Luận văn thạc sĩ về mô phỏng ứng xử của dầm ống thép nhồi bê tông

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu kỹ thuật xây dựng mô phỏng ứng xử của dầm ống thép nhồi bê tông, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn thiện trong lĩnh vực kỹ

Chuyên ngành

Kỹ thuật Xây dựng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2024

135
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về dầm ống thép nhồi bê tông

Dầm ống thép nhồi bê tông (CFST) là một dạng kết cấu liên hợp giữa ống thép và lõi bê tông, mang lại nhiều ưu điểm vượt trội trong kỹ thuật xây dựng. Mô phỏng kết cấu của dầm CFST cho thấy khả năng chịu lực lớn, tính dẻo cao và độ cứng lớn. Việc sử dụng bê tông trong ống thép không chỉ tăng cường khả năng chịu tải mà còn bảo vệ ống thép khỏi mất ổn định cục bộ. Theo nghiên cứu, CFST có khả năng kháng nở hông tốt hơn so với các kết cấu thông thường, tạo ra sự ổn định cho công trình trong điều kiện tải trọng động đất. Chính vì vậy, CFST ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong các công trình nhà cao tầng, cầu và công trình ngoài khơi.

II. Phương pháp mô phỏng và phân tích dầm CFST

Mô phỏng ứng xử của dầm CFST được thực hiện thông qua phần mềm phần tử hữu hạn (PTHH) ABAQUS. Phân tích kết cấu được tiến hành để khảo sát ảnh hưởng của các yếu tố như cường độ bê tông, cường độ thép và tỷ số D/t đến ứng xử chịu uốn của dầm. Mô hình PTHH được kiểm chứng bằng kết quả thí nghiệm, cho thấy độ chính xác cao trong việc dự đoán đường cong ứng xử tải trọng - chuyển vị. Kết quả cho thấy cường độ bê tông có ảnh hưởng không đáng kể đến đặc trưng cơ học của dầm, trong khi cường độ thép có tác động lớn đến độ cứng chảy dẻo và tải trọng giới hạn của dầm CFST.

2.1. Mô hình vật liệu

Mô hình vật liệu bê tông và thép được xây dựng dựa trên các tiêu chuẩn hiện hành, đảm bảo tính chính xác trong mô phỏng. Bê tông được mô hình hóa với các thông số như cường độ chịu nén và chịu kéo, trong khi thép được mô phỏng với giới hạn chảy và độ bền kéo. Sự tương tác giữa ống thép và lõi bê tông cũng được xem xét để đảm bảo rằng các yếu tố này ảnh hưởng lẫn nhau trong quá trình chịu tải.

2.2. Điều kiện biên và tải trọng

Điều kiện biên được thiết lập để mô phỏng chính xác trạng thái thực tế của dầm CFST. Tải trọng được áp dụng theo phương pháp tải trọng đơn thuần, giúp phân tích ứng xử của dầm dưới tải trọng thực tế. Kết quả mô phỏng cho thấy sự tương tác giữa các yếu tố này ảnh hưởng lớn đến ứng xử chịu uốn và độ bền của dầm CFST.

III. Kết quả và phân tích

Kết quả mô phỏng cho thấy cường độ thép có ảnh hưởng đáng kể đến độ cứng chảy dẻo của dầm CFST. Khi cường độ thép tăng từ 235 MPa đến 630 MPa, độ cứng chảy dẻo của dầm CFST tăng từ 18,25% đến 88,32%. Tương tự, tải trọng chảy dẻo và tải trọng giới hạn cũng tăng đáng kể, cho thấy tầm quan trọng của việc lựa chọn cường độ thép trong thiết kế dầm CFST. Ngoài ra, tỷ số D/t cũng ảnh hưởng rõ rệt đến ứng xử và đặc trưng cơ học của dầm, với độ cứng đàn hồi tăng lên khi tỷ số này giảm xuống.

3.1. Ảnh hưởng của cường độ bê tông

Mặc dù cường độ bê tông có ảnh hưởng không đáng kể đến ứng xử của dầm CFST, nhưng việc nghiên cứu tác động của nó vẫn cần thiết để hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến kết cấu. Kết quả cho thấy rằng cường độ bê tông không làm thay đổi đáng kể độ cứng đàn hồi của dầm, điều này cho thấy rằng lựa chọn cường độ bê tông không phải là yếu tố chính trong thiết kế dầm CFST.

3.2. Ảnh hưởng của tỷ số D t

Tỷ số D/t có tác động mạnh mẽ đến các đặc trưng cơ học của dầm CFST. Khi tỷ số này giảm từ 75 đến 25, độ cứng đàn hồi của dầm CFST tăng từ 23,78% đến 129,14%. Điều này cho thấy rằng việc tối ưu hóa tỷ số D/t có thể cải thiện đáng kể hiệu suất của dầm trong các ứng dụng thực tế.

IV. Kết luận và kiến nghị

Luận văn đã chỉ ra rằng mô phỏng ứng xử của dầm CFST là một công cụ hữu ích trong việc phân tích và thiết kế kết cấu. Kết quả nghiên cứu cho thấy cường độ thép và tỷ số D/t là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến ứng xử của dầm CFST. Đề xuất cho các nghiên cứu tiếp theo là mở rộng phạm vi nghiên cứu để bao gồm các loại tải trọng khác nhau và các điều kiện môi trường khác nhau, nhằm cải thiện độ chính xác và tính ứng dụng của mô hình trong thực tế.

10/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 nêu lên lý do thực hiện đề tài nghiên cứu, mục đích nghiên cứu, đối tượng, và phạm vi nghiên cứu. Ngoài ra, phương pháp và ý nghĩa nghiên cứu cũng được trình bày trong chương này. Chương 2 trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu kết cấu CFST. Chương này được chia làm 2 phần bao gồm tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về các vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu.

Các vấn đề này được tổng kết và nhận xét để rút ra định hướng nghiên cứu của luận văn. Chương 3 giới thiệu về phần mềm ABAQUS, đây là phần mềm được sử dụng để mô phỏng dầm CFST. Tiếp theo, chương này đề cập đến cơ sở lý thuyết về mô hình vật liệu của bê tông khi chịu nén và kéo, mô hình vật liệu của thép để khai báo trong phần mềm ABAQUS. Bên cạnh đó, lý thuyết về tương tác giữa ống thép và lõi bê tông cũng được giới thiệu trong chương này.

Sau cùng là phần trình bày về loại phần tử được sử dụng trong ABAQUS. Chương 4 trình bày các bước mô phỏng ứng xử chịu uốn của dầm CFST bằng phần mềm ABAQUS. Kết quả mô phỏng được trình bày bao gồm: kết quả chuyển vị, phân bố ứng suất trong ống thép và lõi bê tông. Kết quả mô phỏng sẽ được so sánh với kết quả thí nghiệm thực tiễn dựa trên phương diện đường cong ứng xử tải trọng – chuyển vị.

Trên cơ sở mô hình đã mô phỏng, chương này nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ số D/t, cường độ bê tông và thép đối với ứng xử của dầm CFST. Từ các kết quả thu được ở chương 4, chương 5 rút ra một số kết luận quan trọng về điểm mạnh và điểm yếu của phương pháp kèm với các kiến nghị cho những nghiên cứu tiếp theo. Mục tài liệu tham khảo trong luận văn trích dẫn các tài liệu liên quan phục vụ cho mục đích nghiên cứu của đề tài. Tổng quan 7 CHƯƠNG 2.

TỔNG QUAN Trong chương này, tình hình nghiên cứu ở nước ngoài được trình bày ở phần 2. Tình hình nghiên cứu trong nước được trình bày ở phần 2. Từ các kết quả nghiên cứu này, một số kết luận được trình bày trong phần 2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Elchalakani và cộng sự [8] đã thực hiện thí nghiệm nghiên cứu ứng xử của ống CFST tiết diện tròn chịu uốn.

Thí nghiệm bao gồm 12 mẫu CFST có cùng chiều dài 1500 mm. Mẫu thử được đặt trên hệ thống uốn thuần túy được thiết kế và vận hành tại Đại học Monash. Ưu điểm của hệ thống này là khả năng tác dụng moment uốn thuần túy tại giữa nhịp của mẫu thử mà không tạo ra lực dọc trục hoặc lực cắt đáng kể. Tác giả đã khảo sát ảnh hưởng của đại lượng D/t đến cấu kiện CFST bằng cách cho tỷ số D/t thay đổi từ 12 đến 110.

Bên cạnh đó, tác giả cũng so sánh ứng xử của cấu kiện CFST với thép ống tròn rỗng. Kết quả thí nghiệm cho thấy khi tỷ số D/t ≤ 40 thì việc nhồi bê tông vào trong ống thép giúp ngăn cản sự mất ổn định cục bộ và việc bê tông được nhồi trong ống thép giúp tăng cường độ bền, độ dẻo, và khả năng hấp thụ năng lượng. Ngoài ra, công thức tính khả năng chịu uốn giới hạn của CFST được xác định dựa trên các khối ứng suất dẻo theo các tiêu chuẩn như AISC, AIJ, CIDECT, và EC4 phù hợp với kết quả thí nghiệm. Han [9] đã thực hiện thí nghiệm nghiên cứu khả năng chịu uốn của 16 mẫu dầm CFST tiết diện vuông và chữ nhật.

Thí nghiệm uốn 4 điểm với các dầm đều có chiều dài 1100 mm. Bên cạnh đó, tác giả đã thiết lập mô hình PTHH khảo sát sự ảnh hưởng của các đại lượng như tỷ số chiều cao trên chiều rộng mặt cắt tiết diện từ 1 đến 2, tỷ số độ mảnh của ống thép từ 20 đến 50 đối với khả năng chịu uốn của dầm. Kết quả cho thấy đường cong ứng xử tải trọng – chuyển vị từ kết quả mô phỏng có hình dạng tương đương với kết quả thí nghiệm. Từ đó, tác giả đề xuất phương pháp đơn giản hóa tính toán khả năng chịu uốn của dầm CFST dựa trên mô hình đã thiết lập.

Khả năng chịu uốn của dầm từ kết quả mô phỏng và thí nghiệm được so sánh với giá trị Tổng quan 8 tính toán theo các tiêu chuẩn AIJ-1997, BS5400-1979, EC4-1994, LRFD-AISC (1999) và phương pháp được đề xuất. Nhìn chung, khả năng chịu uốn tính toán theo tiêu chuẩn AIJ (1997) và LRFD-AISC (1999) thấp hơn khoảng 20% so với thí nghiệm, khả năng chịu uốn tính toán theo tiêu chuẩn BS5400 (1979) thấp hơn khoảng 12% so với thí nghiệm. EC4 (1994) và phương pháp đề xuất có kết quả thấp hơn khoảng 10% so với kết quả thí nghiệm. Nghiên cứu này là cơ sở thiết lập công thức tính toán khả năng chịu uốn của dầm CFST tiết diện vuông và chữ nhật để đưa vào tiêu chuẩn thiết kế.

Gho và Liu [10] đã thực hiện thí nghiệm kiểm tra khả năng chịu uốn của dầm CFST chịu tải trọng nén đơn giản. Thí nghiệm bao gồm 12 ống thép rỗng dài 1600 mm tiết diện chữ nhật với các kích thước mặt cắt ngang là 150 × 150 mm, 200 × 150 mm, và 250 × 150 mm có giới hạn chảy lần lượt là 438 MPa, 495 MPa, và 409 MPa. Bê tông cường độ cao (f’c = 56,3 - 90,9 MPa) được đổ vào trong các ống thép. Sự mất ổn định cục bộ được ghi nhận cụ thể trên bề mặt mẫu thí nghiệm.

Trong thí nghiệm, độ biến dạng và độ võng của mẫu lần đầu tiên được ghi lại ở khoảng tải bằng 5% tải trọng phá hủy. Đối với tất cả các mức tải trọng, việc gia tải được tạm dừng trong một phút để ổn định độ dẻo của thép và vết nứt của bê tông. Vết nứt bê tông xuất hiện đầu tiên được ghi nhận ở mức tải trọng xấp xỉ 50 kN đối với mẫu B01 đến B04, 80 kN đối với mẫu B05 đến B08, và 100 kN đối với mẫu B09 đến B12. Sau khi mẫu bị uốn, tải trọng được tác dụng liên tục.

Kết quả thí nghiệm sẽ được so sánh với các giá trị được tính toán từ các công thức thiết kế trong EC4, ACI, và AISC. Để tăng độ tin cậy cho kết quả nghiên cứu, khả năng chịu uốn từ kết quả thí nghiệm được so sánh với kết quả tính toán theo các tiêu chuẩn EC4, ACI, và AISC. Kết quả cho thấy giá trị tính toán khả năng chịu uốn theo tiêu chuẩn EC4 có độ chênh lệch nhỏ nhất so với kết quả thí nghiệm là 11%. Mặt khác, kết quả tính toán theo tiêu chuẩn ACI và AISC thấp hơn khả năng chịu uốn của mẫu thử lần lượt là 15 và 18%.

So sánh với dữ liệu thí nghiệm nghiên cứu trước đây cho thấy tiêu chuẩn EC4, ACI và AISC dự đoán chính xác cường độ chịu uốn lần lượt là 9, 12, và 15%. Tác giả cũng nhận định cần Tổng quan 9 có thêm nhiều nghiên cứu để có độ chính xác cao hơn khi thiết kế cột CFST tiết diện chữ nhật. Moon và cộng sự [11] đã thiết lập mô hình PTHH bằng phần mềm ABAQUS để mô phỏng ứng xử chịu uốn của CFST tiết diện tròn. Ống thép được mô phỏng có đường kính và độ dày lần lượt là 508 mm và 6,4 mm.

Cường độ chịu nén của bê tông f c là 84 MPa và giới hạn chảy của thép fy là 521 MPa. Dầm CFST có chiều dài 5490 mm với tải tuần hoàn được tác dụng tại giữa nhịp. Tác giả khảo sát ảnh hưởng của hệ số ma sát thông qua quan hệ moment – độ trượt và quan hệ độ trôi – độ trượt. Kết quả cho thấy độ trượt mô phỏng bị ảnh hưởng đáng kể bởi hệ số ma sát, trong khi ảnh hưởng của hệ số ma sát đến cường độ giới hạn là ít đáng kể hơn.

Hệ số ma sát 0,47 dự đoán tốt nhất về cả lực cản và độ trượt, và giá trị này được chọn để sử dụng trong mô hình phân tích. Bên cạnh đó, tác giả nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ số độ mảnh của ống thép (D/t) và tính chất của vật liệu đối với hiệu ứng kháng nở hông, tương tác liên hợp, và ứng xử của cấu kiện CFST. Các kết quả phân tích được so sánh với các thí nghiệm và mô hình nghiên cứu trước đó. Kết quả cho thấy việc giảm tỷ số giới hạn chảy của thép trên cường độ chịu nén của bê tông ( f y / f c ) làm chậm quá trình gây mất ổn định cục bộ và tăng khả năng chịu uốn của CFST.

Mặt khác, tỷ số độ mảnh D/t ít ảnh hưởng đến khả năng chịu uốn của cấu kiện này. Nghiên cứu này là cơ sở thiết kế khả năng chịu uốn của cấu kiện CFST. Wang và cộng sự [12] nghiên cứu khả năng chịu uốn của dầm CFST tiết diện chữ nhật nhồi bê tông bằng cách thiết lập mô hình phần tử hữu hạn. Khả năng chịu uốn và đường cong ứng xử moment - chuyển vị tại vị trí giữa nhịp từ kết quả thí nghiệm được so sánh với kết quả mô phỏng.

Các mẫu dầm được thí nghiệm uốn 3 điểm và 4 điểm. Các mẫu được nạp theo phương pháp tải 3 điểm hoặc 4 điểm. Đường quan hệ moment − độ võng của kết quả mô phỏng có sự tương đồng giữa đường cong tải trọng so với biến dạng dự đoán và kết quả thu được từ các thí nghiệm. Khi chịu uốn, dầm CFST tiết diện chữ nhật nhìn chung trải qua các giai đoạn biến dạng đàn hồi, đàn hồi − dẻo, và biến dạng dẻo.

Không có đường cong giảm dần rõ ràng cho đến khi mẫu Tổng quan 10 đạt được độ bền giới hạn. Độ võng của dầm có thể lớn hơn hoặc bằng 1/10 chiều dài dầm và độ võng giữa nhịp đạt tới 10 lần chiều cao mặt cắt tiết diện. Các mẫu CFST tiết diện chữ nhật chịu uốn có đặc tính rất dẻo. Trong thực nghiệm, vết nứt của bê tông ở vùng chịu kéo làm giảm độ cứng của các cấu kiện liên hợp.

Tuy nhiên, trong mô phỏng, vết nứt bê tông ở mức ứng suất thấp sẽ được bỏ qua. Do đó, có sự khác biệt về độ cứng đàn hồi giữa kết quả thực nghiệm và kết quả mô phỏng ở giai đoạn đàn hồi. Trong giai đoạn đàn hồi − dẻo và giai đoạn dẻo, giá trị moment từ kết quả mô phỏng phù hợp với các kết quả thí nghiệm. Kết quả kiểm chứng cho thấy mô hình được mô phỏng đúng ứng xử chịu uốn của cấu kiện dầm CFST.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Luận văn thạc sĩ về mô phỏng ứng xử của dầm ống thép nhồi bê tông" của tác giả Nguyễn Thiên Phú, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Cao Văn Vui và TS. Lê Bá Khánh, nghiên cứu về kỹ thuật xây dựng, đặc biệt là trong lĩnh vực mô phỏng và phân tích ứng xử của dầm ống thép nhồi bê tông. Luận văn này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về ứng dụng của mô phỏng trong thiết kế kết cấu mà còn giúp các kỹ sư và sinh viên ngành xây dựng hiểu rõ hơn về các phương pháp phân tích hiện đại trong ngành.

Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Hướng dẫn tính toán móng cọc nhồi, cọc ép theo TCVN 10304:2014, nơi cung cấp thông tin chi tiết về tính toán kết cấu nền, hay Luận văn thạc sĩ về ổn định tuyến đê bao trên nền đất yếu ở Bạc Liêu - Cà Mau, giúp bạn hiểu thêm về các ứng dụng của kỹ thuật xây dựng trong việc xử lý đất yếu, cũng như Nghiên cứu tính chất cơ học và đặc điểm phá hủy của bê tông cường độ cao sử dụng nano silica trong công trình cầu, cung cấp cái nhìn về vật liệu xây dựng hiện đại. Những tài liệu này sẽ bổ sung thêm cho bạn những kiến thức quý giá trong lĩnh vực kỹ thuật xây dựng và vật liệu.