ năng lượng và ô nhiễm cao); chính sách "Ưu đãi quy mô lớn - quy mô nhỏ" (cắt giảm 50GW công suất nhiệt điện nhỏ giai đoạn 2006 – 2010); phối hợp giữa Bộ Môi trường (MEP), Ủy ban Quản lý Giám sát Ngân hàng (CBRC) và Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBOC) thiết lập danh sách đen vi phạm môi trường ghi nhận 30.000 trường hợp để chặn cấp vốn.
  • Philippines: Áp dụng mô hình ngân hàng bán buôn thông qua ba định chế: Bank of the Philippine Islands (hợp tác IFC triển khai Chương trình Tài chính Năng lượng Bền vững); Land Bank of the Philippines (áp dụng hệ thống thẩm định môi trường EDD từ năm 2009); Development Bank of the Philippines (đạt chứng chỉ ISO 14001, áp dụng hệ thống quản lý môi trường EMS).
  • Bangladesh: NHTW Bangladesh thành lập quỹ quay vòng tái cấp vốn 27 triệu USD từ năm 2009 cho các sản phẩm xanh (mở rộng từ 5 lên 11 nhóm lĩnh vực); ban hành Khung chính sách TDX gồm 3 giai đoạn với 19 chính sách (2011 – 2013); từ tháng 01/2016 áp chỉ tiêu thị phần tín dụng xanh tối thiểu 5% đối với 4 lĩnh vực: nông nghiệp, du lịch, năng lượng và doanh nghiệp nhỏ.

Từ các mô hình trên, tác giả đúc kết 3 bài học cho Việt Nam: cần có sự đồng thuận giữa cơ quan quản lý, ngân hàng, doanh nghiệp và người dân; kết hợp đồng bộ các công cụ chính sách quản lý môi trường với thẩm định ngân hàng; tận dụng nguồn tài trợ ủy thác từ các tổ chức tài chính quốc tế đối với hệ thống ngân hàng nội địa còn hạn chế về tiềm lực tài chính.

Chương 2: Thực trạng mở rộng tín dụng xanh tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Chương 2 phác thảo bức tranh tổng quan hệ thống ngân hàng Việt Nam giai đoạn 2017 – 2019:

  • Số lượng tổ chức tín dụng ổn định ở mức 48 đơn vị (gồm 4 NHTM Nhà nước, 31 NHTMCP chiếm 63%, 9 ngân hàng 100% vốn nước ngoài chiếm 19%, 2 ngân hàng chính sách chiếm 4%, 2 ngân hàng liên doanh chiếm 4%, 1 ngân hàng hợp tác xã chiếm 2%).
  • Năng lực tài chính gia tăng: Vốn điều lệ toàn hệ thống tăng từ 512,43 nghìn tỷ đồng (2017) lên 612,94 nghìn tỷ đồng (2019); vốn tự có tăng từ 714,11 nghìn tỷ đồng lên 857,68 nghìn tỷ đồng; tổng tài sản tăng từ 10.001,79 nghìn tỷ đồng lên 12.410,42 nghìn tỷ đồng. Hệ số an toàn vốn (CAR) duy trì mức 12,14% – 12,23%; tỷ lệ nợ xấu nội bảng giảm từ 1,99% (2017) xuống 1,63% (2019). Tỷ suất sinh lời ROA đạt 0,74% (2017), tăng lên 0,89% (2018) rồi giảm về 0,82% (2019); ROE tương ứng đạt 10,07%, 11,81% và 10,37%.
  • Tổng dư nợ tín dụng nền kinh tế tăng từ 6.512,02 nghìn tỷ đồng (2017) lên 8.195,40 nghìn tỷ đồng (2019); trong đó công nghiệp - xây dựng chiếm tỷ trọng lớn nhất (khoảng 29% năm 2019), tiếp theo là thương mại, vận tải và viễn thông (xấp xỉ 25,3%).

Về thực trạng tín dụng xanh, số liệu của NHNN cho thấy quy mô dư nợ xanh tăng trưởng liên tục: năm 2017 đạt 180,1 nghìn tỷ đồng; năm 2018 đạt 240,7 nghìn tỷ đồng; năm 2019 đạt 331,2 nghìn tỷ đồng. Tỷ trọng TDX trong tổng dư nợ nền kinh tế lần lượt là 2,76% (2017), 3,33% (2018) và 4,04% (2019).

Khảo sát 26 tổ chức tín dụng đến ngày 30/06/2019 ghi nhận tổng dư nợ cho các dự án xanh đạt 317.620 tỷ đồng (tăng 32% so với 2018). Tín dụng trung - dài hạn chiếm áp đảo với 76%. Cơ cấu dư nợ theo ngành phản ánh sự tập trung lớn:

  • Nông nghiệp xanh: 142.929 tỷ đồng (chiếm 45%);
  • Năng lượng tái tạo và năng lượng sạch: 53.995 tỷ đồng (chiếm 17%);
  • Quản lý nước bền vững tại khu vực đô thị và nông thôn: 34.938 tỷ đồng (chiếm 11%);
  • Lâm nghiệp bền vững: 15.881 tỷ đồng (chiếm 5%).

Khóa luận đi sâu phân tích chỉ tiêu thực tế tại hai đại diện NHTM Nhà nước có dữ liệu chi tiết là Agribank và Vietinbank:

Chỉ tiêu Ngân hàng Năm 2017 Năm 2018 Năm 2019
Doanh số cho vay TDX (tỷ đồng) Agribank - 34.500 47.200
Vietinbank 9.791 12.493 16.000
Tỷ lệ tăng trưởng dư nợ TDX (%) Agribank 19,01 36,87 37,03
Vietinbank 20,57 27,60 28,07
Số lượng khách hàng vay TDX (khách hàng) Agribank 2.200 6.370 12.710
Vietinbank 1.225 1.603 2.970
Thị phần tín dụng xanh (%) Agribank 13,77 14,01 14,47
Vietinbank 1,77 2,01 3,47

Tại Agribank, thế mạnh gắn liền với nông nghiệp công nghệ cao và nông nghiệp sạch; doanh số cho vay xanh năm 2019 tăng 36,81% so với 2018 (tăng 12.700 tỷ đồng), số lượng khách hàng vay vốn xanh năm 2019 tăng gấp gần 2 lần so với 2018. Tại Vietinbank, dư nợ trung - dài hạn chiếm 89% dư nợ xanh năm 2019; danh mục phân bổ tập trung vào năng lượng tái tạo/năng lượng sạch (71%), quản lý nước bền vững (14%), xử lý chất thải và chống ô nhiễm (13%).

Bên cạnh kết quả tăng trưởng quy mô, văn bản chỉ ra những tồn tại: tỷ trọng TDX vẫn rất khiêm tốn (chỉ chiếm hơn 4% tổng dư nợ năm 2019); sản phẩm tín dụng xanh chưa thực sự phong phú; cơ cấu phân bổ lệch về nông nghiệp và năng lượng, các lĩnh vực khác còn hạn chế; việc thẩm định rủi ro môi trường - xã hội gặp khó khăn do thiếu tiêu chuẩn kỹ thuật thống nhất; nguồn vốn của các NHTM chủ yếu là ngắn hạn trong khi dự án xanh đòi hỏi vốn trung - dài hạn với thời gian hoàn vốn kéo dài.

Chương 3: Giải pháp mở rộng tín dụng xanh tại các ngân hàng thương mại Việt Nam thời gian tới

Chương 3 đề xuất định hướng và giải pháp bám sát mục tiêu của Đề án 1604/QĐ-NHNN (đến năm 2025: 100% ngân hàng xây dựng quy định nội bộ và đánh giá rủi ro môi trường - xã hội; 10-12 ngân hàng có bộ phận chuyên trách; 60% ngân hàng tiếp cận được nguồn vốn xanh).

Tác giả kiến nghị 5 nhóm giải pháp đối với các NHTM:

  1. Tăng cường nguồn vốn cho vay kinh tế xanh: Tích cực huy động vốn trung và dài hạn trong nước; chủ động tìm kiếm, tiếp nhận các gói tài trợ, vốn ủy thác ưu đãi từ các định chế tài chính quốc tế như WB, ADB, IFC, EIB.
  2. Đổi mới cơ chế tín dụng: Thiết lập quy trình thẩm định tín dụng tích hợp tiêu chuẩn kỹ thuật môi trường; xây dựng các gói tín dụng linh hoạt về lãi suất, thời gian ân hạn và thời hạn vay phù hợp với chu kỳ dự án xanh.
  3. Tháo gỡ khó khăn về tài sản bảo đảm: Nghiên cứu cơ chế chấp thuận tài sản hình thành từ vốn vay của chính dự án xanh (như nhà xưởng năng lượng, hệ thống thiết bị công nghệ) làm tài sản bảo đảm; linh hoạt phương thức thế chấp dòng tiền tương lai của dự án.
  4. Tăng cường hoạt động Marketing: Đẩy mạnh truyền thông về các gói tín dụng ưu đãi xanh; xây dựng hình ảnh ngân hàng xanh gắn liền với trách nhiệm xã hội; tư vấn, hướng dẫn doanh nghiệp chuyển đổi quy trình sản xuất sạch.
  5. Nâng cao chất lượng cán bộ tín dụng: Đào tạo chuyên sâu kỹ năng nhận diện, phân tích và thẩm định rủi ro môi trường - xã hội theo Sổ tay hướng dẫn của NHNN và IFC; tổ chức các khóa tập huấn kỹ thuật phối hợp với các tổ chức quốc tế.

Đồng thời, tác giả đưa ra 3 nhóm kiến nghị vĩ mô:

  • Đối với Quốc hội và Chính phủ: Hoàn thiện hành lang pháp lý tổng thể về phát triển kinh tế xanh; ban hành chính sách ưu đãi tài khóa (thuế, phí) và cơ chế bù lãi suất cho các dự án xanh.
  • Đối với Ngân hàng Nhà nước: Xây dựng cơ chế tái cấp vốn ưu đãi hoặc chiết khấu cho các khoản vay xanh của NHTM; hoàn thiện khung hướng dẫn phân loại dự án xanh thống nhất toàn quốc; nâng hạn mức tăng trưởng tín dụng đối với các tổ chức tích cực giải ngân TDX.
  • Đối với các Bộ, ngành và địa phương: Bộ Tài nguyên và Môi trường cùng các cơ quan hữu quan cần ban hành bộ tiêu chí rõ ràng để xác định dự án xanh; công khai, minh bạch cơ sở dữ liệu về tuân thủ môi trường của các doanh nghiệp để hỗ trợ hệ thống ngân hàng tra cứu thông tin thẩm định.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và cung cấp hệ thống số liệu cụ thể về thực trạng phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam giai đoạn 2017 – 2019:

  • Phản ánh sự chuyển dịch quy mô dư nợ xanh toàn nền kinh tế: từ 180,1 nghìn tỷ đồng (2017) lên 240,7 nghìn tỷ đồng (2018) và 331,2 nghìn tỷ đồng (2019), đưa tỷ trọng TDX từ mức 2,76% lên 4,04% tổng dư nợ.
  • Làm rõ đặc điểm kỳ hạn và cơ cấu ngành của dòng vốn xanh tính đến giữa năm 2019: 76% là dư nợ trung - dài hạn; nông nghiệp xanh chiếm tỷ trọng chi phối 45% (142.929 tỷ đồng), năng lượng tái tạo chiếm 17% (53.995 tỷ đồng).
  • Cung cấp số liệu so sánh chi tiết giữa hai ngân hàng nhà nước điển hình: Agribank duy trì thị phần dẫn đầu (13,77% năm 2017 lên 14,47% năm 2019) với quy mô khách hàng tăng từ 2.200 lên 12.710 khách hàng; Vietinbank gia tăng thị phần từ 1,77% lên 3,47% với doanh số cho vay đạt 16.000 tỷ đồng vào năm 2019, tập trung chủ yếu vào năng lượng tái tạo (71%).

Về mặt học thuật và thực tiễn, công trình đóng góp:

  • Hệ thống hóa bộ chỉ tiêu đánh giá mở rộng tín dụng xanh (gồm 4 chỉ tiêu định lượng và 4 chỉ tiêu định tính) áp dụng cho NHTM;
  • Đúc kết có hệ thống kinh nghiệm quản trị và chính sách tín dụng xanh từ cả nước phát triển (Đức) và ba quốc gia châu Á (Trung Quốc, Philippines, Bangladesh);
  • Xây dựng hệ thống giải pháp và kiến nghị có tính liên kết từ nội bộ ngân hàng đến các cơ quan hoạch định chính sách tiền tệ và môi trường.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tồn tại một số hạn chế gắn liền với phạm vi và dữ liệu tiếp cận:

  • Phạm vi khảo sát thực nghiệm tập trung vào nhóm NHTM Nhà nước trong khung thời gian 2017 – 2019, chưa bao quát đầy đủ số liệu chuỗi của toàn bộ khối NHTMCP tư nhân và các chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam.
  • Nguồn số liệu nghiên cứu hoàn toàn là dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo thường niên và tài liệu công bố của NHNN; chưa có điều tra khảo sát sơ cấp định lượng về mức độ thỏa mãn của khách hàng hoặc các rào cản chi phí cụ thể từ phía doanh nghiệp tiếp cận vốn.
  • Văn bản khóa luận tại một số vị trí dữ liệu còn bị ngắt quãng (chưa trình bày đầy đủ bảng biểu số liệu của Vietcombank và BIDV như mục lục phản ánh).

Hướng mở rộng nghiên cứu tiếp theo bao gồm:

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang khối NHTMCP tư nhân để đánh giá mức độ cạnh tranh và mức độ chủ động triển khai sản phẩm xanh ngoài khối ngân hàng có vốn nhà nước.
  • Kéo dài chuỗi thời gian nghiên cứu sau năm 2020 nhằm đánh giá tác động của các biến cố kinh tế vĩ mô và việc hiện thực hóa các mục tiêu của Đề án 1604/QĐ-NHNN giai đoạn 2020 – 2025.
  • Thực hiện khảo sát thực nghiệm đối với các doanh nghiệp thuộc các ngành gây ô nhiễm cao nhằm lượng hóa chi phí tuân thủ và khả năng hấp thụ các gói tín dụng xanh.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, Kinh tế đầu tư và Quản lý môi trường đang tìm kiếm cơ sở lý luận, hệ thống chỉ tiêu đánh giá hoạt động tín dụng xanh và khung chính sách ngân hàng xanh tại Việt Nam.
  • Chuyên viên quan hệ khách hàng, chuyên viên quản lý rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại cần tham khảo kinh nghiệm triển khai các sản phẩm tài trợ năng lượng tái tạo, nông nghiệp sạch và phương thức thẩm định rủi ro môi trường.
  • Các nhà nghiên cứu chính sách quan tâm đến kinh nghiệm quốc tế về quản lý danh sách đen môi trường (Trung Quốc), áp chỉ tiêu cho vay xanh bắt buộc (Bangladesh) và mô hình tái cấp vốn xanh qua ngân hàng phát triển (KfW - Đức).

Phần có giá trị tham khảo cao nhất trong khóa luận là bức tranh tổng hợp các văn bản pháp lý ngân hàng xanh giai đoạn 2015 – 2019 và chương nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế được phân tích chi tiết gắn với các chỉ tiêu định lượng cụ thể.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận sử dụng những chỉ tiêu định lượng nào để đo lường mức độ mở rộng tín dụng xanh tại các NHTM?
Tác giả xác định 4 chỉ tiêu định lượng chính: Doanh số cho vay TDX; Tỷ lệ tăng trưởng dư nợ TDX [(Dư nợ năm nay - Dư nợ năm trước) / Dư nợ năm trước * 100%]; Số lượng khách hàng vay vốn TDX; Thị phần tín dụng xanh (Dư nợ TDX của một ngân hàng / Tổng dư nợ TDX của toàn hệ thống ngân hàng).

2. Tỷ trọng dư nợ tín dụng xanh trong tổng dư nợ nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2017 – 2019 diễn biến ra sao?
Theo số liệu từ Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (NHNN) được trích dẫn trong bài: Dư nợ TDX đạt 180,1 nghìn tỷ đồng năm 2017 (chiếm 2,76% tổng dư nợ nền kinh tế); tăng lên 240,7 nghìn tỷ đồng năm 2018 (chiếm 3,33%); và đạt 331,2 nghìn tỷ đồng năm 2019 (chiếm 4,04%).

3. Cơ cấu dư nợ tín dụng xanh tại Việt Nam phân bổ chủ yếu vào những ngành nào tính đến giữa năm 2019?
Theo thống kê tại 26 tổ chức tín dụng đến ngày 30/06/2019, tổng dư nợ dự án xanh là 317.620 tỷ đồng, trong đó 76% là trung - dài hạn. Nông nghiệp xanh chiếm tỷ trọng cao nhất với 45% (142.929 tỷ đồng); năng lượng tái tạo, năng lượng sạch chiếm 17% (53.995 tỷ đồng); quản lý nước bền vững chiếm 11% (34.938 tỷ đồng); lâm nghiệp bền vững chiếm 5% (15.881 tỷ đồng).

4. Khóa luận ghi nhận Trung Quốc và Bangladesh đã áp dụng những công cụ chính sách đặc thù nào để thúc đẩy tín dụng xanh?
Trung Quốc áp dụng chính sách "Ba đồng thời" (trong thiết kế, thi công, vận hành), khoanh vùng kiểm soát 14 ngành "Nhân đôi cao" (ô nhiễm và tiêu thụ năng lượng cao), chính sách "Ưu đãi quy mô lớn - quy mô nhỏ" cắt giảm 50GW nhiệt điện nhỏ, và duy trì danh sách đen vi phạm môi trường ghi nhận 30.000 trường hợp tại PBOC. Bangladesh thành lập quỹ quay vòng tái cấp vốn 27 triệu USD từ 2009, triển khai lộ trình Khung chính sách TDX 3 giai đoạn (19 chính sách), và áp hạn mức cho vay xanh tối thiểu 5% từ 01/2016 cho 4 ngành.

5. Điểm khác biệt về kết quả mở rộng tín dụng xanh giữa Agribank và Vietinbank giai đoạn 2017 – 2019 trong khóa luận là gì?
Agribank chiếm lĩnh thị phần lớn nhất trong hệ thống (13,77% – 14,47%), tập trung vào nông nghiệp sạch với tệp khách hàng mở rộng nhanh từ 2.200 lên 12.710 khách hàng và doanh số cho vay đạt 47.200 tỷ đồng năm 2019. Vietinbank chiếm thị phần khiêm tốn hơn (1,77% – 3,47%) nhưng doanh số tăng đều từ 9.791 tỷ lên 16.000 tỷ đồng, tập trung chủ yếu vào năng lượng tái tạo và năng lượng sạch (chiếm 71% dư nợ xanh) với 89% là dư nợ trung - dài hạn.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Nguyễn Thị Hà Trang đã làm rõ bức tranh thực trạng mở rộng tín dụng xanh tại các NHTM Việt Nam giai đoạn 2017 – 2019 trên cơ sở tổng hợp hệ thống văn bản pháp lý và số liệu thống kê ngành. Mặc dù quy mô dư nợ xanh và số lượng khách hàng tiếp cận vốn có bước tăng trưởng liên tục, tỷ trọng tín dụng xanh trong toàn nền kinh tế vẫn còn khiêm tốn và phân bổ chưa đồng đều giữa các lĩnh vực. Các giải pháp và kiến nghị được đề xuất đã bám sát định hướng của Đề án phát triển ngân hàng xanh (Quyết định 1604/QĐ-NHNN), cung cấp cơ sở tham khảo có giá trị cho công tác quản trị tại các NHTM và hoàn thiện chính sách tiền tệ hỗ trợ tăng trưởng bền vững.