Chương 1: GIỚI THIỆU CHUNG VÀ TÀI LIỆU CƠ BẢN 1.1 Giới thiệu chung 1.1 Khu vực nghiên cứu Vùng nghiên cứu nằm ở địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, đây là một trong những trung tâm kinh tế phát triển nhất ở Việt Nam nên dân số ngày càng tăng cao do mức độ đô thị hóa ngày càng nhanh.1: Khu vực nghiên cứu Trong những năm gần đây, thành phố Hồ Chí Minh đã có những phát triển đáng kể về kinh tế xã hội, vì vậy chất lượng cuộc sống của người dân được nâng cao. Nhiều dự án phát triển cơ sở hạ tầng đô thị cho thành phố đã góp phần cải thiện đời sống vật chất, tinh thần và văn hóa của người dân, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển về kiến thức và kinh tế tài chính, tạo nền tảng vững chắc cho thành phố để trở thành một thành phố công nghiệp hiện đại trong tương lai gần. 1 Thành phố Hồ Chí Minh gồm 19 quận nội thành và 5 huyện ngoại thành, là thành phố có nhiều đơn vị hành chính nhất nước. Theo số liệu thống kê đã ban hành năm 2009, dân số thành phố Hồ Chí Minh là 7.000 người và dự báo sẽ tăng tới khoảng 8.000 người vào năm 2015.
Hệ thống cấp nước ở thành phố Hồ Chính Minh thuộc sở hữu của Tổng Công ty Cấp nước Sài Gòn (SAWACO), 6 công ty Cổ phần cấp nước và 2 công ty Trách nhiệm hữu hạn. Sản xuất, xử lý nước và phân phối nước thuộc sự quản lý của SAWACO, 6 công ty Cổ phần và 2 công ty Trách nhiệm hữu hạn chịu trách nhiệm ở 8 địa bàn khác nhau.2 Tổng quan hệ thống cấp nước thành phố Hồ Chí Minh Hệ thống cấp nước Thành phố Hồ Chí Minh đã được xây dựng từ thời Pháp thuộc vào năm 1874, khai thác nguồn nước ngầm từ chùm giếng cũ ở khu vực sân bay Tân Sơn Nhất để cấp nước chủ yếu cho khu vực Quận 1 và một số nơi ở Quận 3, Quận 5 thông qua mạng lưới đường ống phân phối đầu tiên của thành phố. Hệ thống cấp nước này đã được mở rộng nhiều lần theo thời gian cả về số lượng giếng và mạng lưới phân phối nước, đến năm 1945 tổng công suất nước ngầm khai thác từ hệ thống giếng này đã đạt 120.000 m3/ngày và cung cấp nước sạch cho 450.000 dân trong thành phố. Đến năm 1962, Sài Gòn Thủy Cục đưa ra kết luận rằng nguồn nước ngầm sẽ không thể đáp ứng đủ cho sự gia tăng về nhu cầu dùng nước của thành phố và phương án khai thác nguồn nước mặt từ sông Đồng Nai bắt đầu được thực hiện.
Đến năm 1966, nhà máy nước Thủ Đức khai thác nguồn nước mặt từ sông Đồng Nai với công suất phát nước 450.000 m3/ngày cùng với hệ thống tuyến ống truyền dẫn với đường kính lớn chính thức hoạt động để cung cấp nước cho thành phố. Đi đôi với sự phát triển nhanh chóng của thành phố Hồ Chí Minh – một trung tâm kinh tế lớn của Việt Nam, yêu cầu về vấn đề cung cấp nước sạch cho thành phố cũng vô cùng cấp thiết. Đến thời điểm năm 2011, tổng công suất các nhà máy nước trong hệ thống cấp nước của Tổng Công ty Cấp nước Sài Gòn đã đạt 1,55 triệu m3/ngày với tổng chiều dài đường ống cấp nước là 4100 km, cung cấp nước sạch cho 780.000 đồng hồ khách hàng, tuy nhiên sản lượng nước sạch của Tổng Công ty Cấp nước Sài Gòn cũng chỉ đủ đáp ứng nhu cầu nước sạch cho 81% dân số thành phố. Hệ thống cấp nước thành phố Hồ Chí Minh bao gồm 4 nguồn cung cấp nước chính: nước mặt từ sông Đồng Nai, nước mặt từ sông Sài Gòn, nước ngầm 2 và nước mưa.
Tổng quan hệ thống cấp nước thành phố Hồ Chí Minh được minh họa trong sơ đồ sau: Hình 1.2: Sơ đồ cung cấp nước của SAWACO Với công suất các nhà máy nước trên hệ thống cấp nước của Tổng Công ty Cấp nước Sài Gòn được thể hiện ở bảng sau: STT Nhà máy nước (NMN) Vị trí Công suất (m3/ngày) 1 Phường Linh Trung, Quận Thủ Đức, TP.HCM NMN Thủ Đức 750.000 2 NMN BOO Thủ Đức Phường Linh Trung, Quận Thủ 300.HCM 3 3 NMN Tân Hiệp Xã Tân Hiệp, Huyện Hóc Môn, TP.000 4 NMN Bình An Xã Bình Thắng, Huyện Dĩ An, 100.000 Tỉnh Bình Dương 5 NMN ngầm Tân Phú Phường 15, Quận Tân Bình, 70.HCM 6 Trạm nước ngầm Gò Vấp Quận Gò Vấp, TP.000 7 Trạm nước ngầm Bình Trị Đông Quận Bình Tân, TP.000 8 Mua sỉ theo chương trình xã hội hóa 2.1: các nhà máy nước Hệ thống cấp nước thành phố Hồ Chí Minh được phát triển qua nhiều thời kỳ quản lý, do vậy chủng loại ống và các vật tư trên mạng cũng rất phong phú: ống bê tông, ống gang, ống thép, ống PE, HDPE, uPVC… Hình 1.3: thống kê các chủng loại ống cấp nước trên mạng lưới cấp nước TP.3 Nội dung, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu giới hạn trên mạng lưới đường ống truyền dẫn cấp nước thành phố Hồ Chí Minh, nhằm mô phỏng chính xác diễn biến vận hành thủy lực của hệ thống truyền dẫn này trên phần mềm WaterCAD đồng thời nêu lên được các phương án đề xuất tái cấu trúc mạng lưới truyền dẫn để đáp ứng tối đa nhu cầu dùng nước cho nhân dân và sản xuất, từ đó có thể đưa ra các quyết định đầu tư phù hợp tình hình thực tế hiện nay và trong từng giai đoạn nghiên cứu. Để đạt được mục tiêu này, đề tài nghiên cứu gồm các nội dung dưới đây: 4 (i) Thu thập tài liệu cơ bản phục vụ cho nghiên cứu. (ii) Tính toán dự báo nhu cầu dùng nước cho vùng nghiên cứu. (iii) Tìm hiểu các phương pháp cân chỉnh mô hình thủy lực: cân chỉnh thủ công và cân chỉnh tự động mô hình bằng thuật toán di truyền genetic algorithms.
(iv) Lập mô hình mô phỏng thủy lực hệ thống cấp nước thành phố Hồ Chí Minh bằng phần mềm WaterCAD, tiến hành cân chỉnh mô hình bằng các phương pháp đã tìm hiểu, từ đó đánh giá hệ thống cấp nước thành phố Hồ Chí Minh hiện nay. (v) Đề xuất và mô phỏng thủy lực các phương án mạng lưới truyền dẫn cấp nước cho thành phố Hồ Chí Minh. (vi) Đánh giá và kết luận với các phương án đề xuất.4 Tính cần thiết của đề tài Trong những năm qua, đã có một số dự án lập mô hình thủy lực hệ thống cấp nước thành phố Hồ Chí Minh, tuy nhiên theo đánh giá của Tổng Công ty Cấp nước Sài Gòn thì công tác cân chỉnh mô hình thủy lực vẫn còn bỏ ngỏ và do vậy các kết quả thể hiện trên các mô hình này còn sai biệt rất nhiều so với các dữ liệu từ các thiết bị đo đạc. Đề tài này mong muốn nêu lên được các phương pháp cân chỉnh mô hình phân phối nước đồng thời thực hiện công tác xây dựng và cân chỉnh mô hình thủy lực cho hệ thống cấp nước thành phố Hồ Chí Minh.
Hệ thống phân phối nước của thành phố hiện tại chủ yếu chỉ bao phủ vùng nội thành, vùng ngoại thành có ít hệ thống cấp nước sinh hoạt. Tuy nhiên, ngay cả trong nội thành mức dịch vụ cấp nước cũng không đủ, áp lực nước quá thấp so với yêu cầu và việc cấp nước cũng thường xuyên bị gián đoạn. Khách hàng thường phải làm nhiều cách như xây bể chứa ngầm, lắp máy bơm từ ống phân phối và vòi riêng, hoặc làm bể trữ nước trong nhà. Tình trạng này dẫn tới tổn thất đáng kể về kinh tế xã hội.
Áp lực nước thấp còn gây tác động không tốt tới chất lượng nước và công tác chữa cháy. Mức dịch vụ thấp gây nên bởi các nguyên nhân: + Năng lực truyền dẫn không đủ: hệ thống ống truyền dẫn từ các nhà máy nước có đường kính quá nhỏ so với yêu cầu dẫn đến tổn thất áp lực dọc đường rất lớn, áp lực giảm nhanh trên các tuyến ống truyền dẫn và còn lại rất nhỏ tại các vị trí cách xa nhà máy. Trên mạng lưới cấp nước không có các thiết bị điều hòa lưu lượng và áp lực, dẫn đến sự chênh lệch áp lực giữa giờ cao điểm và thấp điểm là rất lớn. + Lượng nước thất thoát nước trên mạng cao, chiếm khoảng 40% sản lượng, nguyên nhân chính là do rò rỉ trên mạng đường ống.
5 Vì vậy, đề tài này mong muốn sẽ đưa ra được các đề xuất tái cấu trúc mạng lưới truyền dẫn nhằm nâng cao mức dịch vụ cấp nước cho thành phố Hồ Chí Minh.2 Tài liệu cơ bản 1.1 Điều kiện tự nhiên 1.1 Địa hình Thành phố Hồ Chí Minh nằm tại góc phía Nam của mặt Đông Bắc của vùng Nam Bộ ở toạ độ 10o50’- 11o10’ vĩ độ Bắc; 106o22’-106o-45’ kinh độ đông. Phía Đông Bắc giáp tỉnh Bình Dương và tỉnh Đồng Nai; Phía Đông giáp tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; phía Nam giáp biển Đông; Tây Nam và Tây giáp tỉnh Long An, tỉnh Tiền Giang; Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh. Trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh nằm cách bờ biển Nam Hải về phía Tây khoảng 80km, nằm gần cửa của 3 hệ thống sông chính. Phía Đông là sông Đồng Nai, sông Sài Gòn chảy ngang Thành phố Hồ Chí Minh và phía Tây là sông Vàm Cỏ Đông.
Chiều dài Thành phố từ Tây Bắc xuống Đông Nam 102 km; từ Đông sang Tây khoảng 75km. Địa hình TP.HCM phần lớn bằng phẳng, thấp, có một ít dạng đồi gò ở phía Bắc và Đông Bắc, với độ cao giảm dần theo hướng Đông Nam. Nhìn chung có thể phân chia địa hình thành phố thành bốn dạng chính có liên quan đến chọn độ cao bố trí các công trình xây dựng. - Dạng đất gò cao lượn sóng, cao độ thay đổi từ 4-32 m, trong đó từ 4-10 m chiếm 19% tổng diện tích, cao trên 10 m chiếm 11%.
Phân bố lớn ở các huyện Củ Chi, Hóc Môn, một phần Thủ Đức, Bình Chánh. - Dạng đất bằng thấp, cao độ 2-4 m điều kiện tiêu thoát nước thuận lợi, phân bố ở nội thành, phần đất Thủ Đức và Hóc Môn nằm dọc theo sông Sài Gòn và Nam Bình Chánh chiếm khoảng 15% diện tích. - Dạng thấp trũng, đầm lầy phía Tây nam, cao độ phổ biến 1-2 m, phân bố đều dọc theo kênh An Hạ, Lê Minh Xuân, Tân Nhựt, Tam Tân, Thái Mỹ kéo dài từ huyện Bình Chánh đến huyện Củ Chi, khu vực trung tâm huyện Nhà Bè, Bưng Sáu xã của huyện Cần Giờ, ước tính chiếm khoảng diện tích 34%. - Dạng trũng thấp mới hình thành ven biển cao độ phổ biến 0-1 m, nhiều nơi dưới 0 m, đa số chịu ảnh hưởng thuỷ triều hàng ngày, ước tính chiếm diện tích 21%.