CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Giới thiệu về giảm chấn thủy lực hai lớp vỏ 1. Nguyên lý hoạt động và cấu tạo - Trong điều kiện làm việc phức tạp được tạo nên do yếu tố mặt đường, hệ thống treo, kết cấu khung vỏ, lốp và gia tốc của xe …, xe sẽ dao động mạnh làm ảnh hưởng đến độ êm dịu của xe, an toàn hàng hóa và tạo sự mệt mỏi cho con người. Và khi xe dao động, bánh xe bám mặt đường kém làm cho việc dẫn hướng và bám đường của xe bị ảnh hưởng, gây ra khả năng mất an toàn cho người và hàng hóa…Vậy đối với giảm chấn yêu cầu đặt ra là: + Dập tắt càng nhanh các dao động nếu tần số dao động càng lớn.
Mục đích để tránh cho thùng xe khỏi bị lắc khi đi qua đường mấp mô lớn. + Dập tắt chậm các dao động nếu ôtô chạy trên đường ít mấp mô (độ lồi lõm của đường càng bé và dày). + Hạn chế các lực truyền qua giảm chấn đến thùng xe. + Làm việc ổn định khi ôtô chuyển động trong các điều kiện đường xá khác nhau và nhiệt độ không khí khác nhau.
Để xe chuyển động êm dịu an toàn, ngoài giảm chấn thì cần phải kết hợp với các yếu tố khác của hệ thống treo nhíp, lốp xe và khung xe.1: Hệ thống treo 11 Hình 1.1 trên là hệ thống treo phụ thuộc, các yếu tố trên sẽ cấu thành sự êm dịu khi hoạt động của xe. - Nguyên lý làm việc của giảm chấn thủy lực hai lớp vỏ: chất lỏng bị dồn từ buồng chứa này sang buồng chứa khác qua những van tiết lưu rất bé nên chất lỏng chịu sức cản chuyển động rất lớn. Sức cản làm dập tắt nhanh các chấn động và năng lượng của dao động bị mất biến thành nhiệt năng nung nóng chất lỏng chứa trong giảm chấn. Tuy nhiên để đánh giá các thông số của giảm chấn hai lớp vỏ thủy lực là khá phức tạp, đòi hỏi phải có quá trình tính toán phân tích bằng thực nghiệm được thể hiện trong hai quá trình làm việc của giảm chấn (quá trình nén là quá trình lốp xe gần khung xe, quá trình trả là quá trình lốp xe rời xa khung xe).
Khi piston đi xuống là quá trình nén, áp suất dầu trong buồng B tăng lên, lúc này tùy thuộc vào các thông số thiết kế của van và lực tác động piston (nén nhẹ và nén mạnh) mà dầu sẽ di chuyển từ buồng A sang buồng B, vì vậy piston di chuyển xuống dưới, trong quá trình này một phần thể tích của buồng A bị chiếm chỗ của thanh piston, nếu quá trình di chuyển của piston có vận tốc cao và khoảng dịch chuyển lớn làm cho áp suất buồng B tăng cao thì một phần dầu sẽ di chuyển sang buồng C (dầu di chuyển qua van bù 5) làm áp suất buồng C và D tăng lên. Dưới tác động của hệ thống đàn hồi như nhíp, lốp… và các yếu tố mặt đường, piston giảm chấn di chuyển về phía trên (quá trình trả), khi đó áp suất buồng A tăng cao dầu sẽ di chuyển từ buồng B sang buồng A, quá trình di chuyển này phụ thuộc vào các yếu tố cấu tạo của van cũng như độ mở của van, các yếu tố tác động khác như hệ thống đàn hồi, mặt đường, gia tốc của xe… ; khi đó áp dầu buồng B giảm xuống và van bù 5 mở để cho dầu buồng C di chuyển sang buồng B. Buồng D chứa khí và được nạp áp suất thấp (3 – 6 kgf/cm2). Làm như thế để chống phát sinh tiếng ồn do hiện tượng tạo bọt và xâm thực thường xảy ra trong các bộ giảm chấn chỉ sử dụng chất lỏng.
Giảm thiểu hiện tượng xâm thực và tạo bọt còn giúp tạo ra lực cản ổn định, nhờ thế mà tăng độ êm và vận hành ổn định của xe. Quá trình này được lặp đi lặp lại trong suốt quá trình chuyển động của xe. 12 - Trong quá trình hoạt động do ma sát giữa dầu và các van, do môi trường làm việc và ma sát giữa piston và xylanh. Vì vậy nhiệt độ tăng cao sẽ gây tiếng kêu, sinh bọt khí vì giảm hiệu quả làm việc của giảm chấn.
Vì vậy đối với giảm chấn thủy lực, việc lựa chọn dầu thủy lực để đưa vào sử dụng cần tính đến lựa chọn loại dầu phù hợp (trong trường hợp cần thiết nhà sản xuất phải dựa vào các nhà cung cấp dầu uy tín để tham khảo), đối với các xe có chất lượng cao người ta còn dùng bằng khí Gas và khí Nitơ có áp suất cao, tuy nhiên loại này cần chế tạo chính xác, vật liệu tốt, chi phí cao. - Hiện tượng sục khí trong giảm chấn. Khi chất lỏng chảy với tốc độ cao trong bộ giảm chấn, áp suất ở một số vùng sẽ giảm xuống, tạo nên các túi khí hoặc bọt rỗng trong chất lỏng. Hiện tượng này được gọi là xâm thực.
Các bọt khí này sẽ bị vỡ khi di chuyển đến vùng áp suất cao, tạo ra áp suất va đập. Hiện tượng này phát sinh tiếng ồn, làm áp suất dao động, và có thể dẫn đến phá huỷ bộ giảm chấn. - Tạo bọt khí: Tạo bọt là quá trình làm trộn lẫn không khí với chất lỏng trong bộ giảm chấn. Hiện tượng này tạo ra tiếng ồn, làm áp suất dao động, và gây tổn thất áp suất.
- Đối với giảm chấn ngoài yếu tố thiết kế chế tạo thì việc bảo dưỡng, bảo trì thường xuyên để đảm bảo tính năng thiết kế ban đầu cần phải lưu ý như sau: Theo các chuyên gia kinh nghiệm về sử dụng ô tô, dù sử dụng hệ thống giảm xóc gas hay dầu thì đều mang lại sự êm ái và giúp xe ô tô ổn định hơn khi đánh lái. Qua các chuyển động tịnh tiến, động năng sẽ được chuyển hóa thành nhiệt năng đưa vào bên trong hệ thống thủy lực, nếu phải chịu quá nhiều lực, kết cấu có thể sẽ bị nứt gãy. - Thực tế, nếu xe ô tô thường xuyên chỉ chạy trong điều kiện đường xá bằng phẳng và ít phương tiện thì hệ thống giảm xóc sẽ có tuổi thọ dài hơn. - Ngược lại, xe ô tô liên tục phải dừng do tắc đường, chạy đường đèo với những góc cua gắt hoặc chạy đường vùng quê với nhiều ổ gà, ổ voi… sẽ khiến hệ thống giảm xóc phải chịu áp lực lớn.
Vì thế, tuổi thọ có thể ngắn hơn. Ngoài ra, một 13 số yếu tố làm ảnh hưởng đến tuổi thọ của giảm xóc bao gồm việc thường xuyên di chuyển ở vùng có nhiều nước muối/ cát/ nhiều sỏi đá… Đối với các xe tải việc chở quá tải không những ảnh hưởng đến tuổi thọ của xe, ảnh hưởng đến kết cấu hạ tầng giao thông, gây mất an toàn cho người và phương tiện tham gia giao thông, việc giảm chấn làm việc trong điều kiện quá tải làm tuổi thọ giảm. Khi lái xe cần chú ý quan sát hiện tượng rỉ dầu, tình trạng giảm chấn (cong vênh biến dạng…) đặc biệt tiếng kêu, cần phải kiểm tra định kỳ và thường xuyên để đảm bảo rằng giảm chấn luôn đảm bảo chất lượng hoạt động tốt nhất.2: Giảm chấn thủy lực hai lớp vỏ 14 - Cấu tạo của giảm chấn thủy lực hai lớp vỏ: Bao gồm hai xy lanh (một xy lanh bên ngoài 7 và một xy lanh bên trong 5), piston 3 và thanh kết nối 2 chuyển động, giá đỡ cùng với xy lanh giới hạn chuyển động của piston theo chiều dọc, van 6 được cố định vào xy lanh 7, bốn khoang được phân biệt khoang phía trên piston khoang A, khoang phía dưới piston khoang B, khoang bù dầu C và khoang chứa khí khoang D. Trong đó khoang A, B, C chứa dầu thủy lực.3: Cấu tạo chi tiết của giảm chấn thủy lực 2 lớp vỏ 1- Vỏ bảo vệ giảm chấn, 2- Trục piston, 3- Van piston (3.11), 4- Nắp trên piston, 5- Xy lanh trong, 6- Cụm van giảm tải (6.
Công dụng và yêu cầu chế tạo của giảm chấn + Dập tắt càng nhanh các dao động nếu tần số dao động càng lớn. Mục đích để tránh cho người và thùng xe, hàng hóa trên xe khỏi bị lắc khi đi qua đường mấp mô lớn. + Dập tắt chậm các dao động nếu ôtô chạy trên đường ít mấp mô. 15 + Hạn chế các lực truyền qua giảm chấn đến thùng xe.
+ Làm việc ổn định khi ôtô chuyển động (ổn định lái) trong các điều kiện đường xá khác nhau và nhiệt độ không khí khác nhau. + Có tuổi thọ cao. + Trọng lượng và kích thước bé. + Giá thành gia công hợp lý.4 dưới mô tả chi tiết việc lắp ghép giảm chấn thủy lực hai lớp vỏ, nhằm đảm bảo giảm chấn hoạt động đúng theo yêu cầu thiết kế, ngoài ra có thể phục vụ việc lắp ráp kiểm tra trong quá trình sản xuất hàng loạt.4: Sơ đồ lắp ghép giảm chấn thủy lực hai lớp vỏ 16 1.
Phân loại Trong thiết kế chế tạo ô tô tùy vào tính năng của mỗi loại xe và giá thành xe người ta sẽ chọn loại giảm chấn phù hợp với các yêu cầu, chính vì vậy có rất nhiều loại giảm chấn được sử dụng trong các loại xe khác nhau, đối với giảm chấn thủy lực được sử dụng rộng rãi cho các loại xe con, xe tải và các xe chuyên d ùng vì các đặc tính ưu việt của nó. Vì vậy người ta phân loại các dạng giảm chấn sau: - Loại giảm chấn một chiều, hai chiều. - Loại giảm chấn có van giảm tải hoặc không có van giảm tải. - Loại giảm chấn một lớp vỏ và loại hai lớp vỏ.
Phân loại giảm chấn thủy lực một chiều hoặc hai chiều theo các đặc điểm sau: + Theo tỉ số của hệ số cản Kn trong hành trình nén (lúc lốp tiến gần đến khung) và hệ số cản Kt trong hành trình trả (lúc lốp xa khung xe) với nội dung sau: - Loại tác dụng một chiều Kn=0. Chấn động chỉ được dập tắt ở hành trình trả tức là ứng với lúc bánh xe đi xa khung. - Loại giảm chấn hai chiều có đường đặc tính đối xứng. Chấn động bị dập tắt ở cả hai hành trình nén và trả.
- Loại giảm chấn hai chiều có đường đặc tính không đối xứng. Chấn động bị dập tắt ở cả hai hành trình nén và trả.6 bên dưới là dạng giảm chấn ống đơn hoạt động theo hai quá trình nén và trả. Quá trình hoạt động của giảm chấn ống đơn ở giai đoạn nén (Hình 1.5: Quá trình nén của piston Khi có lực tác động vào piston làm cho piston đi xuống, tùy vào vận tốc chuyển động của piston mà các van sẽ mở theo một mức nhất định (van được chế tạo bằng các lá thép lò xo).