Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về quản lý chất lượng kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước Chương 2: Phương pháp nghiên cứu 6 z - Chương 3: Thực trạng quản lý chất lượng kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước Việt Nam - Chương 4: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện quản lý chất lượng kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước Việt Nam 7 z Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƢỢNG KIỂM TOÁN CỦA KIỂM TOÁN NHÀ NƢỚC 1. Chất lƣợng kiểm toán và quản lý chất lƣợng kiểm toán của Kiểm toán nhà nƣớc 1. Chất lượng, chất lượng kiểm toán. Chất lượng Chất lượng là một khái niệm còn nhiều tranh cãi vì có rất nhiều quan điểm khác nhau.Tùy từng lĩnh vực khác nhau lại có những cách hiểu khác nhau về chất lượng.
Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, thế giới bước vào khôi phục kinh tế và thời điểm đó quan niệm chất lượng là “sự phù hợp với lợi ích” hay “sự phù hợp với mục đích”. Tuy nhiên, không có một tiêu chí cụ thể nào chỉ ra các thông số đo lường về việc thế nào là “sự phù hợp”. Với những nghiên cứu sau đó, các tài tiệu chỉ ra quan điểm chất lượng có liên quan mật thiết tới các số liệu thống kê và cho rằng: chất lượng được đo bằng hai tiêu chí chính, đó là tính phù hợp và tính chính xác. Chất lượng kiểm toán Chuẩn mực kiểm toán số 220 “quản lý chất lượng hoạt động kiểm toán” (ban hành theo Quyết định số 28/2003/QĐ-BTC ngày 14/3/2003 của Bộ trưởng Bộ Tài chính) đã đưa ra khái niệm về chất lượng kiểm toán như sau: “Chất lượng hoạt động kiểm toán là mức độ thoả mãn của các đối tượng sử dụng kết quả kiểm toán về tính khách quan và độ tin cậy vào ý kiến kiểm toán của kiểm toán viên; đồng thời thoả mãn mong muốn của đơn vị được kiểm toán về những ý kiến đóng góp của kiểm toán viên nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, trong thời gian định trước với giá phí hợp lý” [3, tr.
Qua nghiên cứu “chất lượng” nói chung và “chất lượng hoạt động kiểm toán” nói riêng, có thể đưa ra khái niệm về chất lượng kiểm toán nhà nước như sau: Chất lượng kiểm toán của KTNN là mức độ thoả mãn của các đối tượng sử dụng kết quả kiểm toán về tính khách quan, trung thực và độ tin cậyvào các kết 8 z luận, đánh giá và nhận xét của KTNN, đồng thời thoả mãn về các kiến nghị, giải pháp do KTNN đưa ra, với chi phí hoạt động kiểm toán hợp lý. Quản lý chất lượng kiểm toán 1. Kiểm toán Nhà nước * Khái niệm kiểm toán Từ thời Trung cổ, kiểm toán đã được sử dụng để thẩm tra về tính trung thực của các thông tin tài chính. Đến những năm 30 của thế kỷ XX, kiểm toán với nghĩa là “kiểm tra độc lập và bày tỏ ý kiến” mới được phát triển ở các nước Bắc Mỹ và Tây Âu.
Mặc dù kiểm toán đã xuất hiện từ rất lâu, nhưng đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về khái niệm này. Có thể khái quát một số cách hiểu chủ yếu về kiểm toán như sau: Tại Anh, người ta bày tỏ khái niệm kiểm toán như sau: “Kiểm toán là sự kiểm tra độc lập và là sự bày tỏ ý kiến về những bản khai tài chính của một xí nghiệp do một kiểm toán viên được bổ nhiệm để thực hiện những công việc đó theo đúng với bất kỳ nghĩa vụ pháp định có liên quan” [8, tr. Theo khái niệm này, kiểm toán là sự kiểm tra độc lập và bày tỏ ý kiến về bản khai tài chính của kiểm toán viên (KTV) theo nghĩa vụ pháp định. Các khái niệm trên đã phản ánh những đặc trưng cơ bản của kiểm toán truyền thống.
Đó là: (1) Kiểm toán là sự kiểm tra và bày tỏ ý kiến về bản khai tài chính hoặc các tài khoản của một tổ chức, cơ quan, đơn vị; (2) Hoạt động kiểm toán được thực hiện bởi những KTV có chuyên môn nghiệp vụ, tiến hành độc lập; (3) Hoạt động kiểm toán nhằm đánh giá tính trung thực, phù hợp của các thông tin so với những tiêu chuẩn đã được thiết lập; (4) Thông tin kiểm toán được trình bày theo một hình thức nhất định. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của hoạt động kiểm toán, sự đa dạng của các loại hình kiểm toán, khái niệm kiểm toán đã được mở rộng, vượt ra khỏi khuôn khổ quan niệm truyền thống, đó là: không chỉ kiểm toán đối với các bản 9 z khai tài chính, các tài khoản mà còn bao gồm kiểm toán việc tuân thủ pháp luật và kiểm toán đánh giá tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả trong việc quản lý, sử dụng các nguồn lực của một tổ chức, cơ quan, đơn vị. ở một số quốc gia, hoạt động kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước (KTNN) còn bao gồm kiểm toán môi trường, kiểm toán nhân sự, kiểm toán trách nhiệm kinh tế. Từ đó có thể thấy, đối tượng và nội dung kiểm toán ngày càng phát triển sâu, rộng tuỳ theo yêu cầu quản lý và nhu cầu thông tin được kiểm tra, xác nhận.
Ở Việt Nam, thuật ngữ “kiểm toán” mới xuất hiện và được sử dụng vào đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX. Vì ra đời muộn hơn so với đa số các nước khác trên thế giới, nên ở Việt Nam kiểm toán nói chung và khái niệm kiểm toán nói riêng đã kế thừa sự phát triển của kiểm toán trên thế giới. Dẫu vậy, ở Việt Nam xung quanh khái niệm kiểm toán vẫn có nhiều ý kiến khác nhau. Luật Kiểm toán nhà nước của Việt Nam đưa ra khái niệm về kiểm toán như sau: Hoạt động kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước là việc kiểm tra, đánh giá và xác nhận tính đúng đắn, trung thực của báo cáo tài chính; việc tuân thủ pháp luật; tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả trong quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước.
Từ nghiên cứu sự phát triển của các hoạt động kiểm toán và từ các khái niệm nêu trên, có thể hiểu khái niệm về kiểm toán như sau: Kiểm toán là việc kiểm tra, đánh giá và xác nhận tính đúng đắn, trung thực của các thông tin; kiểm tra, đánh giá tính tuân thủ pháp luật và tính kinh tế, tính hiệu lực, hiệu quả trong quản lý, sử dụng các nguồn lực do một chủ thể độc lập, có năng lực chuyên môn phù hợp (kiểm toán viên, tổ chức kiểm toán) thực hiện trên cơ sở các quy định nghề nghiệp. Khái niệm, nội dung quản lý chất lượng kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước. Quản lý chất lượng là các hoạt động và kỹ thuật mang tính tác nghiệp được sử dụng để đáp ứng các yêu cầu chất lượng."Quản lý được hiểu là tổng hợp những phương sách để nắm lấy và điều hành đối tượng hoặc khách thể quản lý" [8, tr. Quản lý có thể theo nhiều chiều: cấp trên quản lý cấp dưới 10 z bằng chính sách hoặc biện pháp, đơn vị này quản lý đơn vị khác thông qua việc chi phối về quyền sở hữu và lợi ích; nội bộ trong đơn vị quản lý lẫn nhau qua quy chế, quy định và thủ tục quản lý.
Trong hoạt động kiểm toán nhà nước, “quản lý chất lượng là thuật ngữ hàm chứa các chính sách và thủ tục được cơ quan KTNN sử dụng nhằm bảo đảm công việc kiểm toán được thực hiện với chất lượng cao” [57, tr. Như vậy, quản lý chất lượng kiểm toán trong nội bộ cơ quan KTNN là các chính sách, thủ tục điều chỉnh, hướng hoạt động kiểm toán tới chất lượng và hiệu quả; đồng thời gắn liền và thuộc cơ cấu tổ chức, cơ chế hoạt động kiểm toán của KTNN. Do đó, trong hoạt động kiểm toán nhà nước có thể hiểu: “Quản lý chất lượng kiểm toán là thuật ngữ hàm chứa các chính sách và thủ tục được sử dụng để quản lý, điều hành hoạt động kiểm toán tuân thủ đúng các nguyên tắc, chuẩn mực nghề nghiệp hiện hành và các tiêu chí chất lượng theo quy định của KTNN”. Từ khái niệm trên, quản lý chất lượng kiểm toán có những nội dung sau: * Lập kế hoạch quản lý chất lƣợng kiểm toán Để hoạt động quản lý chất lượng kiểm toán đạt kết quả cao, bước đầu tiên là phải xây dựng được kế hoạch quản lý chi tiết ngay từ đầu mỗi chu kỳ.
Các vấn đề chính trong xây dựng được kế hoạch quản lý bao gồm: - Lập chiến lược, kế hoạch hoạt động trung hạn, ngắn hạn và hàng năm của quản lý chất lượng kiểm toán; - Quy định về lập, xét duyệt, phát hành kế hoạch kiểm toán năm, kế hoạch cuộc kiểm toán, kế hoạch kiểm toán chi tiết, chương trình kiểm toán; - Kế hoạch tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. - Xây dựng kế hoạch nhu cầu KTV cho từng đơn vị; Kế hoạch nhân sự kiểm toán phải được cấp có thẩm quyền phê duyệt trước khi thực hiện. * Tổ chức thực hiện quản lý chất lƣợng kiểm toán Đây là giai đoạn quan trọng trong nội dung quản lý chất lượng kiểm toán, kết quả thực hiện quản lý chất lượng kiểm toán có ảnh hưởng quyết định đến chất lượng kiểm toán. Trong giai đoạn này, quản lý chất lượng kiểm toán phải 11 z được tiến hành đồng thời, phù hợp theo từng bước công việc và từng thủ tục kiểm toán.
Các vấn đề chính cần quản lý chất lượng kiểm toán là: - Việc xây dựng và thực hiện hệ thống chính sách, thủ tục quản lý chất lượng kiểm toán của KTNN và các KTNN chuyên ngành (khu vực); - Tổ chức bộ máy và hoạt động của hệ thống bộ máy quản lý chất lượng kiểm toán của KTNN và KTNN chuyên ngành (khu vực). - Quy định các hình thức quản lý chất lượng kiểm toán Các chính sách và thủ tục mà KTNN phải thiết kế và thực hiện thường là: Thứ nhất, kỹ năng và năng lực chuyên môn, gồm các chính sách và thủ tục chủ yếu sau: - Tuyển dụng (cơ cấu ngành nghề, yêu cầu trình độ, năng lực); - Đào tạo chuyên môn (đào tạo theo ngạch, bậc, chức danh, thiết lập chương trình đào tạo, kiểm tra định kỳ, đào tạo chuyên gia.); - Đề bạt (thiết lập tiêu chuẩn từng cấp: Kiểm toán trưởng, Trưởng Đoàn kiểm toán, Phó Trưởng Đoàn kiểm toán, Tổ trưởng; ngạch bậc: KTV dự bị, KTV, KTV chính, KTV cao cấp); - Khuyến khích phát triển nghề nghiệp; - Đánh giá kết quả công tác của cán bộ, KTV theo định kỳ.