Chương 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Hệ thống phanh ABS được sử dụng trên ô tô lần đầu tiên vào những năm thập kỷ 50 của thế kỷ XX. Các hệ thống này ban đầu là các cơ cấu điều chỉnh áp suất phanh bằng cơ khí và thủy lực, chưa có sự tham gia của máy tính điện tử. Theo thời gian, hệ thống phanh ABS được cải tiến, áp dụng các công nghệ về điện và điện tử để nâng cao hiệu quả hoạt động.
Ngày nay, hệ thống phanh ABS là một tiêu chuẩn bắt buộc với xe ô-tô tại nhiều nước trên thế giới. Yêu cầu chất lượng phanh Hệ thống phanh nói chung và hệ thống ABS nói riêng là hệ thống an toàn chủ động quan trọng nhất trên ô tô. Chất lượng của quá trình phanh ảnh hưởng tới khả năng xảy ra tai nạn cũng như mức độ nghiêm trọng khi tai nạn xảy ra. Vì vậy hệ thống phanh cần phải đảm bảo các yêu cầu về chất lượng phanh, gồm có.
• Yêu cầu về hiệu quả phanh. • Yêu cầu về ổn định khi phanh. Yêu cầu hiệu quả phanh là yêu cầu về khả năng dừng ô tô kể từ khi bắt đầu phanh. Đây là yêu cầu đối với hệ thống phanh theo phương dọc, thể hiện khả năng sinh lực phanh lớn nhất của hệ thống, được đánh giá thông qua các chỉ tiêu như quãng đường phanh, thời gian phanh, gia tốc phanh.
Hiệu quả phanh của xe phụ thuộc vào lực phanh sinh ra tại vùng tiếp xúc giữa bánh xe và mặt đường khi tác dụng mô men phanh lên bánh xe. Lực phanh sinh ra bị giới hạn bởi giá trị cực đại của phản lực mà mặt đường có thể tác dụng lên bánh xe theo phương dọc, gọi là lực bám dọc. Giá trị lực bám dọc được tính theo công thức.1) Trong công tức (1.1), F X là giá trị lực bám dọc, X là hệ số bám dọc, N là phần phản lực pháp tuyến từ mặt đường lên bánh xe. Hệ số bám dọc phụ thuộc vào điều kiện bám giữa bánh xe và mặt đường, góc lệch bên bánh xe…và độ trượt giữa bánh xe và mặt đường.
Điều kiện cần và đủ để nâng cao hiệu quả phanh là trị số lực bám dọc F X (t ) phải lớn và trị số lực phanh phải bằng hoặc gần bằng FX (t ). 9 Yêu cầu ổn định khi phanh là yêu cầu về khả năng giữ góc lệch của ô tô trước và sau khi phanh. Đây là yêu cầu đối với hệ thống phanh theo phương ngang, thể hiện khả năng giữ hướng chuyển động của ô tô khi phanh. Khả năng đáp ứng về ổn định phanh liên quan tới khả năng bám ngang giữa bánh xe với mặt đường và được đánh giá thông qua góc lệch ô tô khi phanh.
Tính ổn định hướng của xe phụ thuộc vào lực ngang tác dụng lên xe và khả năng bám giữa bánh xe với mặt đường theo phương ngang. Giá trị của lực bám ngang là giá trị cực đại của phản lực mà mặt đường có thể tác dụng lên bánh xe theo phương ngang, phụ thuộc tải trọng tác dụng lên bánh xe và hệ số bám ngang của bánh xe với mặt đường theo công thức.2 ) Trong công thức (1.2), F Y là giá trị lực bám ngang, N là phản lực pháp tuyến từ mặt đường lên bánh xe, Y là hệ số bám ngang. Hệ số bám ngang phụ thuộc vào điều kiện bánh xe và mặt đường, góc lệch bên bánh xe…và độ trượt giữa bánh xe và mặt đường. Điều kiện cần để đảm bảo tính ổn định khi phanh thì giá trị lực bám ngang F Y phải lớn hơn tổng các lực ngang tác dụng lên xe.
Với các hệ thống phanh truyền thống, khả năng đảm bảo về hiệu quả phanh và ổn định phanh thường không đạt được khi phanh gấp hoặc đường trơn trượt gây ra hiện tượng trượt lết bánh xe. Vì vậy, hệ thống ABS được phát triển và sử dụng trên các ô tô nhằm ngăn không cho hiện tượng trên xảy ra. Đặc điểm làm việc của hệ thống ABS Hệ thống ABS là hệ thống phanh điều khiển điện tử có chức năng ngăn không cho bánh xe bị trượt lết trong quá trình phanh. Hệ thống ABS được tính toán sao cho điều khiển trạng thái của xe khi phanh gần với trạng thái có hệ số bám dọc và ngang lớn, nhằm tăng giá trị lực bám dọc và ngang, đảm bảo hiệu quả phanh và ổn định hướng.
Hệ số bám dọc và ngang phụ thuộc vào độ trượt giữa bánh xe và mặt đường. Độ trượt được đánh giá thông qua hệ số trượt. Hệ số trượt là một thông số được sử dụng để đánh giá hiệu quả và tính ổn định hướng khi phanh. Hệ số trượt khi phanh 10 ảnh hưởng nhiều tới khả năng bám theo phương ngang cũng như khả năng tạo lực phanh khi phanh xe và được tính theo công thức.3) Trong đó v là vận tốc của tâm bánh xe, là vận tốc quay của bánh xe, r là bán kính làm việc của bánh xe.
Khi phanh, mô-men phanh tác dụng lên bánh xe, do bánh xe tương tác với mặt đường, nên sẽ sinh ra phản lực từ mặt đường tác dụng lên bánh xe theo định luật III Newton, được gọi là lực phanh. Trong quá trình này, do lốp làm từ cao su có tính đàn hồi nên sẽ bị biến dạng, bán kính làm việc của lốp thay đổi, gây ra sự trượt giữa bánh xe và mặt đường, được đánh giá qua thông số độ trượt như trong công thức (1. Việc tác dụng mô men phanh lên bánh xe đàn hồi làm giá trị độ trượt thay đổi, đồng thời cũng ảnh hưởng đến lực bám ngang và lực phanh theo như công thức (1. Sự ảnh hưởng trên được minh họa như đồ thị thực nghiệm sau.
Đồ thị hệ số trượt - lực phanh và lực bám ngang. 1,3 – Đường bê-tông khô; 2,4 – Đường nhựa ướt; 5 – Đường băng tuyết. 11 Khi người lái bắt đầu đạp phanh, hệ số trượt tăng nhanh từ giá trị 0, lực bám dọc tăng nhanh và đạt giá trị cực đại khi giá trị nằm trong khoảng tối ưu từ 17% đến 30% tùy điều kiện mặt đường, nếu tăng tiếp thì lực bám dọc nhìn chung là giảm, trừ trường hợp xe chạy trên đường băng tuyết. Lực bám ngang giảm nhanh theo sự tăng của hệ số trượt .
Hiện tượng bánh xe bị trượt lết xảy ra khi tiến tới 100%, tức là 0 , lúc này lực bám dọc giảm, lực bám ngang giảm nhanh về 0, không chỉ quãng đường phanh tăng mà xe còn bị mất ổn định hướng. Điều này càng nguy hiểm hơn khi trượt lết thường xảy ra ở các trường hợp phanh khẩn cấp, ở tốc độ cao. Với các hệ thống phanh thông thường, để ngăn ngừa hiện trượng trượt lết xảy ra thì người lái phải dựa vào kinh nghiệm để đạp/nhả bàn đạp phanh. Điều này làm giảm hiệu quả phanh và tính ổn định khi phanh.
Để đảm bảo hiệu quả phanh và ổn định hướng khi phanh trong các trường hợp phanh gấp, ABS được lắp đặt trên xe thay cho hệ thống phanh thông thường. Khi phanh, ABS giữ cho hệ số trượt nằm trong khoảng tối ưu. Khi giá trị độ trượt nằm trong khoảng điều chỉnh này lực bám dọc lớn nhất, trong khi đó lực bám ngang tương đối lớn. Để thực hiện được các yêu cầu trên, so với hệ thống phanh truyền thống (Hình 1.2), hệ thống ABS có thêm một cơ cấu điều chỉnh áp suất phanh (gọi là bộ chấp hành ABS), nằm trên đường dẫn môi chất từ xy lanh phanh chính tới cụm phanh bánh xe, các cảm biến theo dõi trạng thái bánh xe và bộ điều khiển (Hình 1.
Sơ đồ hệ thống phanh thông thường. Sơ đồ hệ thống ABS. Trong hệ thống ABS, mỗi một đường môi chất tới cụm phanh bánh xe, được hệ thống ABS điều khiển áp suất độc lập gọi là kênh điều khiển. Trong hệ thống ABS thủy lực, áp suất phanh được điều khiển nhờ sự đóng mở các van điện từ, bơm và bình tích áp trong bộ chấp hành ABS theo tín hiệu từ bộ điều khiển.
Khi người lái đạp phanh, áp suất từ xy-lanh phanh chính không truyền trực tiếp tới xy-lanh bánh xe, mà qua bộ chấp hành ABS. Tùy vào tín hiệu các cảm biến mà ECU điều khiển ABS sẽ quyết định đóng/mở các van điện từ và bơm, nhằm tăng, giảm hoặc giữ áp suất trong đường dầu tới xy-lanh bánh xe, để điều chỉnh mô-men phanh. Từ sơ đồ hệ thống ABS trên, suy ra điều khiển ABS là điều khiển hồi tiếp phi tuyến như sau. Sơ đồ điều khiển hệ thống ABS.
Trong sơ đồ điều khiển hồi tiếp hệ thống ABS (Hình 1.4), trạng thái tham chiếu là tín hiệu đầu vào điều khiển. Bộ chấp hành ABS là phần tử điều khiển. Cơ cấu phanh, bánh xe, thân xe…là đối tượng điều khiển. Trạng thái phanh của xe là tín hiệu đầu ra điều khiển.
Cảm biến đóng vai trò là phần tử hồi tiếp. 13 Hệ thống ABS có tính phi tuyến bởi vì các thành phần trong hệ thống đều có tính phi tuyến. Các phần tử thủy lực như dầu phanh, các đường ống, bơm và các van điện từ đều có đặc tính phi tuyến. Đồng thời, đặc tính bám của lốp cũng là phi tuyến và chịu tác động từ các thông số không xác định từ môi trường.
Điều khiển hồi tiếp ABS là điều khiển hồi tiếp không liên tục. Lý do là vì ECU của ABS là bộ điều khiển điện tử, làm việc theo các chu kỳ do đặc điểm của vi điều khiển, cũng như đặc tính độ trễ của hệ thống. Các hệ thống ABS hiện nay thường làm việc với tần số từ 8Hz cho đến 12Hz. Từ các phân tích trên, có thể thấy để đáp ứng được hai yêu cầu về hiệu quả và ổn định khi phanh, hệ thống ABS có một số đặc điểm làm việc như sau.
• Hệ thống ABS làm việc quanh trạng thái có hệ số bám dọc và ngang lớn (ứng với độ trượt nằm trong khoảng 17%-30%). • Hệ thống ABS điều khiển mô men phanh tác dụng lên bánh xe. • Hệ thống ABS là một hệ thống điều khiển hồi tiếp không liên tục. Khi ABS chưa làm việc, áp suất phanh chưa được điều chỉnh, sự phanh diễn ra như trên các hệ thống phanh thông thường.
ABS sẽ hoạt động khi bánh xe có nguy cơ xảy ra trượt lết. Tuy nhiên việc xác định trạng thái của xe khi phanh gặp rất nhiều khó khăn do khả năng đo đạc bị hạn chế. Đồng thời việc điều khiển quá trình phanh bị ảnh hưởng xấu từ các yếu tố phi tuyến trong hệ thống và từ các nhiễu tác động bên ngoài.