Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Ngành sản xuất và chế biến chè tại Việt Nam nói chung và tỉnh Thái Nguyên nói riêng mang tính hàng hóa cao nhưng phần lớn vẫn duy trì ở quy mô nông hộ nhỏ lẻ, phụ thuộc vào lao động gia đình và kỹ thuật canh tác thủ công. Trong bối cảnh kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, các hộ trồng chè thường chịu nhiều thiệt thòi trong khâu tiêu thụ do chi phí sản xuất cao, chất lượng sản phẩm không đồng đều, hạn chế ứng dụng khoa học kỹ thuật và chưa chú trọng hoạt động quảng bá thương hiệu. Việc liên kết hình thành các tổ hợp tác và hợp tác xã (HTX) là giải pháp giúp khai thác lợi thế theo quy mô (economy of scale), nâng cao vị thế đàm phán của nông dân với các doanh nghiệp cung ứng vật tư và bao tiêu sản phẩm, giảm thiểu chi phí giao dịch và hạn chế tình trạng bị tư thương ép giá.

Toàn tỉnh Thái Nguyên có trên 17.000 ha chè, tạo ra giá trị thu nhập khoảng 250 tỷ đồng mỗi năm, chiếm gần 15% giá trị sản xuất nông nghiệp của tỉnh; sản lượng chè búp tươi hàng năm đạt từ 125.000 đến 140.000 tấn. Tuy nhiên, sản lượng chế biến công nghiệp chỉ đạt từ 20% đến 25%, phần còn lại chủ yếu do nông hộ tự sơ chế. Hầu hết các cơ sở chế biến chưa có hợp đồng bao tiêu chặt chẽ và ổn định với người trồng chè. Tại huyện Đồng Hỷ – địa bàn trung du miền núi có điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng thuận lợi cho cây chè – sau hơn 10 năm thực hiện các chính sách hỗ trợ phát triển vùng chuyên canh, nhiều HTX nông nghiệp đã ra đời nhưng hiệu quả sản xuất kinh doanh còn hạn chế, chưa giải quyết tốt vấn đề tiêu thụ đầu ra cho các thành viên. Khóa luận đặt ra hệ thống câu hỏi nghiên cứu cấp thiết:

  • Tại sao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các HTX chè chưa cao?
  • Khâu tổ chức bộ máy HTX còn tồn tại những hạn chế gì?
  • Hoạt động sản xuất kinh doanh được triển khai và quản lý nguồn lực ra sao?
  • Những rào cản trong đầu tư phát triển là gì và làm thế nào để đảm bảo việc làm, thu nhập ổn định cho thành viên HTX?

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được phân định cụ thể theo các nhóm:

  1. Mục tiêu chung: Tìm hiểu mô hình tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh của HTX chè Thịnh An tại thị trấn Sông Cầu, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên; nhận diện điểm mạnh, hạn chế, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động.
  2. Mục tiêu cụ thể:
    • Về chuyên môn nghiệp vụ: Tìm hiểu thực trạng tổ chức và hoạt động sản xuất kinh doanh của HTX Thịnh An; tích lũy kiến thức, kỹ năng và bài học thực tiễn; phân tích các mặt tồn tại và đề xuất định hướng, giải pháp phát triển.
    • Về thái độ và ý thức trách nhiệm: Rèn luyện ý thức kỷ luật, tuân thủ nội quy HTX; chủ động hỗ trợ thành viên trong các khâu sản xuất; đảm bảo trách nhiệm công việc trong thời gian thực tập.
    • Về kỹ năng làm việc: Rèn luyện kỹ năng xây dựng kế hoạch làm việc khoa học và kỹ năng làm việc nhóm.
    • Về kỹ năng sống: Xây dựng tác phong nhanh nhẹn, khả năng thích ứng áp lực thực tế và học hỏi kinh nghiệm từ cơ sở.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Mô hình tổ chức bộ máy và hoạt động sản xuất kinh doanh của Hợp tác xã chè Thịnh An.
  • Phạm vi không gian: Hợp tác xã chè Thịnh An, xóm 9 (xóm Tân Lập), thị trấn Sông Cầu, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
  • Phạm vi thời gian: Thời gian thực tập và thu thập số liệu thực địa diễn ra từ ngày 13 tháng 08 năm 2018 đến ngày 23 tháng 12 năm 2018; các dữ liệu thứ cấp và báo cáo tài chính tập trung trong giai đoạn từ khi thành lập (2016) đến năm 2018, số liệu hoạt động chi tiết lấy mốc năm 2017.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật và lý luận về kinh tế hợp tác:

  • Khái niệm và khung pháp lý: Trích dẫn định nghĩa của Liên minh Hợp tác xã Quốc tế (ICA) tại Đại hội lần thứ 31 (Manchester, Anh, ngày 23/09/1945); các quy định pháp luật qua từng thời kỳ tại Việt Nam gồm Luật Hợp tác xã năm 1996, Luật Hợp tác xã năm 2003 và Luật Hợp tác xã năm 2012. Tác giả phân tích rõ sự chuyển biến bản chất theo Luật Hợp tác xã năm 2012: HTX không phải là một loại hình doanh nghiệp, mà là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập để tương trợ lẫn nhau. Hoạt động của HTX tuân thủ 7 nguyên tắc tổ chức tại Điều 7 Luật Hợp tác xã 2012 và quy định về Điều lệ HTX theo mẫu hướng dẫn của Chính phủ.
  • Khung lý luận kinh tế hợp tác: Hệ thống hóa 6 đặc trưng của HTX nông nghiệp: tính tự nguyện liên kết, nguyên tắc bình đẳng biểu quyết (mỗi thành viên một phiếu không phụ thuộc vốn góp), mục tiêu ưu tiên phục vụ dịch vụ cho thành viên, tự chủ tự chịu trách nhiệm, phân phối thu nhập chủ yếu theo mức độ sử dụng dịch vụ và công sức lao động, và tư cách hạch toán độc lập của nông hộ thành viên.
  • Cơ sở thực tiễn quốc tế và trong nước: Phân tích kinh nghiệm tổ chức HTX tại Ấn Độ (hệ thống Liên minh HTX Quốc gia Ấn Độ - NCUI đào tạo 3 cấp; mô hình Liên hiệp HTX sản xuất sữa Amul tại bang Gujarat); Nhật Bản (Liên hiệp HTX Tiêu dùng Nhật Bản - JCCU và hệ thống HTX Nông nghiệp Nhật Bản 3 cấp đa chức năng và đơn chức năng); Thái Lan (Liên đoàn HTX Thái Lan - CLT, cơ chế tín dụng ưu đãi qua Ngân hàng Nông nghiệp và HTX Nông nghiệp, vai trò của Vụ Phát triển HTX và Vụ Kiểm toán HTX); Malaysia (Tổ chức HTX ANGKASA và khung pháp lý Luật HTX năm 1993). Tại Việt Nam, tác giả tổng kết 2 giai đoạn: thời kỳ 1955-1975 (từ thí điểm 8 HTX năm 1955 đến mô hình HTX bậc cao) và thời kỳ từ năm 1975 đến nay (Chỉ thị 100-CT/TW năm 1981, Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị năm 1988, sự ra đời của các Luật HTX 1996, 2003, 2012 và hai phương thức chuyển đổi HTX kiểu mới).

Phương pháp thu thập thông tin được thực hiện qua hai kênh:

  1. Thu thập thông tin thứ cấp: Kế thừa số liệu, văn bản báo cáo kinh tế - xã hội từ UBND thị trấn Sông Cầu, phòng ban chuyên môn huyện Đồng Hỷ, tài liệu và sổ sách quản lý nội bộ của HTX chè Thịnh An, cùng các tư liệu chuyên ngành từ sách, báo và internet.
  2. Thu thập thông tin sơ cấp:
    • Phỏng vấn trực tiếp: Phỏng vấn sâu Ban Giám đốc HTX chè Thịnh An (Giám đốc Vũ Thị Thanh Hảo) về lịch sử hình thành, vốn góp, cơ cấu tổ chức bộ máy, các khoản thu - chi, định mức đầu tư, kênh tiêu thụ và phương hướng phát triển.
    • Trải nghiệm thực tế: Sinh viên trực tiếp tham gia vào các khâu trong quy trình sản xuất của HTX: thu hái chè búp tươi trên nương đồi, làm cỏ, vận chuyển, bảo quản nguyên liệu, chế biến kỹ thuật (làm héo, diệt men, vò, sấy, xao lăn tạo hình) và đóng gói chân không.
    • Quan sát và thảo luận: Quan sát trực tiếp dây chuyền và quy trình thao tác của xã viên; tổ chức thảo luận nhóm với lãnh đạo và các hộ thành viên về những vướng mắc phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả xác định tính cấp thiết của việc tổ chức lại sản xuất chè tại Thái Nguyên từ hình thức kinh tế hộ phân tán sang mô hình HTX kiểu mới theo Luật Hợp tác xã 2012. Phần này làm rõ sự cần thiết của HTX trong việc cung ứng vật tư đầu vào đồng bộ, chuyển giao khoa học kỹ thuật, tạo vùng nguyên liệu an toàn và nâng cao giá trị thặng dư thông qua chế biến tập trung. Tác giả đặt ra 6 câu hỏi nghiên cứu làm kim chỉ nam, xác định hệ thống mục tiêu chuyên môn kết hợp rèn luyện kỹ năng thực tập nghề nghiệp, lập đề cương chi tiết về nội dung nghiên cứu và kế hoạch thực hiện tại xóm 9, thị trấn Sông Cầu từ tháng 8/2018 đến tháng 12/2018.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Phần này hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận về HTX và HTX nông nghiệp:

  • Trình bày sự phát triển của hệ thống quan điểm về HTX trên thế giới và tại Việt Nam qua các mốc Luật Hợp tác xã năm 1996, 2003 và 2012; phân tích 7 nguyên tắc cơ bản và vai trò của Điều lệ HTX trong việc thiết lập trật tự quản lý nội bộ.
  • Phân tích vai trò của HTX nông nghiệp trong việc làm cầu nối giữa Nhà nước và hộ nông dân, cung cấp dịch vụ công ích và thương mại nội bộ, làm đối trọng bảo vệ quyền lợi nông dân trước sự biến động của thị trường vật tư nông nghiệp.
  • Tổng kết kinh nghiệm quốc tế về phát triển HTX tại Ấn Độ, Nhật Bản, Thái Lan, Malaysia; rút ra các bài học về chính sách vốn, xúc tiến thương mại, đào tạo cán bộ HTX và cơ chế kiểm toán chuyên biệt.
  • Khái quát lịch sử HTX nông nghiệp Việt Nam qua hai thời kỳ 1955-1975 và 1975 đến nay; phân tích nguyên nhân trì trệ của mô hình HTX bậc cao tập thể hóa tư liệu sản xuất giai đoạn trước Đổi mới, vai trò bước ngoặt của cơ chế khoán sản phẩm (Chỉ thị 100, Nghị quyết 10), và phân tích hai cách tiếp cận chuyển đổi HTX kiểu mới: tổ chức lại HTX cũ và thành lập HTX mới dựa trên nhu cầu tự nguyện của nông dân.

Phần 3: Kết quả thực tập

Phần này trình bày toàn bộ số liệu điều tra thực địa, phân tích tình hình hoạt động và đánh giá thực tiễn tại HTX chè Thịnh An:

  • Thông tin chung và tổ chức bộ máy: HTX chè Thịnh An được cấp giấy phép thành lập ngày 29/03/2016 và chính thức hoạt động từ ngày 11/11/2016 tại xóm Tân Lập (xóm 9), thị trấn Sông Cầu, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. Đại diện quản lý gồm Giám đốc Vũ Thị Thanh Hảo và Phó Giám đốc Vũ Thị Thương Huyền, liên kết 150 hộ thành viên. Bộ máy quản trị gồm Ban quản trị HTX, Ban giám đốc (Ban chủ nhiệm), Ban kiểm soát (Ban giám sát), bộ phận Kế toán và các Đội sản xuất.
  • Thành tựu và chứng nhận: Sản phẩm của HTX tham gia Hội chợ triển lãm sản phẩm Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp khu vực miền Bắc tại Hòa Bình năm 2016; đạt danh hiệu "Sản phẩm làng nghề chất lượng - thẩm mỹ và bản sắc năm 2017" do Hiệp hội Làng nghề Việt Nam trao tặng; danh hiệu "Sản phẩm, dịch vụ chất lượng hội nhập năm 2017" và lọt "Top 100 Thương hiệu Việt uy tín lần thứ 13 năm 2017" do Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng Thương hiệu Việt bình chọn.
  • Cơ sở vật chất, vốn và chi phí đầu tư:
    • Nhà xưởng hiện có diện tích 150 m² (gồm khu chế biến, thu gom, bảo quản); HTX có kế hoạch xây dựng thêm nhà xưởng 500 m² tại xóm Liên Cơ.
    • Vùng nguyên liệu đạt 50 ha, trong đó chè lai LDP là 24,31 ha (chiếm 39,14%), diện tích chè cành là 36,46 ha (chiếm 58,71% diện tích), định hướng mở rộng lên 100 ha canh tác hữu cơ. Các giống chè đang canh tác gồm: LDP1, LDP2, TRI 777, Kim Tuyên, Phúc Thọ, Phúc Vân Tiên.
    • Trang thiết bị ban đầu có tổng giá trị đầu tư là 346 triệu đồng, bao gồm: 01 máy hút chân không (14 triệu đồng), 03 tôn quay sao chè (21 triệu đồng), 01 máy ủ hương (75 triệu đồng) và 03 máy vò chè công suất 30-40 kg/mẻ (195 triệu đồng).
    • Cơ cấu nguồn vốn: Tổng vốn đầu tư sản xuất kinh doanh ban đầu là 2.000 triệu đồng (2 tỷ đồng); trong đó vốn tự có của HTX là 1.950 triệu đồng (chiếm 97,5%), vốn vay từ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Agribank) là 50 triệu đồng (chiếm 2,5%).
    • Chi phí vật tư cho một đợt cải tạo nương chè là 84 triệu đồng, bao gồm: 20.000 cây giống (đơn giá 500 đồng/cây, thành tiền 10 triệu đồng), 100 lọ thuốc bảo vệ thực vật (thành tiền 14 triệu đồng) và phân bón các loại gồm đạm, lân, kali (60 triệu đồng).
  • Kết quả sản xuất và kinh doanh năm 2017:
    • Sản lượng chè khô trung bình đạt 120 tạ/năm (chè cành đạt 75 tạ, chè trung du đạt 45 tạ). Giá bán trung bình chè cành đạt 250.000 đồng/kg, chè trung du đạt 200.000 đồng/kg.
    • Doanh thu từ hoạt động chế biến chè đạt 166,56 triệu đồng (chè cành 90,76 triệu đồng, chè trung du 75,80 triệu đồng); lợi nhuận từ khâu chế biến đạt khoảng 75 triệu đồng.
    • Về hoạt động kinh doanh thương mại (thu mua, đóng gói tiêu thụ): Lợi nhuận từ chè cành đạt 96,96 triệu đồng (chiếm 54,6%), từ chè trung du đạt 80,60 triệu đồng (chiếm 45,4%); tổng lợi nhuận từ mảng kinh doanh chè là 177,56 triệu đồng.
    • Tổng lợi nhuận từ cả hai hoạt động sản xuất chế biến và kinh doanh thương mại đạt xấp xỉ 250 triệu đồng/năm.
    • Kênh phân phối sản phẩm thực tế: Nông dân $\rightarrow$ Tư thương nhỏ/lớn $\rightarrow$ Chợ địa phương / Nhà máy, cơ sở chế biến $\rightarrow$ Người tiêu dùng trong nước / Xuất khẩu. Kênh phân phối này khiến sản phẩm chịu áp lực ép giá từ thương lái trung gian.
  • Quy trình kỹ thuật và bài học thực tiễn:
    • Kỹ thuật thu hái: Áp dụng nguyên tắc hái chừa hợp lý và hái đúng phẩm cấp; tiêu chuẩn phân loại phẩm cấp búp chè tươi (loại 1/A: 0-10% lá già/bánh tẻ; loại 2/B: 10-20%; loại 3/C: 20-30%; loại 4/D: 30-40%); phân loại chất lượng theo lá non (loại đặc biệt: 1 tôm; loại 1: 1 tôm 1 lá; loại 2: 1 tôm 2 lá; loại 3: 1 tôm 3 lá và búp mù).
    • Vận chuyển và bảo quản búp tươi: Rải mỏng không quá 20 cm, đảo rũ 2 giờ/lần, bảo quản phòng mát, vận chuyển đến xưởng chế biến chậm nhất không quá 4 giờ sau thu hái; dùng bạt nilon lót đáy phương tiện, không để lẫn với phân bón hay thuốc trừ sâu.
    • Quy trình chế biến 5 bước: Làm héo nhẹ (rải nong thưa 1,5-2 kg, đảo 0,5-1 giờ/lần trong 3-6 giờ) $\rightarrow$ Diệt men nhiệt độ cao $\rightarrow$ Vò và làm tươi (vò 2 lần, mỗi lần 25-30 phút, rũ tơi sau mỗi lần vò) $\rightarrow$ Sấy khô sơ bộ (nhiệt độ khí nóng 95-105°C, thời gian 15-20 phút, độ ẩm còn 30-35%) $\rightarrow$ Xao lăn tạo hình và làm khô (nhiệt độ thành thiết bị 120-150°C) $\rightarrow$ Phân loại, đóng gói hút chân không.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận cung cấp hệ thống dữ liệu thực chứng phản ánh tình hình hoạt động của một mô hình HTX nông nghiệp mới thành lập tại vùng chè Thái Nguyên:

Bảng tổng hợp các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của HTX chè Thịnh An

Nhóm chỉ tiêu Nội dung chỉ tiêu Đơn vị tính Giá trị ghi nhận
Quy mô thành viên & Đất đai Số hộ thành viên tham gia Hộ 150
Tổng diện tích vùng chè ha 50,00
Diện tích chè lai LDP ha 24,31
Diện tích chè cành ha 36,46
Diện tích nhà xưởng hiện hữu m² 150
Nguồn vốn & Trang thiết bị Tổng vốn đầu tư ban đầu Triệu đồng 2.000,00
Vốn tự có của HTX (tỷ lệ 97,5%) Triệu đồng 1.950,00
Vốn vay Agribank (tỷ lệ 2,5%) Triệu đồng 50,00
Tổng chi phí mua sắm trang thiết bị Triệu đồng 346,00
Chi phí máy vò chè (03 chiếc) Triệu đồng 195,00
Chi phí máy ủ hương (01 chiếc) Triệu đồng 75,00
Chi phí tôn quay (03 chiếc) Triệu đồng 21,00
Chi phí máy hút chân không (01 chiếc) Triệu đồng 14,00
Chi phí cải tạo nương chè Chi phí cây giống (20.000 cây) Triệu đồng 10,00
Chi phí thuốc BVTV (100 lọ) Triệu đồng 14,00
Chi phí phân bón các loại Triệu đồng 60,00
Tổng chi phí cải tạo một đợt Triệu đồng 84,00
Sản xuất & Tài chính năm 2017 Tổng sản lượng chè khô thành phẩm Tạ/năm 120,00
Sản lượng chè cành khô Tạ/năm 75,00
Sản lượng chè trung du khô Tạ/năm 45,00
Giá bán bình quân chè cành Đồng/kg 250.000
Giá bán bình quân chè trung du Đồng/kg 200.000
Tổng doanh thu sản xuất chế biến Triệu đồng 166,56
Lợi nhuận sản xuất chế biến Triệu đồng ~75,00
Lợi nhuận từ kinh doanh tiêu thụ Triệu đồng 177,56
Tổng lợi nhuận từ hai hoạt động Triệu đồng/năm ~250,00

Giải pháp và kiến nghị của tác giả:

  • Đối với các cấp chính quyền: Hỗ trợ HTX tiếp cận các nguồn vốn vay ưu đãi với thời hạn dài hơn; tạo điều kiện thuận lợi về cấp phép mặt bằng mở rộng nhà xưởng; hỗ trợ đào tạo nghiệp vụ quản lý kinh tế tập thể cho ban lãnh đạo HTX; đầu tư nâng cấp hạ tầng thủy lợi phục vụ tưới tiêu mùa khô.
  • Đối với HTX chè Thịnh An: Quy hoạch mở rộng diện tích xưởng lên 500 m² tại xóm Liên Cơ; chuẩn hóa quy trình thâm canh hữu cơ trên 100 ha; xây dựng quy chế nghiệm thu búp tươi nghiêm ngặt theo 4 tiêu chuẩn phẩm cấp; chủ động tìm kiếm các kênh bán buôn, đại lý chính thức để cắt giảm sự phụ thuộc vào tư thương trung gian.
  • Đối với địa phương và hộ nông dân: Địa phương cần làm tốt vai trò cầu nối quy hoạch vùng nguyên liệu; các hộ xã viên cần tuân thủ nghiêm ngặt lịch trình thu hái, bón phân, phòng trừ sâu bệnh theo đúng quy trình kỹ thuật được chuyển giao, từ bỏ thói quen sản xuất tự do thiếu đồng nhất.

Đóng góp so với các nghiên cứu trước: Khóa luận đã mô tả chi tiết cơ cấu chi phí thực tế và chu trình bán cơ giới hóa của một HTX chè ở giai đoạn đầu thành lập (vận hành sau 2 năm). Tác giả cung cấp dữ liệu định lượng cụ thể về cơ cấu vốn tự có/vốn vay, chi phí đầu tư từng danh mục máy móc và hạch toán dòng lợi nhuận rạch ròi giữa hai mảng: tự chế biến và làm dịch vụ thương mại trung gian.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế: Khóa luận được thực hiện trong khuôn khổ thực tập tốt nghiệp cử nhân của một tác giả cá nhân từ tháng 8/2018 đến tháng 12/2018. Mẫu khảo sát dữ liệu tập trung chủ yếu vào báo cáo tài chính của năm 2017 và số liệu điều tra trực tiếp từ Giám đốc HTX, chưa thực hiện khảo sát điều tra xã hội học trên toàn bộ 150 hộ thành viên bằng bảng hỏi chuẩn hóa. Các phân tích về thị trường tiêu thụ ngoài tỉnh và xuất khẩu mới dừng ở mức nhận diện sơ đồ chuỗi phân phối tổng quát, chưa có dữ liệu lượng hóa về thị phần chi tiết tại các tỉnh lân cận.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng phạm vi điều tra định lượng bằng bảng hỏi tới 150 nông hộ thành viên để đánh giá mức độ hài lòng về phân phối thu nhập và dịch vụ hỗ trợ nội bộ của HTX.
  • Nghiên cứu sâu về hiệu quả kinh tế của mô hình chuyển đổi sản xuất chè hữu cơ theo tiêu chuẩn VietGAP/hữu cơ tại nương đồi của HTX.
  • Đánh giá khả năng tích hợp mô hình du lịch sinh thái trải nghiệm nông nghiệp và văn hóa thưởng trà mà HTX đang định hướng triển khai.

Giá trị tham khảo

Tài liệu này hữu ích cho sinh viên, học viên chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Quản trị hợp tác xã, Phát triển nông thôn và Nông học. Những nội dung có giá trị tham khảo cụ thể gồm:

  • Bảng danh mục chi phí đầu tư máy móc chế biến chè bán cơ giới quy mô nhỏ (máy vò, tôn quay, máy ủ hương, máy đóng gói hút chân không).
  • Dữ liệu hạch toán chi phí đầu vào cải tạo nương chè (giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật) tính trên quy mô thực tế.
  • Bản mô tả chi tiết thông số kỹ thuật quy trình 5 bước chế biến chè xanh và tiêu chuẩn kỹ thuật phân loại búp chè tươi tại vùng nguyên liệu.
  • Tài liệu minh họa thực tiễn cho việc áp dụng Luật Hợp tác xã 2012 trong việc thành lập mới và vận hành HTX nông nghiệp tại vùng trung du miền núi phía Bắc.

Câu hỏi thường gặp

1. Hợp tác xã chè Thịnh An được thành lập khi nào và cơ cấu vốn ban đầu gồm những nguồn nào?
HTX chè Thịnh An được cấp giấy phép thành lập ngày 29/03/2016 và chính thức hoạt động từ ngày 11/11/2016. Tổng vốn đầu tư sản xuất kinh doanh ban đầu là 2.000 triệu đồng (2 tỷ đồng), trong đó vốn tự có của HTX chiếm 97,5% (1.950 triệu đồng) và vốn vay từ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Agribank) chiếm 2,5% (50 triệu đồng).

2. Quy mô diện tích và các giống chè chủ yếu được trồng tại HTX là gì?
HTX quản lý vùng chè 50 ha với 150 hộ thành viên tham gia. Trong đó, diện tích chè lai LDP là 24,31 ha (chiếm 39,14%) và chè cành là 36,46 ha (chiếm 58,71%). Các giống chè đang canh tác gồm: LDP1, LDP2, TRI 777, Kim Tuyên, Phúc Thọ và Phúc Vân Tiên. HTX có dự kiến mở rộng vùng nguyên liệu lên 100 ha theo hướng hữu cơ.

3. Chi phí mua sắm trang thiết bị máy móc ban đầu của HTX là bao nhiêu và thiết bị nào chiếm ngân sách lớn nhất?
Tổng chi phí trang thiết bị ban đầu là 346 triệu đồng. Trong đó, máy vò chè gồm 03 chiếc chiếm ngân sách lớn nhất với 195 triệu đồng; tiếp theo là 01 máy ủ hương với 75 triệu đồng; 03 tôn quay trị giá 21 triệu đồng; và 01 máy hút chân không trị giá 14 triệu đồng.

4. Kết quả doanh thu và lợi nhuận của HTX chè Thịnh An trong năm 2017 đạt bao nhiêu?
Năm 2017, HTX đạt sản lượng 120 tạ chè khô, tổng doanh thu từ hoạt động chế biến chè là 166,56 triệu đồng, mang lại khoảng 75 triệu đồng lợi nhuận. Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh thương mại (thu gom, đóng gói, tiêu thụ) đạt 177,56 triệu đồng. Tổng lợi nhuận từ cả hai hoạt động đạt khoảng 250 triệu đồng.

5. Kỹ thuật chế biến chè xanh bán cơ giới tại HTX trải qua các bước nào?
Quy trình chế biến gồm 5 công đoạn: (1) Làm héo nhẹ rải nong 1,5-2 kg trong 3-6 giờ; (2) Diệt men bằng nhiệt độ cao để đình chỉ enzyme; (3) Vò chè và làm tươi qua 2 lần vò, mỗi lần 25-30 phút; (4) Sấy chè sơ bộ ở nhiệt độ khí nóng 95-105°C trong 15-20 phút đưa thủy phần về 30-35%; (5) Xao lăn tạo hình và làm khô ở nhiệt độ thành thiết bị 120-150°C, sau đó phân loại và đóng gói hút chân không.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Lý Hương Tuyền đã phản ánh bức tranh thực tiễn về mô hình tổ chức và hoạt động sản xuất kinh doanh của HTX chè Thịnh An tại thị trấn Sông Cầu, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên theo Luật Hợp tác xã năm 2012. Nghiên cứu cung cấp hệ thống số liệu định lượng về cơ cấu vốn 2 tỷ đồng, trang thiết bị 346 triệu đồng, nương chè 50 ha cùng kết quả lợi nhuận hàng năm đạt khoảng 250 triệu đồng của đơn vị. Khóa luận đã phân tích các rào cản về vốn, chất lượng búp tươi không đồng đều và sự phụ thuộc vào tư thương trung gian, đồng thời kiến nghị các giải pháp cụ thể nhằm mở rộng quy mô xưởng chế biến, chuẩn hóa kỹ thuật và tái cơ cấu kênh tiêu thụ bền vững cho HTX.