Mô Hình Tích Hợp Viễn Thám và GIS Xác Định Nguy Cơ Lũ Quét Tại Lưu Vực Sông Năng, Tỉnh Bắc Kạn

Luận án tiến sĩ kỹ thuật phân tích xây dựng mô hình tích hợp viễn thám và gis xác định nguy cơ tai biến lũ quét lưu vực sông năng tỉnh, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực

Chuyên ngành

Địa Lý Tự Nhiên

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2017

196
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của nghiên cứu

1.2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4. Luận điểm bảo vệ

1.5. Đóng góp mới của luận án

1.6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

1.7. Cơ sở tài liệu thực hiện luận án

1.8. Kết cấu của luận án

2. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1. Khái niệm và phân loại lũ quét

2.2. Tổng quan mô hình, công cụ và phương pháp nghiên cứu lũ quét

2.3. Tổng quan tình hình nghiên cứu lũ quét trên thế giới

2.4. Tổng quan tình hình nghiên cứu lũ quét ở Việt Nam

2.5. Nghiên cứu lũ quét tại lưu vực sông Năng. Quan điểm, phương pháp và quy trình nghiên cứu của luận án

2.6. Tiểu kết chương 1

3. MÔ HÌNH XÁC ĐỊNH NGUY CƠ LŨ QUÉT

3.1. Cơ sở hình thành lũ quét

3.2. Phương pháp SCS xác định mưa hiệu quả

3.3. Tính toán Qmax và TQmax

3.4. Phân tích GIS

3.5. Phân tích viễn thám

3.6. Xác định nguy cơ lũ quét

3.7. Xây dựng phần mềm phân tích thủy văn GIS lũ quét

3.8. So sánh mô hình lũ quét của luận án với các mô hình và phương pháp nghiên cứu lũ quét khác

3.9. Tiểu kết chương 2

4. ĐẶC ĐIỂM LŨ QUÉT VÀ CÁC NHÂN TỐ HÌNH THÀNH LŨ QUÉT LƯU VỰC SÔNG NĂNG, BẮC KẠN

4.1. Vị trí địa lý. Đặc điểm kinh tế - xã hội

4.2. Đặc điểm lũ quét

4.3. Đặc điểm điều kiện tự nhiên và ảnh hưởng tới lũ quét

4.4. Tiểu kết chương 3

5. TÍNH TOÁN, XÁC ĐỊNH NGUY CƠ LŨ QUÉT LƯU VỰC SÔNG NĂNG, TỈNH BẮC KẠN

5.1. Tính toán Qmax và Tmax. Xác định vùng đồng bằng ngập lụt

5.2. Tính toán Qmax và TQmax cho vùng đồng bằng ngập lụt

5.3. Tính toán chỉ số nguy cơ lũ quét (FFPI)

5.4. Kiểm chứng mô hình. Xác định nguy cơ lũ quét

5.5. Tiểu kết chương 4

6. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ

LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Mô Hình Tích Hợp Viễn Thám và GIS Đánh Giá Nguy Cơ Lũ Quét

Mô hình tích hợp giữa viễn thámGIS đã trở thành công cụ quan trọng trong việc đánh giá nguy cơ lũ quét tại các lưu vực sông. Đặc biệt, lưu vực sông Năng, Bắc Kạn, với địa hình phức tạp và khí hậu biến đổi, cần được nghiên cứu kỹ lưỡng. Việc áp dụng công nghệ này không chỉ giúp xác định các khu vực có nguy cơ cao mà còn hỗ trợ trong việc quản lý tài nguyên nước và phòng chống thiên tai.

1.1. Khái Niệm Về Viễn Thám và GIS Trong Đánh Giá Nguy Cơ

Viễn thám là công nghệ thu thập thông tin từ xa, trong khi GIS là hệ thống thông tin địa lý giúp phân tích và quản lý dữ liệu không gian. Sự kết hợp giữa hai công nghệ này cho phép đánh giá chính xác hơn về nguy cơ lũ quét thông qua việc phân tích các yếu tố như độ dốc, loại đất và lớp phủ thực vật.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Nghiên Cứu Tại Lưu Vực Sông Năng

Lưu vực sông Năng là khu vực dễ bị tổn thương trước các hiện tượng thiên tai như lũ quét. Nghiên cứu này không chỉ giúp xác định các khu vực có nguy cơ cao mà còn cung cấp thông tin cần thiết cho các cơ quan chức năng trong việc lập kế hoạch ứng phó và giảm thiểu thiệt hại.

II. Vấn Đề và Thách Thức Trong Đánh Giá Nguy Cơ Lũ Quét

Đánh giá nguy cơ lũ quét tại lưu vực sông Năng gặp nhiều thách thức. Các yếu tố như biến đổi khí hậu, sự phát triển đô thị và thay đổi sử dụng đất đều ảnh hưởng đến tần suất và cường độ của lũ quét. Việc thu thập dữ liệu chính xác và kịp thời là rất quan trọng để xây dựng mô hình dự báo hiệu quả.

2.1. Biến Đổi Khí Hậu và Tác Động Đến Lũ Quét

Biến đổi khí hậu đã làm gia tăng tần suất và cường độ của các trận mưa lớn, dẫn đến nguy cơ lũ quét cao hơn. Các nghiên cứu cho thấy rằng sự thay đổi này có thể làm tăng lượng mưa trong các trận mưa cực đoan, từ đó làm tăng nguy cơ lũ quét tại lưu vực sông Năng.

2.2. Sự Phát Triển Đô Thị và Thay Đổi Sử Dụng Đất

Sự phát triển đô thị và thay đổi trong sử dụng đất có thể làm giảm khả năng hấp thụ nước của đất, dẫn đến tình trạng ngập úng và lũ quét. Việc quản lý sử dụng đất hợp lý là cần thiết để giảm thiểu nguy cơ này.

III. Phương Pháp Xây Dựng Mô Hình Tích Hợp Đánh Giá Nguy Cơ Lũ Quét

Phương pháp xây dựng mô hình tích hợp giữa viễn thámGIS bao gồm nhiều bước quan trọng. Đầu tiên, cần thu thập dữ liệu về địa hình, khí hậu và sử dụng đất. Sau đó, các dữ liệu này sẽ được phân tích để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến nguy cơ lũ quét.

3.1. Thu Thập Dữ Liệu Địa Hình và Khí Hậu

Dữ liệu địa hình được thu thập từ các nguồn viễn thám như ảnh vệ tinh và mô hình số độ cao. Dữ liệu khí hậu bao gồm thông tin về lượng mưa, nhiệt độ và độ ẩm, giúp xác định các điều kiện thuận lợi cho lũ quét.

3.2. Phân Tích Dữ Liệu Bằng GIS

Sử dụng GIS để phân tích dữ liệu không gian giúp xác định các khu vực có nguy cơ cao. Các công cụ phân tích không gian cho phép mô hình hóa các yếu tố như độ dốc, loại đất và lớp phủ thực vật, từ đó đưa ra dự báo chính xác hơn về nguy cơ lũ quét.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Mô Hình Tích Hợp Trong Quản Lý Nguy Cơ Lũ Quét

Mô hình tích hợp giữa viễn thámGIS không chỉ giúp đánh giá nguy cơ mà còn hỗ trợ trong việc lập kế hoạch ứng phó với lũ quét. Các kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng để xây dựng bản đồ cảnh báo và lập kế hoạch phát triển bền vững cho khu vực.

4.1. Xây Dựng Bản Đồ Cảnh Báo Nguy Cơ Lũ Quét

Bản đồ cảnh báo nguy cơ lũ quét được xây dựng dựa trên kết quả phân tích dữ liệu. Bản đồ này giúp các cơ quan chức năng nhận diện nhanh chóng các khu vực có nguy cơ cao và triển khai các biện pháp ứng phó kịp thời.

4.2. Lập Kế Hoạch Phát Triển Bền Vững

Thông qua việc sử dụng mô hình tích hợp, các nhà quản lý có thể lập kế hoạch phát triển bền vững cho khu vực, đảm bảo an toàn cho cộng đồng và giảm thiểu thiệt hại do lũ quét gây ra.

V. Kết Luận và Tương Lai Của Nghiên Cứu Về Nguy Cơ Lũ Quét

Nghiên cứu về nguy cơ lũ quét tại lưu vực sông Năng thông qua mô hình tích hợp viễn thámGIS đã chỉ ra tầm quan trọng của việc áp dụng công nghệ hiện đại trong quản lý thiên tai. Tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu và cải tiến mô hình để nâng cao độ chính xác và hiệu quả trong việc dự báo và ứng phó với lũ quét.

5.1. Đề Xuất Nghiên Cứu Tiếp Theo

Cần thực hiện các nghiên cứu tiếp theo để cải thiện mô hình dự báo, bao gồm việc thu thập thêm dữ liệu và áp dụng các công nghệ mới trong viễn thámGIS.

5.2. Tầm Quan Trọng Của Hợp Tác Quốc Tế

Hợp tác quốc tế trong nghiên cứu và ứng phó với lũ quét là rất cần thiết. Việc chia sẻ dữ liệu và kinh nghiệm giữa các quốc gia sẽ giúp nâng cao khả năng ứng phó với thiên tai.

23/07/2025
Luận án tiến sĩ xây dựng mô hình tích hợp viễn thám và gis xác định nguy cơ tai biến lũ quét lưu vực sông năng tỉnh bắc kạn

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm và phân loại lũ quét Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm và phân loại lũ quét bởi vì lũ quét là một quá trình tự nhiên phức tạp về nguyên nhân, thành phần, sự xuất hiện và còn do bởi cách tiếp cận khác nhau của các nghiên cứu. Khái niệm lũ quét Dưới đây là những khái niệm được trích dẫn khá phổ biến trong và ngoài nước:  Ngoài nước: - Tổ chức Khí tượng Thế giới [79]: Lũ quét là loại lũ thường xảy ra trong thời gian ngắn (bất thần xuất hiện và biến mất ở thượng nguồn), đỉnh lưu lượng tương đối lớn và nhọn. - Cơ quan Dịch vụ Khí tượng Mỹ (AMS) [84]: Lũ quét là loại lũ lên và xuống rất nhanh mà có ít hoặc hầu như không có cảnh báo trước do mưa lớn xảy ra trên khu vực tương đối nhỏ.

- Cơ quan Dịch vụ Thời tiết Quốc gia Mỹ (US NWS) [84]: Một dòng chảy nhanh và cực mạnh do khối nước cao tới khu vực thường xuyên khô hoặc sự dâng mực nước rất nhanh trong suối, kênh, sông vượt quá mức lũ định trước và thường xảy ra trong vòng 6 giờ của sự cố (mưa lớn, vỡ đập, tan băng). Tuy nhiên, ngưỡng thời gian thực có thể khác nhau theo từng vùng, thủy vực. Các trận lũ đang diễn ra làm tăng mạnh khả năng lũ quét khi gặp mưa lớn làm dâng đột ngột mức lũ.  Trong nước: - Cao Đăng Dư và Lê Bắc Huỳnh [6]: Lũ quét thường là những trận lũ lớn, xảy ra bất ngờ, tồn tại trong một thời gian ngắn (lên nhanh, xuống nhanh), dòng chảy xiết có hàm lượng chất rắn cao và có sức tàn phá lớn.

- Lã Thanh Hà và Ngô Trọng Thuận [13]: Lũ quét là lũ hình thành do mưa kết hợp với các tổ hợp bất lợi về điều kiện mặt đệm (địa hình, địa mạo, lớp phủ.) sinh ra dòng chảy bùn đá trên các sườn dốc (lưu vực, sông suối), dòng chảy lũ truyền LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 rất nhanh gây ra những tàn phá bất ngờ và nghiêm trọng ở khu vực sườn núi và dọc sông mà nó tràn qua. Nhận xét: Các khái niệm đưa ra ở trên đều chỉ rõ đặc điểm rất riêng của lũ quét là lên nhanh, xuống nhanh, xảy ra bất ngờ, lưu lượng lớn, hàm lượng chất rắn lơ lửng cao, thường xảy ra ở khu vực đồi núi và do mưa lớn. Đáng chú ý nhất là khái niệm đưa ra bởi Lã Thanh Hà và Ngô Trọng Thuận [13] dựa trên kết quả nghiên cứu các trận lũ quét xảy ra ở Việt Nam trong thời gian dài (từ năm 1953 đến 2008) nhấn mạnh nguyên nhân chính là mưa lớn và tổ hợp các yếu tố thuận lợi của điều kiện bề mặt. Dựa trên nhiều kết quả nghiên cứu lũ quét trong nước, dựa trên đối tượng và phạm vi nghiên cứu, trong luận án, khái niệm lũ quét được xác định: “Lũ quét là những trận lũ lớn, xảy ra bất ngờ, tồn tại trong một thời gian ngắn, có dòng chảy xiết, có hàm lượng chất rắn cao và có sức tàn phá lớn hơn nhiều mức lũ bình thường và thường xảy ra ở thượng nguồn khe, suối, sông và trên những lưu vực tương đối nhỏ nơi có tổ hợp các yếu tố thuận lợi của điều kiện bề mặt và địa hình”.

Phân loại lũ quét Các nghiên cứu trong và ngoài nước đều dựa vào đặc điểm, quy mô phát triển, các vật chất mang theo trong dòng chảy và nguyên nhân gây lũ mà phân lũ quét ra thành các loại chính sau: Cao Đăng Dư và Lê Bắc Huỳnh [6] dựa vào nguyên nhân chia lũ quét thành 3 loại: (1) lũ gây ra do mưa cục bộ, tập trung lớn ở các lưu vực tự nhiên; (2) lũ gây ra do mưa lớn trên các lưu vực đã có tác động mạnh của con người; (3) lũ gây ra do tháo, vỡ thình lình đập chắn. Lã Thanh Hà và Ngô Trọng Nhuận [10, 13] dựa vào độ lớn, nguyên nhân và phạm vi hoạt động chia lũ quét thành 2 loại: (1) lũ quét sườn dốc: lũ hình thành do mưa gây ra dòng chảy mặt lớn trên sườn dốc. Lũ này thường có tính cục bộ, phạm vi hẹp và xuất hiện ở đầu các khe, suối và thường tắt khi đi đến hồ chứa lớn hay sông chính; (2) lũ quét dòng: do mưa lớn trên diện rộng toàn lưu vực gây ra lũ có dòng chảy lớn trên các suối, sông chính quét đi làng mạc, công trình dọc hai bên bờ. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Ngô Đình Tuấn [45] dựa vào vật chất mang theo mà chia lũ quét thành 3 loại: (1) lũ quét (sweeping flood, flash flood): lũ quét xảy ra với tốc độ lớn và đường đi ngắn, quét đi mọi chướng ngại vật trên đường đi của nó; (2) lũ bùn (mudflow): lũ mang nhiều bùn, đá; (3) lũ đá (debris flood): lũ mang nhiều rác, cành cây, cuội sỏi, đá, đá tảng.

Trần Văn Tư [44] dựa trên quy luật hình thành, phát triển và vật chất mang theo chia lũ quét thành 4 loại: (1) lũ quét nghẽn dòng: lũ có công suất và dòng chảy lớn, mang nhiều vật chất khác nhau, hình thành trên thung lũng sông mở rộng hoặc trũng giữa các núi, hoặc cánh đồng karst làm dòng nước bị tắc nghẽn, ứ đọng; (2) lũ quét sườn: có vận tốc dòng chảy lớn, lên xuống nhanh, xảy ra chủ yếu trên sườn dốc nơi có tập trung nước mặt lớn thuộc suối cấp 1 và 2; (3) lũ quét hỗn hợp: có vận tốc dòng chảy lớn, mang theo nhiều vật chất khác nhau xảy ra trong trũng có kích thước nhỏ, cửa sông suối dạng trũng nhỏ và hở, các đoạn sông mở rộng có đặc trưng trung gian của lũ quét nghẽn dòng và lũ quét sườn; (4) lũ bùn đá: là loại lũ quét sườn đặc biệt chứa nhiều bùn, đá, cành cây, có động năng lớn, phát sinh từ thượng nguồn các suối nhỏ (cấp 1, 2) do đất đá trượt lở kết hợp đưa vào dòng lũ ở các hợp lưu với suối, sông lớn hơn. Nguyễn Ngọc Thạch và nnk [35] dựa trên phạm vi hoạt động, vật chất mang theo và nguyên nhân phân lũ quét thành 4 loại: (1) lũ quét sườn dốc: lũ xảy ra trên sườn dốc với tốc độ lớn và ngắn, quét đi mọi chướng ngại trên đường nó đi qua; (2) lũ bùn đá: lũ có mang nhiều bùn, đá trong dòng lũ; (3) lũ nghẽn dòng: lũ mang nhiều rác, cành cây, đất đá, cuội sỏi xảy ra do dòng lũ bị chặn, nghẽn tạo thành hồ chứa tự nhiên và vỡ đột ngột; (4) sự cố hồ chứa nước nhân tạo: do vỡ đập các hồ chứa nhân tạo. Phạm Thị Hương Lan và Vũ Minh Cát [31] dựa vào nguyên nhân phân lũ quét thành 5 loại: (1) lũ quét sườn dốc: do yếu tố mặt đệm, độ dốc gây dòng chảy mặt lớn và tập trung nước nhanh về suối, sông gây lũ quét ở phía hạ lưu; (2) lũ quét nghẽn dòng: do đất đá trượt lở hai bên bờ sông làm tắc nghẽn dòng, gây đập nước nhân tạo và khi bị vỡ sẽ tạo lũ quét; (3) lũ ống: mưa lớn kết hợp với xả lớn từ hồ chứa tạo nên LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 dòng lũ lớn bất thường; (4) lũ quét: do mưa lớn kết hợp với vỡ đập gây ra lũ quét trên diện rộng; (5) lũ bùn đá: dòng lũ cát, bùn. Dựa trên các nghiên cứu lũ quét ở Việt Nam, NCS chia lũ quét thành 4 loại: (1) lũ quét nghẽn dòng, (2) lũ quét sườn dốc (3) lũ quét hỗn hợp, (4) lũ bùn đá.

Vì lũ quét nghẽn dòng, bùn đá và hỗn hợp rất khó định lượng, mô phỏng và dự báo, NCS chỉ tập trung nghiên cứu và đưa ra mô hình nguy cơ lũ quét đối với loại phổ biến nhất ở nước ta và có thể định lượng được là lũ quét sườn dốc. Lũ quét nghẽn dòng có thể là do vỡ đập tự nhiên hoặc đập nhân tạo. Nghẽn dòng tự nhiên sinh ra do lòng dẫn sông suối tại một số nơi, một cách tự nhiên, hoặc bị thắt đột ngột hoặc bị cong đột ngột hoặc cả hai tạo ra các nghẽn dòng do dồn ứ, tích lũy vật liệu như là đất đá, cành cây, cây cối… Các nghẽn này như là những đập chắn tự nhiên ngăn giữ dòng nước. Nghẽn dòng nhân tạo sinh ra do các đập xây dựng, công trình khác như cầu cống làm cản trở hoặc mất khả năng tải tự nhiên của sông, suối.

Nước bị đập ngăn lại và dâng lên. Đập sẽ bị vỡ khi thế năng của cột nước vượt quá sức chịu của đập chắn và kết quả là lũ quét xuất hiện ở phía bên dưới đập. Lũ quét sườn dốc được sinh ra do quá trình hình thành nhanh và hội tụ mạnh dòng chảy mặt khi di chuyển xuống phía dưới do mưa lớn trên bề mặt sườn dốc kết hợp với các điều kiện bất lợi về lớp phủ bề mặt, địa hình và địa mạo. Lũ này có thể được hình thành khi (1) cường độ mưa rất lớn, vượt quá khả năng thấm và tổn thất tự nhiên của bề mặt và/hoặc (2) mưa có cường độ không quá lớn nhưng trước đó đã có mưa kéo dài nhiều ngày làm cho bề mặt đạt đến mức bão hòa.

Cả hai trường hợp này, lưu vực đều có mưa hiệu quả rất lớn và dòng chảy mặt mạnh tức thì. Lũ quét sườn dốc có nhiều tính cục bộ, xảy ra trong các lưu vực nhỏ và thường xuất hiện ở (1) đầu nguồn các suối, khe và vùng thấp liền kề (như thung lũng) do mưa cục bộ và/hoặc đầu các sông chính và vùng thấp liền kề (như bãi sông, làng bản) chủ yếu do mưa đồng thời trên toàn bộ lưu vực. Trong luận án, lũ quét dòng theo phân loại của Lã Thanh Hà và Ngô Trọng Nhuận [10, 13] được xem là một trường hợp của lũ quét sườn dốc xảy ra ở vùng thấp hơn (trên các suối, sông chính), với cường độ lớn hơn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 (có thể quét đi làng mạc, công trình dọc hai bên bờ), do mưa lớn trên diện rộng toàn lưu vực. Lũ bùn đá thường do sạt lở đất đá với khối lượng rất lớn (sạt lở núi) đầu nguồn hoặc ven sông suối trong thời gian lũ lụt.

Sạt lở xảy ra khi kết cấu đất đá bị phá vỡ do nhiều nguyên nhân trong đó có tác động của mưa lớn hoặc mưa kéo dài và có khi xảy ra sau đỉnh mưa rất lâu hoặc chỉ với một lượng mưa vừa phải. Đất đá sạt lở bị hóa lỏng, hòa cùng với dòng nước, theo trọng lực quét xuống phía dưới. Lũ hỗn hợp là tập hợp của 2 hoặc cả 3 loại lũ quét trên.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ