Chương I: TỔNG QUAN VỀ HỘP SỐ TỰ ĐỘNG VÀ VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU 1. Hộp số ô tô 1. Hộp số thường Hộp số thường trên ô tô có kết cấu đơn giản nên giá thành rẻ; tuy nhiên hộp số thường con tồn tại các nhược điểm sau: a. Hiệu số truyền thấp do mất công suất khi phải truyền qua các cặp bánh răng.
Làm việc có tiếng ồn do các cặp bánh răng an khớp với nhau. Chuyển số khó khăn. Việc chuyển số hoàn toàn phụ thuộc vào thao tác của người điều khiển.1 Hộp số thường 1. Hộp số vô cấp Không giống như hộp số truyền thống, hộp số vô cấp (continuously variable transmission – CVT) không có các cặp bánh răng tạo tỉ số truyền.
CVT thường hoạt động trên một hệ thống puli (ròng rọc) và dây đai truyền cho phép thay đổi vô cấp và liên tục, không tách biệt riêng rẽ các số. Hệ puli với đường kính thay đổi là thành phần chính của CVT. Mỗi puli được tạo thành từ hai khối hình nón có góc nghiêng 20 độ đặt 9 đối diện với nhau. Một dây đai chạy trong rãnh giữa hai khối hình nón này.
Hai khối hình nón này có thể thay đổi khoảng cách giữa chúng. Khi hai khối hình nón tách xa nhau, dây đai ngập sâu vào trong rãnh và bán kính của dây đai quấn quanh puli sẽ giảm đi. Khi hai khối hình nón này ở gần nhau, bán kính của dây đai tăng lên.2 Hộp số vô cấp Hệ puli gồm một puli chủ động nối với trục quay của động cơ. Puli thứ hai gọi là puli bị động có chức năng truyền mô men đến trục dẫn động bánh xe.
Tỉ số giữa bán kính quay trên puli chủ động và bán kính quay của puli bị động xác lập nên “số”. Khi một puli tăng bán kính và cái kia giảm bán kính để giữ cho dây đai luôn bám chặt vào giữa hai khối hình nón, chúng sẽ tạo ra vô số các tỉ số truyền, từ mức thấp nhất cho đến cao nhất. Ưu điểm của CVT là giảm những cú sốc khi chuyển số qua đó có thể tăng đáng kể khả năng tiết kiệm nhiên liệu. Tuy nhiên, dây đai của nó cũng có thể bị trượt và kéo giãn, làm giảm hiệu suất hoạt động.
Điểm yếu lớn nhất của CVT là không chịu được mô-men xoắn cao, do đó không ứng dụng được với xe thể thao. Song sự đơn giản của CVT đã biến chúng trở thành lý tưởng cho xe máy. Xe hybrid lắp CVT cũng đang phổ biến và hộp số này đang được sử dụng cho chiếc Toyota Prius danh tiếng.3 Hộp số tự động 1. Đặc điểm của hộp số tự động là: Quá trình chuyển số được thực hiện tự động; Mô men xoắn được truyền đến các bánh xe chủ động một cách êm dịu và gần như liên tục, tương ứng với lực cản chuyển động và tốc độ chuyển động của ô tô.
Tăng được khả năng động lực học của ô tô. Giảm được tải trọng động tác dụng lên các chi tiết của hệ thống truyền lực, tránh được quá tải cho động cơ và hệ thống truyền lực vì giữa chúng được nối với nhau bằng biến mô thuỷ lực. Giảm được thao tác điều khiển ly hớp và hộp số, giảm cường độ lao động của người lái, tăng tính tiện nghi của ô tô. Tuy nhiên, hộp số tự động cũng có nhược điểm là kết cấu phức tạp, giá thành cao.
Sự khác biệt chủ yếu giữa hộp số tự động và hộp số cơ khí là hộp số cơ khí thay đổi số truyền bằng tay thông qua người lái để các bánh răng ăn khớp với nhau để tạo nên giá trị tỉ số truyền khác nhau giữa trục sơ cấp (nối liền với động cơ) và trục thứ cấp (nối liền với trục truyền ra các cầu chủ động). Trong khi ở hộp số tự động thì khác hẳn, bộ bánh răng hành tinh sẽ thực hiện tất cả những nhiệm vụ phức tạp đó.3 Hộp số tự động 11 Với hộp số tự động việc chuyển số là hoàn toàn tự động tùy theo tải, điều kiện mặt đường… Cấu tạo bên trong một hộp số tự động, ta thấy có sự sắp đặt thành từng phần riêng rẽ ở từng không gian hợp lý bao gồm: - Biến mô thủy lực. - Một bộ truyền bánh răng hành tinh. - Một bộ phanh đai dùng để khoá các phần của bộ truyền bánh răng hành tinh.
- Một bộ gồm ba mảnh ly hợp ướt làm việc trong dầu dùng để khoá các phần của bộ truyền. - Một hệ thống thuỷ lực để điều khiển các ly hợp và phanh đai. - Một bộ bơm bánh răng lớn để luân chuyển dầu truyền động trong hộp số. Bất cứ bộ truyền bánh răng hành tinh cơ sở nào cũng có ba phần chính: - Bánh răng mặt trời (S); - Các bánh răng hành tinh và giá bánh răng hành tinh (C); - Vành răng ngoài (R); Hộp số tự động trước kia thường có 4 số tiến và 1 số lùi tuy nhiên hiện nay đã sử dụng hộp số 7 - 8 số tiến và 1 số lùi nhằm tăng tính năng động lực học và tiết kiệm nhiên liệu.
Cấu tạo và nguyên lý hoạt động của các bộ phận Hộp số tự động bao gồm các bộ phận chính sau : - Bộ biến mô; - Bộ bánh răng hành tinh; - Bộ điều khiển thuỷ lực hoặc điện; - Bộ truyền động bánh răng cuối cùng (Đối với loại hộp số tự động sử dụng trên ô tô FF); Các thanh điều khiển; - Dầu hộp số tự động. 12 Chúng thực hiện phần lớn các chức năng của hộp số tự động, các bộ phận này phải vận hành chính xác cũng như phải kết hợp chặt chẽ với nhau. Bộ biến mô thuỷ lực Biến mô thuỷ lực được lắp ở đầu vào của chuỗi bánh răng truyền động hộp số và được bắt bằng bulông vào trục sau của trục khuỷu thông qua tấm truyền động. Bộ biến mô được đổ đầy bằng dầu hộp số tự động, nó làm tăng mô men do động cơ tạo ra và truyền mô men này đến hộp số hoặc đóng vai trò như một khớp nối thuỷ lực truyền mô men đến hộp số.
Trên xe có lắp hộp số tự động, bộ biến mô cũng có tác dụng như bánh đà của động cơ. Do không cần có một bánh đà nặng như vậy trên xe có hộp số thường, nên xe có hộp số tự động sử dụng tấm truyền động có vành bên ngoài dạng vành răng dùng cho việc khởi động động cơ bằng mô tơ khởi động. Khi tấm dẫn động quay với tốc độ cao cùng với biến mô thuỷ lực, trọng lượng của nó sẽ tạo nên sự cân bằng tốt nhằm ngăn chặn sự rung động khi quay với tốc độ cao. Các chức năng của bộ biến mô: Tăng mô men do động cơ tạo ra; Đóng vai trò như một ly hợp thuỷ lực để truyền hay không truyền mô men động cơ đến hộp số; Hấp thụ các dao động xoắn của động cơ và hệ thống truyền lực; Có tác dụng như một bánh đà để làm đều chuyển động quay của động cơ; Dẫn động bơm dầu của hệ thống điều khiển thuỷ lực.
Biến mô thuỷ lực gồm có 3 bộ phận cơ bản: - Bánh bơm (B) Bánh bơm gắn liền với vỏ biến mô, nó có rất nhiều cánh biên dạng cong được bố trí theo hướng kính ở bên trong. Vành dẫn hướng được bố trí trên cạnh trong của bánh bơm để dẫn hướng cho dòng chảy của dầu. Vỏ của biến mô được nối với trục khuỷu động cơ qua tấm dẫn động.4 Sơ đồ cấu tạo biến mô - Bánh tuabin (T) Cũng như bánh bơm, bánh tuabin có rất nhiều cánh dẫn được bố trí bên trong. Hướng cong của các cánh dẫn này ngược chiều với cánh dẫn trên bánh bơm.
Bánh tuabin được lắp trên trục sơ cấp hộp số. - Stato và khớp một chiều (Bánh phản ứng - P) Stato được đặt giữa bánh bơm và bánh tuabin. Nó được lắp trên trục stato, và trục này được lắp cố định vào vỏ hộp số qua khớp một chiều. Các cánh dẫn của stato nhận dòng dầu khi nó đi ra khỏi rôto tuabin và hướng nó đập vào mặt sau của cánh dẫn trên bánh bơm làm cho bánh bơm được cường hoá.
Khớp một chiều cho phép stato quay cùng chiều với trục khuỷu động cơ. Tuy nhiên nếu stato có xu hướng quay theo chiều ngược lại, khớp một chiều sẽ khoá stato 14 lại không cho nó quay. Do vậy stato quay hay bị khoá phụ thuộc vào hướng của dòng dầu đập vào cánh dẫn của nó. Nguyên lý làm việc của biến mô: *Sự truyền mô men (Hình 1.5) Khi tốc độ của bơm tăng thì lực li tâm làm cho dầu bắt đầu chảy từ tâm bánh bơm ra phía ngoài.
Khi tốc độ bánh bơm tăng lên nữa thì dầu sẽ bị ép văng ra khỏi bánh bơm. Dầu va vào cánh của bánh tua bin làm cho bánh tua bin bắt đầu quay cùng chiều với bánh bơm. Dầu chảy vào trong dọc theo cánh của bánh tua bin. Khi nó chui được vào bên trong bánh tua bin thì mặt cong trong của cánh sẽ đổi hướng dầu ngược lại về phía bánh bơm và chu kỳ lại bắt đầu từ đầu.
Việc truyền mô men được thực hiện nờ sự tuần hoàn dầu qua bánh bơm và tua bin.5 Sự truyền mô men của biến mô 15 *Khuyếch đại mô men (Hình 1.6) Việc khuyếch đại mô men được biến mô thực hiện bằng cách dẫn dầu khi nó vẫn còn năng lượng sau khi đã đi qua bánh tua bin trở về bánh bơm qua cánh của stato. Nói cách khác, bánh bơm được quay do mô men từ động cơ mà mô men này lại được bổ sung dầu quay về từ bánh tua bin. Có thể nói rằng bánh bơm khuyếch đại mô men ban đầu để dẫn động bánh tua bin.6 Khuyếch đại mô men của biến mô *Tính năng của biến mô (Hình 1.7) Độ khuyếch đại mô men do bộ biến mô sẽ tăng theo tỉ lệ với dòng xoáy. Có nghĩa là mô men sẽ trở thành cực đại khi bánh tua bin dừng.
Hoạt động của biến mô được chia thành hai dải hoạt động: - Dải biến mô, trong đó có sự khuyếch đại mô men - Dải khớp nối, trong đó chỉ thuần túy diễn ra việc truyền mô men và sự khuyếch đại mô men không xảy ra. 16 Điểm ly hợp là dường phân chia giữa hai phạm vi đó. Hiệu suất truyền động của biến mô cho thấy năng lượng truyền cho bánh bơm được truyền tới bánh tua bin với hiệu quả ra sao. Năng lượng ở đây là công suất của bản thân động cơ, tỉ lệ với tốc độ động cơ và mô men động cơ.