Chương I: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Hệ thống phanh ôtô Hệ thống phanh có vai trò hết sức quan trọng trong việc bảo đảm an toàn chuyển động của ô tô. Chất lượng phanh của ô tô được đánh giá qua tính hiệu quả và ổn định hướng chuyển động của ô tô khi phanh. Tính hiệu quả của quá trình phanh là khả năng dừng xe với quãng đường phanh ngắn nhất hoặc với gia tốc phanh lớn nhất, thời gian phanh nhỏ nhất.
Hệ thống phanh có chức năng là giảm tốc độ chuyển động của ô tô tới tốc độ chuyển động nào đó hoặc dừng hẳn ô tô giữ xe đứng yên ở một vị trí nhất định. Thông thường quá trình phanh ô tô được tiến hành bằng cách tạo ra ma sát giữa phần quay và phần đứng yên (tang trống với má phanh hoặc đĩa phanh với má phanh). Như vậy động năng chuyển động của ô tô biến thành nhiệt năng, nhiệt năng sẽ được truyền ra môi trường xung quanh. Ngày nay, khi ô tô trở thành phương tiện vận chuyển chủ chốt đối với bất kỳ quốc gia nào trên thế giới.
Với số lượng ô tô ngày càng tăng, mật độ ô tô tham gia giao thông trên đường lớn, tốc độ chuyển động của ô tô ngày càng cao, đã đặt ra nhiều vấn đề lớn cho xã hội như ô nhiễm môi trường, tai nạn giao thông. Trong đó, tai nạn giao thông đã trở thành một mối quan tâm lớn của xã hội bởi vì ô tô đã trở thành phương tiện giao thông gây chết người nhiều nhất so với các loại phương tiện khác. Ở Việt Nam, tính đến hết tháng 12 - 2010 có khoảng 1.689 mô tô được đăng ký lưu hành trên đường. Tai nạn giao thông đường bộ đang có xu hướng tăng mặc dù Chính phủ đã đưa ra nhiều giải pháp về an toàn giao thông.
Với tốc độ tăng trưởng như hiện nay các phương tiện cơ giới đường bộ tăng vọt lên như vậy thì vấn đề tai nạn giao thông xảy ra càng nhiều, các vụ tai nạn giao thông, không những gây thiệt hại lớn về người mà còn gây thiệt hại về tài sản của nhà nước và của công dân. Theo thống kê của các nước thì trong tai nạn giao thông đường bộ 60 đến 70 % do con người gây ra như (lái xe say rượu, mệt mỏi, buồn ngủ, …) 10 đến 15 % do hư hỏng máy móc, trục tặc về kỹ thuật và 20 đến 30 % do đường xá quá xấu. 13 Trong số các nguyên nhân hư hỏng do máy móc, trục trặc kỹ thuật thì tỷ lệ tai nạn do các cụm, hệ thống trên ô tô gây nên được thống kê như sau: Phanh chân: 52,2 – 74,4 % Ánh sáng: 2,3 – 8,7 % Phanh tay: 4,9 – 16,1 % Bánh xe: 2,5 – 10 % Lái: 4,9 – 19,2 % Các hư hỏng khác: 2 – 18,2 % Các số liệu trên cho thấy rằng, tai nạn giao thông do hệ thống phanh chiếm tỷ lệ cao nhất. Do vậy các yêu cầu đối với hệ thống phanh, được pháp lý hoá thông qua các tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế, ngày càng trở nên khắt khe hơn.
Để đáp ứng được những tiêu chuẩn này, các nhà sản xuất phải thường xuyên cải tiến hệ thống phanh cho ô tô nhằm nâng cao hiệu quả và tính ổn định khi phanh, tăng tính an toàn chuyển động. Vì những lý do trên, việc mô phỏng hệ thống dẫn động phanh để xác định hiệu quả phanh và tìm các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phanh đáp ứng các tiêu chuẩn hiện hành ngay trong quá trình thiết kế là rất cần thiết. Không những thế, phương pháp mô phỏng và tính toán với sự trợ giúp của máy tính sẽ giúp cho các nhà thiết kế tiết kiệm được thời gian và kinh phí cho quá trình thiết kế và hoàn thiện hệ thống phanh. Trong điều kiện thiếu thốn về trang thiết bị thí nghiệm như ở nước ta hiện nay thì đây là phương pháp nghiên cứu rất thích hợp và hoàn toàn khả thi.
Hệ thống phanh ô tô gồm các bộ phận chính: cơ cấu phanh, dẫn động phanh. Ngày nay trên cơ sở các bộ phận kể trên, hệ thống phanh còn được bố trí thiết bị nâng cao hiệu quả phanh. - Cơ cấu phanh: được bố trí ở gần bánh xe, thực hiện chức năng của các cơ cấu ma sát nhằm tạo ra mô men hãm trên các bánh xe của ô tô khi phanh. - Dẫn động phanh: bao gồm các bộ phận liên kết từ cơ cấu điều khiển (bàn đạp phanh, cần kéo phanh) tới các chi tiết điều khiển sự hoạt động của cơ cấu phanh.
Dẫn động phanh dùng để truyền và khuyếch đại lực điều khiển từ cơ cấu điều khiển phanh đến các chi tiết điều khiển hoat động của cơ cấu phanh. Cơ cấu phanh được dẫn động bởi: 14 - Dẫn động điều khiển phanh bằng bàn đạp (phanh chân) thông qua lực bàn đạp phanh và các ống dẫn dầu tới cơ cấu phanh; - Dẫn động điều khiển bằng cần kéo (phanh tay) thông qua lực kéo trên cần phanh và dây cáp đến điều khiển phanh các bánh xe sau. Cơ cấu phanh làm việc tuỳ thuộc vào hệ thống điều khiển. Toàn bộ các bộ phận từ bàn đạp phanh tới cơ cấu phanh được gọi là dẫn động phanh.
Ở trạng thái không phanh các cơ cấu không tạo nên ma sát, các bánh xe được quay trơn; khi phanh các cơ cấu ma sát làm việc, động năng được tiêu hao làm giảm tốc độ chuyển động của ô tô. Hệ thống phanh thường dùng trên các loại xe ô tô là dẫn động phanh khí nén; dẫn động phanh thủy lực và dẫn động phanh thủy khí. Dẫn động phanh khí nén Dẫn động phanh khí nén được sử dụng rộng rãi trên ô tô tải cỡ lớn và trung bình, đặc biệt lớn, để dẫn động các cơ cấu phanh người ta sử dụng năng lượng khí nén, lực của người lái chỉ để mở van tổng phanh do đó mà giảm được sức lao động của người điều khiển. Tùy theo liên kết của xe cơ sở với rơ moóc mà dẫn động phanh khí nén có thể là một dòng hay hai dòng.
Hiện nay hầu hết các loại xe ô tô sử dụng hệ thống dẫn động phanh khí nén một dòng đều không được phép lưu hành vì không đảm bảo an toàn do đó ta chỉ xét loại loại dẫn động phanh khí nén 2 dòng: Dẫn động phanh khí nén 2 dòng được thể hiện trên hình 1.1: Dẫn động phanh khí nén hai dòng 15 1: M¸y nÐn khÝ, 2: BÇu läc, 3: Van ®iÒu chØnh ¸p suÊt, 4: B×nh chøa khÝ nÐn, 5,6: Van ph©n phèi, 7: Van nÐn khÝ, 8: èng nèi, 9: BÇu phanh b¸nh xe, 10: Van an toµn. Nguyên lý làm việc: Khi phanh người lái tác động lên bàn đạp qua hệ thống đòn đến van phân phối 1 và mở cho dòng khí nén áp suất cao vào các bầu phanh 9 từ đó sẽ dẫn động cam phanh ép guốc phanh vào trống phanh để tiến hành phanh xe. Hệ thống phanh 2 dòng chia dòng khí của các phanh bánh trước và dòng khí các bánh sau làm việc riêng biệt do vậy làm cho hệ thống phanh có tính an toàn cao. - Ưu điểm của hệ thống phanh khí: Điều khiển dễ dàng, nhẹ nhành, kết cấu đơn giản, tạo được lực phanh lớn; Có khả năng cơ khí hóa quá trình điều khiển ô tô; Có thể sử dụng không khí nén cho các bộ phận làm việc như hệ thống phanh treo loại khí.
- Nhược điểm của hệ thống phanh khí nén: Số lượng các cụm chi tiết khá nhiều, kích thước và trọng lượng của chúng khá lớn, giá thành cao; Thời gian chậm tác dụng khá lớn; Khả năng tác dụng của hệ thống phanh chậm, đây là nhược điểm lớn nhất của hệ thống phanh khí nén. Phanh dẫn động thủy lực Hình 1. Sơ đồ hệ thống phanh thủy lực 16 1. Bàn đạp phanh; 2.
Piston chính; 4. Xy lanh chính; 5. Xy lanh con; 8. Với hệ thống phanh thuỷ lực khi đạp bàn đạp chân phanh sẽ tạo nên áp xuất chất lỏng trong xy lanh công tác đặt tại cơ cấu phanh điều khiển sự làm việc của cơ cấu phanh.
Nguyên lý hoạt động: Tác dụng của phanh là dựa trên cơ sở lực ma sát. Khi chưa đạp bàn đạp, các guốc phanh (9) được lò xo (12) kéo vào nên mặt ma sát (mặt ngoài) của chúng tách rời khỏi mặt trong của tang trống (11) nên bánh xe được quay tự do trên moayơ. Khi đạp chân lên bàn đạp (1), cán đẩy (2) sẽ đẩy piston (3) chuyển dịch sang phải làm tăng áp suất dầu đẩy mở van cao áp (5) đưa dầu vào đường ống (6) để tới xy lanh ở các bánh xe. Lúc này do áp suất dầu trong các xy lanh con (7) tăng lên tạo lực đẩy hai piston con (8) chạy sang hai bên đẩy guốc phanh (9) quay quanh các chốt (12) để các má phanh tỳ ép và hãm chặt tang trống (11).
Lực ma sát giữa má phanh và tang trống giữ không cho các bánh xe quay tiếp. Lúc này nếu bánh xe bám tốt mặt đường thì lực ma sát trên sẽ tạo ra mô men phanh, bánh xe dừng lại. Nếu nhấc chân khỏi bàn đạp (nhả chân phanh) thì áp suất trong hệ thống dầu sẽ giảm nhanh, nhờ lò xo (12) các guốc phanh được kéo lại gần nhau làm cho các piston (8) cũng bị kéo vào đẩy dầu qua van hồi dầu trở về xy lanh chính và bệ chứa, các má phanh rời khỏi mặt tiếp xúc nên mặt trong của tang trống không còn tác dụng phanh. Dẫn động phanh thủy lực được áp dụng rộng rãi trên hệ thống phanh chính của các loại ô tô du lịch, ô tô tải nhỏ và trung bình.
Trong dẫn động phanh thủy lực thì lực dùng tác dụng của người lái để tạo ra lực phanh cho nên chỉ áp dụng cho các loại xe có trọng lượng tương đối nhỏ thì mới đảm bảo tạo ra lực phanh cần thiết tương ứng với chế độ phanh cấp tốc. Dẫn động phanh là cơ cấu thủy lực gồm tổng phanh và các cơ cấu xy lanh phanh chính, xy lanh bánh xe. 17 Dẫn động phanh có loại 1 dòng và loại 2 dòng, loại 2 dòng khác loại 1 dòng là dầu phanh từ tổng phanh được chia làm 2 dòng đi đến các xy lanh bánh xe trước và sau, ngoài ra nó còn có ưu điểm là khi một dòng bị hỏng thì dòng kia vẫn làm việc bình thường làm tăng tính an toàn khi chuyển động. Trong hệ thống phanh dẫn động thủy lực, tổng phanh làm nhiệm vụ tạo áp suất dầu đủ lớn để đưa đến các xy lanh bánh xe, áp suất dầu tăng lên nhờ sự tác động của lực bàn đạp qua các cơ cấu dẫn động.