Mở đầu - Chƣơng I: Tổng quan về Cơ sở lý luận Quản lý tổng hợp đới bờ - Chƣơng II: Địa điểm, thời gian, phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu - Chƣơng III: Kết quả nghiên cứu - Kết luận và Kiến nghị 2 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ TỔNG HỢP ĐỚI BỜ 1.1 Định nghĩa về đới bờ và quản lý tổng hợp đới bờ 1.1 Định nghĩa về đới bờ Đới bờ (coastal zone) là một thuật ngữ dùng để chỉ khu vực tiếp giáp giữa đất và biển. Giới hạn của đới bờ đƣợc xác định theo hai thành phần là dải đất ven biển (landward area) và dải ven bờ (seaward area). Giới hạn về phía đất liền của đới bờ có thể thay đổi từ vài trăm mét cho các khu vực bờ biển có vách biển (sea cliff) đến vài km cho các khu vực có giồng cát mở rộng hay các cửa sông ven biển. Giới hạn về phía biển của đới bờ là ranh giới mép của thềm lục địa và ít nhất cách vài km tính từ đƣờng bờ.
Thực tế, đới bờ đƣợc xác định một cách tƣơng đối, phụ thuộc vào ranh giới hành chính, khả năng và mục tiêu quản lý. Hình 1-1 Sơ đồ khu vực đới bờ Định nghĩa đới bờ trong mối tƣơng tác giữa môi trƣờng biển và lục địa mang tính khái quát và đƣợc sử dụng khá rộng rãi là: “Đới bờ là một vùng chuyển tiếp mà ở đó môi trường biển và môi trường lục địa tương tác lẫn nhau và hình thành một môi trường thống nhất” (Barbara E. 3 Trên quan điểm tổng hợp và hệ thống, Lymarey V.L (2003) đã định nghĩa: “đới bờ (hay còn gọi là đới tương tác hiện tại giữa lục địa và biển) là một dải tiếp giáp đất – biển không rộng lắm. Đới bờ có bản chất độc đáo tạo nên một hợp phần lớp vỏ cảnh quan của Trái đất và là nơi xảy ra mối tác động tương hỗ phức tạp.” Xét về khía cạnh sinh thái học thì đới bờ là hệ chuyển tiếp giữa biển và lục địa, có sự tiếp xúc giữa các quyển: thạch quyển, sinh quyển, thủy quyển, khí quyển của Trái đất và là nơi chứa đựng các hệ sinh thái có năng suất cao nhât.
Trong đới bờ có chứa nhiều hệ tự nhiên cấp nhỏ hơn nhƣ: hệ vùng cửa sông, đầm phá, vũng, vịnh nhỏ, các bãi biển, đất ngập triều, đất ngập nƣớc, vùng đất ven biển… Các hệ này có bản chất tự nhiên, có giá trị tài nguyên môi trƣờng khác nhau, do đó đòi hỏi phải có những phƣơng thức khai thác, sử dụng, bảo vệ, phát triển và quản lý phù hợp. Về khía cạnh tài nguyên, đới bờ có nhiều hệ sinh thái/ sinh cảnh có giá trị và phong phú nhƣ cửa sông, đầm phá, thảm cỏ biển, rạn san hô, vũng – vịnh, đảo, bãi triều, bãi biển, đất ngập nƣớc, núi và rừng…, cùng nhiều tài nguyên giá trị nhƣ tài nguyên thủy sản, các hệ động thực vật, đặc biệt là động, thực vật thủy sinh ven biển, khoảng sản. Về mặt kinh tế-xã hội, đới bờ là nơi diễn ra các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên và môi trƣờng chung của nhiều bên khác nhau cho mục tiêu dân sinh và phát triển kinh tế. Xét về góc độ quản lý, đới bờ là giao của ba tập hợp môi trƣờng biển, môi trƣờng lục địa và môi trƣờng kinh tế xã hội (hoạt động của con ngƣời).
Từ những quan điểm, nhìn nhận trên về đới bờ cho thấy đới bờ và vùng bờ là các mảng không gian nằm chuyển tiếp giữa lục địa và biển, luôn chịu sự tƣơng tác giữa lục địa và biển, giữa các hệ thống tự nhiên và hệ nhân văn (tâm điểm là hoạt động của con ngƣời), giữa các ngành và những ngƣời sử dụng tài nguyên vùng đới bờ theo cả cấu trúc dọc (từ trung ƣơng xuống địa phƣơng) và cấu trúc ngang (các bên liên quan trong cùng địa bàn), giữa cộng đồng dân địa phƣơng với các thành 4 phần kinh tế khác. Vì thế đới bờ còn đƣợc gọi là đới tƣơng tác và các hệ sinh thái trong vùng này tồn tại và phát triển thông qua các mối liên kết sinh thái chặt chẽ.2 Chức năng và các dịch vụ của hệ sinh thái đới bờ Vùng đới bờ có một số hệ sinh thái bờ (coastal ecosystem) tiêu biểu thƣờng gặp bao gồm: Rừng ngập mặn, thảm cỏ biển và bãi rong tảo, khu vực đáy mềm, khu vực đáy cứng, rạn san hô, vũng/vụng ven bờ, bãi biển, cửa sông, châu thổ, đầm phá ven biển, bãi triều lầy và bãi bùn triều, lƣu vực sông ven biển, vùng nƣớc trồi, hồ nƣớc mặn ven biển, đồng lúa nƣớc và đầm thủy sản. Các hệ sinh thái vùng đới bờ có năng suất sinh học cao và quyết định hầu nhƣ toàn bộ năng suất sơ cấp của đại dƣơng. Các hệ sinh thái vùng đới bờ có các chức năng cực kỳ quan trọng nhƣ: điều chỉnh khí hậu, điều chỉnh chu trình các bon và các chu trình sinh địa hóa khác; điều hòa dinh dƣỡng cho các vùng biển lân cận (nhƣ rạn san hô); cung cấp tiềm năng cho du lịch sinh thái, cho phát triển cảng, hàng hải.
Chúng là nơi sinh cƣ của các loài sinh vật biển và chim di cƣ, môi trƣờng sống lý tƣởng cho con ngƣời; nơi tiềm chứa đa dạng sinh học và cung cấp nguồn lợi hải sản to lớn, nguồn thuốc chữa bệnh, nguồn năng lƣợng biển dồi dào cho sự phát triển của xã hội loài ngƣời. Nhiều hệ sinh thái ven bờ còn là bức tƣờng bảo vệ bờ biển khỏi tác động phá hủy của song bão, xói lở; là “máy” lọc tự nhiên để sàng lọc chất ô nhiễm (chủ yếu từ nguồn lục địa), cũng nhƣ khả năng lƣu giữ các bon, hòa loãng và xử lý các loại chất thải. Có 3 đặc tính làm cho chức năng và các dịch vụ của hệ sinh thái vùng đới bờ có tầm quan trọng đặc biệt đó là: (1) tính không thể thay thế (khi bị tổn thất), (2) tính không thể phục hồi nguyên trạng (khi bị phá hủy) và (3) nguy cơ cao (tổn thất của hệ sinh thái tiềm tàng một mối nguy đối với sự phồn vinh của con ngƣời. Các hệ sinh thái vùng đới bờ có 4 nhóm giá trị dịch vụ cơ bản bao gồm: 1) Dịch vụ cung cấp: nơi ở, thực phẩm, nƣớc, gỗ cây ngập mặn, dƣợc phẩm v.
5 2) Dịch vụ điều chỉnh: điều chỉnh khí hậu, lũ lụt, chất lƣợng nƣớc v. 3) Dịch vụ văn hóa: mang lại các lợi ích về mặt giải trí, nghệ thuật và tâm linh v. 4) Dịch vụ hỗ trợ: hình thành tính chất đất, quá trình quang hợp và chu trình biến đổi vật chất – dinh dƣỡng, chu trình ni-tơ, phốt pho, lƣu huỳnh v. Với những giá trị tài nguyên giàu có và dịch vụ đa dạng nhƣ vậy nên vùng đới bờ luôn là nơi phát triển sôi động, mạnh mẽ với mật độ dân số cao, phân bố không đều và có tỉ lệ tăng dân số cơ học cao hơn các đới khác.
Mật độ dân số cao cùng với sự đa dạng và cƣờng độ lớn của các hoạt động kinh tế xã hội đã và đang dẫn đến sự thay đổi mạnh và suy thoái của các thành phần môi trƣờng tự nhiên tại đới bờ.3 Quản lý tổng hợp đới bờ Đới bờ là một hệ tự nhiên quan trọng và trong nó chứa đựng các hệ sinh thái (phụ hệ của đới bờ), nhƣng luôn chịu sự tác động của con ngƣời thông qua hoạt động phát triển. Cho nên, trong thực tế vùng đới bờ không còn có các hệ tự nhiên nguyên khai, mà đều là các hệ bị khai thác. Phần lớn các hệ nhƣ vậy đan xen với các “hệ nhân sinh” để trở thành hệ thống đới bờ, gọi tắt là hệ bờ (coastal system), trong đó có các hệ sinh thái bờ (coastal ecosystem). Chính vì thế mà khi quản lý vùng đới bờ và các hệ bờ thƣờng phải cân nhắc đến hành vi của con ngƣời/các ngành để có giải pháp điều chỉnh phù hợp.
6 Nguồn: QLTHĐB, hướng tới phát triển bền vững ở Việt Nam, Hứa Chiến Thắng, 2008 Hình 1-2 Đới bờ trong quản lý Về bản chất, tài nguyên bờ thuộc dạng tài nguyên chia sẻ, không thể nói thuộc quyền sở hữu duy nhất của ai, của ngành nào, mà là tiền đề phát triển các ngành kinh tế khác nhau, đƣợc sử dụng đa mục đích. Vì thế phần lớn các hệ bờ đƣợc sử dụng theo cách tiếp cận mở và đƣợc quản lý theo ngành trong bối cảnh luôn cạnh tranh và thƣờng mâu thuẫn. Hiện nay việc ra quyết định cũng nhƣ hiểu đúng về bản chất, sự vận động và giá trị của đới bờ vẫn còn hạn chế không chỉ trong cộng đồng mà còn đối với cả các nhà quản lý. Việc quản lý vùng ven biển không phải là mới mà nó đã đƣợc các kỹ sƣ thủy văn và chuyên gia về ven biển sử dụng từ lâu.
Tuy nhiên gần đây ngƣời ta nhận thấy rằng việc “quản lý vùng ven biển” mang ý nghĩa là sự tác động của con ngƣời vào bờ biển thông qua xây dựng và những biến đổi nhân tạo của các quá trình vật lý xảy ra ở đó, nó không bao hàm những khái niệm cần thiết cho sự phát triển bền vững vùng ven biển trong tƣơng lai. Cơ chế quản lý vùng biển, ven bờ hiện hành còn khá nặng theo ngành và theo lãnh thổ, thiếu nhiều chính sách và luật pháp liên quan đến quản lý đới bờ đã gây hạn chế trong việc xác định ích lợi từ viêc sử dụng hợp lý đới bờ, đồng thời còn làm mất đi giá trị vốn có của nó và nhiều khi lại 7 có tác động tiêu cực trở lại đối với đới bờ. Do ranh giới trên biển và đới bờ biển chƣa đƣợc xác định rõ ràng nhƣ trên đất liền, không gian biển bao gồm có không khí, nƣớc, các bãi biển, đảo và các nguồn tài nguyên thủy sinh, thƣờng đƣợc nhiều ngành, nhiều đối tƣợng sử dụng, nhƣng cơ chế điều phối, phù hợp lại chƣa đƣợc xây dựng. Chính vì vậy mà nhu cầu quản lý mang tính tổng hợp đối với vùng đới bờ đã ra đời.
Thuật ngữ “quản lý tổng hợp đới bờ-QLTHĐB” (Intergrated Coastal Zone Management-ICZM) đã đƣợc hình thành từ khoảng những năm chín mƣơi và hiện nay ngày càng đƣợc sử dụng nhiều với nghĩa là quá trình kết hợp tất cả các khía cạnh của các thành phần vật lý, sinh học và nhân văn của vùng đới bờ, ven biển vào chung một khuôn khổ quản lý. Nó khắc phục đƣợc những khuyết điểm trong quản lý đơn ngành và theo lãnh thổ, nhờ việc giải quyết các bất hợp lý (các kẽ hở và mâu thuẫn) trong sử dụng không gian và tài nguyên đới bờ giữa các ngành, cơ quan và cộng đồng.