CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN CÁC KHÍA CẠNH KHÁC NHAU CỦA LUẬN ÁN Chương này được tác giả thực hiện nhằm qua đó hướng đến việc cung cấp góc nhìn tổng quan liên quan đến quá trình nghiên cứu đối với các khía cạnh có liên quan đến luận án. Những nội dung của các nghiên cứu trong và ngoài nước sẽ giúp cho tác giả xác định được các khoảng trống cần thiết để tiến hành triển khai, sử dụng các phương pháp thích hợp, chứng minh cho tính cấp thiết của luận án 1. CÁC NGHIÊN CỨU CÔNG BỐ Ở NƯỚC NGOÀI Qua quá trình tra cứu và tham khảo nhiều tài liệu khác nhau đối với các mảng vấn đề liên quan đến luận án mà tác giả dự định nghiên cứu. Cá nhân tôi nhận thấy hầu hết các công trình nghiên cứu công bố ở nước ngoài về KTĐL chủ yếu đi sâu vào phương diện nghiên cứu kỹ thuật.
Các công trình nghiên cứu liên quan trực tiếp đến mô hình tổ chức hoạt động KTĐL đặc biệt là mô hình tổ chức hoạt động KTĐL ở một quốc gia đang phát triển có điều kiện tương đồng như Việt Nam còn chưa được thực hiện hoặc có thể đã thực hiện nhưng chưa được công bố rộng rãi. Tuy vậy đã có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan các yếu tố, nguyên nhân làm ảnh hưởng tới chất lượng và hiệu quả của hoạt động KTĐL tại nhiều quốc gia trên thế giới đã được các tác giả khác nhau thực hiện trong thời gian vừa qua. Tác giả xin nêu ra một số các công trình tiêu biểu như sau : 1. Một số công trình nghiên cứu liên quan * Các công trình nghiên cứu về mô hình kiểm toán (1) Công trình nghiên cứu của Niece J.T (2005) về sự sụp đổ của mô hình một hãng qua sự kiện công ty kiểm toán Arthur Andersen (The Demise of Arthur Andersen's One-Firm Concept: A Case Study in Corporate Governance”, Business and Society Review, Vol.
Công trình nghiên cứu này chỉ rõ : Năm 2002, sau sự kiện Enron, với sự sụp đổ của Arthur Andersen, một trong năm hãng kiểm toán lớn nhất thế giới vào thời 7 điểm đó (Big 5), Mô hình “một-hãng” (One-firm concept) đã cho thấy hạn chế lớn trong cơ cấu quản trị. Khái niệm mô hình “một-hãng” là nguyên tắc hoạt động theo đó các văn phòng khác nhau của một hãng toàn cầu theo đuổi các giá trị, các chuẩn mực, các quy chế hoạt động như nhau, thống nhất không phân biệt quốc gia hay lãnh thổ. Dưới mô hình này, Arthur Andersen là một thể thống nhất, hoạt động của Arthur Andersen tại Mỹ cũng có ảnh hưởng lớn đến Arthur Andersen tại các quốc gia khác. Kết quả là sự kiện Enron đã khiến cho Arthur Andersen tại Mỹ sụp đổ, kéo theo sự sụp đổ toàn cầu của một hãng kiểm toán với hơn 80.000 nhân viên chuyên nghiệp.
Rút kinh nghiệm từ bài học của Arthur Andersen, các hãng kiểm toán quốc tế hoạt động toàn cầu, trong đó bao gồm cả Big Four, đã chuyển đổi mô hình hoạt động của mình. Theo quan điểm trình bày trong báo cáo hoạt động của các hãng kiểm toán quốc tế do tạp chí Kế toán quốc tế (International Accounting Bulletin) phát hành, ba mô hình chính mà các công ty kiểm toán đang áp dụng, thay thế cho mô hình “một-hãng” truyền thống, chứa đựng nhiều rủi ro. Ba mô hình đó là mô hình công ty mạng lưới (Networks), mô hình hiệp hội (Associations), và mô hình liên kết (Alliances, Organisations) [29]. * Các công trình nghiên cứu về các yếu tố khác nhau có liên quan ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả hoạt động KTĐL Hiện tại, qua khảo cứu nhiều tài liệu tác giả nhận thấy rằng có rất nhiều công trình nghiên cứu khác nhau liên quan đến chất lượng, hiệu quả KTĐL; nghiên cứu mối quan hệ tác động của nhiều yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả KTĐL.
Tiêu biểu là một số các công trình sau đây : - Các nghiên cứu tổng quan về chất lượng và hiệu quả kiểm toán nói chung (1) Nghiên cứu của Arezoo Aghaei chadegani (2011), ‘Review of studies on audit quality’, International conference on Humanities Society and Culture, IPEDR Vol.20 (2011) © IACSIT Press, Singapore.[64] Arezoo Aghaei chadegani hiện đang công tác tại Khoa Kế toán, Đại học 8 Islamic Azad University tại Iran. Đây là nghiên cứu đánh giá đối với các công trình nghiên cứu thực nghiệm được thực hiện bởi các tác giả khác nhau trước đó trong nhiều thập kỷ qua, từ tất cả các nơi trên thế giới. Mục đích của công trình này là để đánh giá những gì các nhà nghiên cứu trước đó đã thực hiện về vấn đề chất lượng kiểm toán và xác định được những lỗ hổng, những không gian cho các nghiên cứu trong tương lai. Những nghiên cứu này được phân loại thành bảy nhóm: 1) Các nghiên cứu sử dụng các biện pháp trực tiếp hoặc gián tiếp để đo lường chất lượng kiểm toán 2) Nghiên cứu dựa trên nguồn gốc của sự khác biệt 3) Nghiên cứu dựa trên yếu tố đầu vào, quy trình và đầu vào của hoạt động kiểm toán 4) Nghiên cứu dựa trên các khía cạnh tổ chức 5) Nghiên cứu quan điểm về hành vi và chất lượng kiểm toán viên 6) Sự khác nhau trong nhận thức về chất lượng kiểm toán và 7) các nghiên cứu khác.
Kết quả của nghiên cứu cho thấy rằng còn rất nhiều lỗ hổng và không gian nghiên cứu đối với vấn đề liên quan đến chất lượng kiểm toán. Nói cách khác chất lượng kiểm toán chính là mảnh đất giàu có để các nhà nghiên cứu có thể thực hiện nhiều công trình nghiên cứu tiếp theo có giá trị cung cấp cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các chuyên gia về kiểm toán, những người sử dụng BCTC… (2) Trước nghiên cứu tổng hợp của Arezoo nói trên đã có rất nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả khác nhau đề cập đến chất lượng kiểm toán. Một số tác giả cho rằng chất lượng kiểm toán đó là vấn đề được xem xét trên các khía cạnh : (1) khả năng mà KTV sẽ (a) phát hiện ra các điểm hạn chế trong hệ thống kế toán của khách hàng và (b) báo cáo về các hạn chế này (DeAngelo, 1981; Watts và Zimmerman, 1983) [76] [77] [126]; (2) khả năng KTV từ chối phát hành báo cáo chấp nhận toàn phần cho các BCTC có chứa đựng những sai sót trọng yếu (Lee và cộng sự, 1983) [94]; (3) mức độ tuân thủ các chuẩn mực kiểm toán trong suốt quá trình thực hiện kiểm toán (Aldhizer và cộng sự, 1995; McConnell & Banks, 1998; Krishnan & Schauer, 2001) [63] [103] [88]; (4) khả năng KTV có thể làm giảm các sai sót và nâng cao độ trung thực của dữ liệu kế toán (Wallace, 1987) [125]; sự trung thực của thông tin tài chính trình bày trên BCTC sau khi kiểm toán (Beatty, 9 1989; Krinsky & Rotenberg, 1989; Davidson & Neu, 1993) [65] [89] [75] - Các nghiên cứu về các yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả kiểm toán độc lập Qua quá trình khảo cứu các tài liệu cho thấy việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán độc lập đã được rất nhiều các tác giả quan tâm và thực hiện từ trước cho đến nay. Có rất nhiều quan điểm khác nhau liên quan đến vấn đề này và tiêu biểu là một số các yếu tố chính như sau : (1) Quy mô của doanh nghiệp kiểm toán Nhóm các tác giả đại diện cho quan điểm cho rằng quy mô của công ty kiểm toán có ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán.
Theo đó một số tác giả nhận định rằng công ty kiểm toán có quy mô càng lớn thì càng có khuynh hướng cung cấp dịch vụ kiểm toán được tốt hơn (Burton, 1986; Grimlund, 1990) [69] [127] Ngoài ra cũng có nhiều tác giả đi chứng minh mối quan hệ cơ bản đó là quy mô khách hàng càng lớn thì càng có tỷ lệ thấp trong việc ký kết hợp đồng kiểm toán với công ty kiểm toán có quy mô nhỏ (Standard & Poor’s Compustat, 2000; Mansi và cộng sự, 2004); [99] Nghiên cứu của DeAngelo (1981) cũng đi đến kết luận các công ty kiểm toán có quy mô lớn thường có chất lượng được đánh giá bởi thị trường cao hơn các công ty kiểm toán có quy mô nhỏ.[80] Đồng thời Lennox (1999) và Shu (2000) cũng cho rằng quy mô công ty kiểm toán càng lớn với nhiều nguồn lực thì có thể làm giảm thiểu khả năng xảy ra các vụ kiện tụng và đảm bảo việc duy trì chất lượng dịch vụ kiểm toán ở mức cao.[92] [116] Công trình nghiên cứu của tác giả Chia-Chi Lee (2008) ở Trường Kinh doanh Quốc tế Đài Loan, nghiên cứu sự ảnh hưởng của quy mô đến hiệu quả hoạt động của các công ty KTĐL. Đây là công trình nghiên cứu được tác giả thực hiện trong khoảng thời gian từ năm 1988-2002 thông qua việc phân tích kết quả khảo sát đối với 370 công ty KTĐL tại Đài Loan. Kết quả nghiên cứu đã nêu ra kết luận đó là quy mô của công ty kiểm toán có ảnh hưởng rõ rệt đến hiệu quả hoạt động đặc biệt là trong mối quan hệ so sánh giữa loại hình các công ty kiểm toán đa quốc gia 10 (international audit firms), công ty kiểm toán lớn (large-size audit firms), công ty kiểm toán có quy mô vừa (medium-size audit firms); tuy nhiên lại chỉ ra rằng sự ảnh hưởng này là không đáng kể trong mối quan hệ so sánh giữa loại hình công ty kiểm toán có quy mô vừa với loại hình công ty kiểm toán có quy mô nhỏ (small-size audit firms).[72] Từ những nghiên cứu kể trên cho thấy, chỉ tiêu quy mô DNKT là một trong những chỉ tiêu rất cơ bản, tiêu biểu để đo lường và đánh giá về chất lượng và hiệu quả kiểm toán. Chỉ tiêu này thường có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với chất lượng và hiệu quả kiểm toán qua nhiều công trình nghiên cứu kể trên.
(2) Phạm vi của dịch vụ phi kiểm toán mà doanh nghiệp kiểm toán cung cấp Từ trước cho đến nay có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả đề cập đến yếu tố này. Về cơ bản kết quả cho thấy đây cũng là yếu tố có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với chất lượng và hiệu quả kiểm toán. Nghiên cứu thực nghiệm qua điều tra 1.500 KTV của Lindberg & Beck (2002) sau sự kiện Enron cho thấy phần lớn KTV đều đưa ra nhận định dịch vụ phi kiểm toán sẽ làm tổn hại đến tính độc lập của KTV. Xét về phương diện đạo đức nghề nghiệp một khi tính độc lập bị suy giảm thì chất lượng kiểm toán cũng suy giảm theo.