Nghiên Cứu Mô Hình Giám Sát Sự Bốc Thoát Hơi Nước Từ Dữ Liệu Ảnh Vệ Tinh Tại Tây Bắc Việt Nam

Chuyên khảo kỹ thuật phân tích Luận án nghiên cứu xây dựng mô hình giám sát sự bốc thoát hơi nước của lớp phủ khu vực tây bắc việt, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất

Chuyên ngành

Trắc địa bản đồ và Quản lý đất đai

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2021

166
5
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Các khái niệm bốc thoát hơi nước

1.1.1. Bốc hơi nước (E)

1.1.2. Thoát hơi nước (T)

1.1.3. Bốc thoát hơi nước ET (Evaporation Transpiration)

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC SỬ DỤNG DỮ LIỆU ẢNH VỆ TINH PHỤC VỤ ƯỚC TÍNH, GIÁM SÁT LƯỢNG BỐC THOÁT HƠI NƯỚC BỀ MẶT LỚP PHỦ

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM VÀ THẢO LUẬN

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

LỜI CẢM ƠN

Tóm tắt

I. Tính Cấp Thiết Của Đề Tài

Nước là một trong các nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá mà Trái đất ban tặng cho con người. Nước cũng là thành phần quyết định đến sự sinh tồn và phát triển của vạn vật trên Trái đất. Trước những thay đổi của khí hậu, nguồn tài nguyên nước đang đứng trước nguy cơ ngày càng cạn kiệt. Do vậy, việc xây dựng chiến lược khai thác, sử dụng hiệu quả và bảo vệ nguồn tài nguyên này là rất cần thiết. Theo Allen và cộng sự (1990), bốc hơi nước (E) là sự trở lại của hơi nước vào trong khí quyển thông qua sự khuếch tán của các phân tử nước từ đất, thảm thực vật và các bề mặt ẩm ướt khác. Thoát hơi (T) là hiện tượng hơi nước thoát ra không khí từ bề mặt lá, thân cây như một phản ứng sinh lý của cây trồng. Tổng lượng nước mất đi qua sự khuếch tán của các phân tử nước vào trong khí quyển thường được gọi là sự thoát hơi nước. Nông nghiệp là một trong những ngành sử dụng nguồn nước ngọt lớn nhất. Tuy nhiên, do nguồn nước hạn chế, các ngành nông nghiệp cần có chiến lược sử dụng tiết kiệm và tăng hiệu quả sử dụng nước trong tưới tiêu.

1.1. Tầm Quan Trọng Của Việc Ước Tính Lượng Bốc Thoát Hơi Nước

Thông tin về bốc thoát hơi nước (ET) rất quan trọng trong công tác quản lý tài nguyên nước. Thông tin không chỉ xác định lượng nước mất đi do bốc hơi mà còn chỉ ra được mối quan hệ giữa sử dụng đất, phân bổ và sử dụng nước. Ở hầu hết các nơi trên thế giới, lượng bốc thoát hơi nước được xem là yếu tố quan trọng thứ hai của chu trình nước sau mưa. Việc ước tính chính xác lượng bốc thoát hơi nước trên quy mô lớn là nhiệm vụ cần thiết để định hướng, đề xuất chiến lược quản lý nước phù hợp. Thực tế, số lượng trạm quan trắc khí tượng, thủy văn xác định lượng bốc thoát hơi nước tại các tỉnh ở Việt Nam còn rất hạn chế. Việc thu thập dữ liệu tại các trạm còn khá thủ công, chi phí thu thập dữ liệu cao, hiệu quả lao động thấp. Do đó, cần có các công cụ thu thập dữ liệu về khí tượng, thủy văn trên quy mô lớn với chi phí thấp hơn và hiệu suất cao hơn.

II. Mô Hình Giám Sát Bốc Thoát Hơi Nước

Để khắc phục các hạn chế trong việc thu thập số liệu thủ công, có thể sử dụng dữ liệu ảnh vệ tinh trong việc chiết xuất dữ liệu khí tượng phục vụ tính toán lượng bốc thoát hơi nước từ bề mặt lớp phủ. Thực tiễn đã có nhiều mô hình giám sát lượng bốc thoát hơi nước khác nhau đã được áp dụng trên thế giới và ở Việt Nam. Mỗi mô hình đều có những ưu, nhược điểm và phù hợp với các điều kiện địa hình, khí hậu và thực trạng bề mặt lớp phủ. Việc lựa chọn mô hình để ước tính, giám sát lượng bốc thoát hơi nước từ bề mặt lớp phủ cho khu vực cụ thể cần căn cứ vào yêu cầu dữ liệu đầu vào của các mô hình, tính ưu việt của các mô hình đó và phù hợp với trình độ khoa học công nghệ hiện tại.

2.1. Các Mô Hình Được Sử Dụng

Tại Việt Nam, để xác định lượng bốc thoát hơi nước, thường sử dụng kết quả đo trực tiếp tại các trạm quan trắc khí tượng, thủy văn. Số liệu đo trực tiếp có ưu điểm là số liệu đo hàng ngày, đo nhiều đợt trong ngày và dữ liệu được lưu trữ trong thời gian dài. Tuy nhiên, số liệu còn khá thô chưa thể cung cấp một cách chi tiết trong một khu vực rộng lớn, đặc biệt là khu vực có địa hình chia cắt, nhiều tiểu vùng khí hậu. Hiện nay, có nhiều loại dữ liệu ảnh vệ tinh, từ ảnh vệ tinh có độ phân giải thấp và trung bình như ảnh Modis, Landsat đến các loại ảnh vệ tinh Aster, Sentinel có độ phân giải cao phủ trùm lãnh thổ Việt Nam ở các thời điểm khác nhau. Với các dữ liệu ảnh này, kết hợp với thông tin bổ trợ khác cho phép nghiên cứu mối quan hệ giữa năng lượng bức xạ mặt trời với lượng bốc thoát hơi nước từ dữ liệu ảnh vệ tinh.

III. Khu Vực Tây Bắc Việt Nam

Khu vực Tây Bắc Việt Nam có địa hình núi cao và chia cắt sâu, có nhiều khối núi và dãy núi cao chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam. Dãy Hoàng Liên Sơn dài 180 km, rộng 30 km, với một số đỉnh núi cao trên 2.000 m. Dãy núi Sông Mã dài 500 km, có những đỉnh cao trên 1.000 m. Giữa hai dãy núi này là vùng đồi núi thấp, lưu vực sông Đà, với hệ thống sông suối, thủy văn phong phú. Đặc điểm địa hình, khí hậu, hệ thống thủy văn và lớp phủ thực vật của khu vực Tây Bắc ảnh hưởng trực tiếp đến lượng bốc thoát hơi nước. Việc nghiên cứu giám sát lượng bốc thoát hơi nước cho khu vực Tây Bắc là rất cần thiết để đảm bảo nhu cầu nước cho cây trồng, cảnh báo hạn hán, phòng tránh thiên tai, cháy rừng.

3.1. Đặc Điểm Địa Hình Và Khí Hậu

Khu vực Tây Bắc chủ yếu là diện tích đất nông, lâm nghiệp với độ che phủ rừng đạt 44,7% và sự đa dạng về lớp phủ thực vật. Đặc điểm về địa hình và khí hậu của khu vực này tạo ra những điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu và giám sát lượng bốc thoát hơi nước. Việc sử dụng dữ liệu ảnh vệ tinh để ước tính lượng bốc thoát hơi nước sẽ giúp cải thiện quản lý tài nguyên nước, nâng cao hiệu quả sử dụng nước trong nông nghiệp và lâm nghiệp.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1 trình bày các vấn đề khái niệm cơ bản bốc thoát hơi nước, các phương pháp và mô hình ước tính lượng bốc thoát hơi nước bề mặt lớp phủ từ dữ liệu khí tượng và dữ liệu ảnh vệ tinh, tổng quan về các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến ước tính, giám sát lượng bốc thoát hơi nước bề mặt lớp phủ, đánh giá chung về các kết quả nghiên cứu và xác định các vấn đề cần thảo luận phát triển trong luận án. Các khái niệm bốc thoát hơi nước 1.1 Bốc hơi nước (E) Bốc hơi nước E (Evaporation) là quá trình mà nước lỏng được chuyển thành hơi nước (hóa hơi) và được loại bỏ khỏi bề mặt, là công đoạn đầu tiên trong vòng tuần hoàn mà nước chuyển từ thể lỏng thành hơi nước trong khí quyển. Nguyên nhân chính của sự bốc hơi nước là sự chênh lệch về áp suất hơi nước ở bề mặt và áp suất của khí quyển xung quanh. Nước bốc hơi từ nhiều loại bề mặt, chẳng hạn như hồ, sông, vỉa hè, đất trống và thảm thực vật.

Tuy nhiên, sự bốc hơi phổ biến nhất được dùng để nói tới sự mất nước từ các bề mặt của khối nước, đất trống hay từ các đối tượng không có sự sống khác (Allen và cộng sự 1990). Ngưng tụ 6. Ngưng tụ 3. Dòng chảy bề mặt 9.

Dòng chảy bề mặt 10. Cây hấp thụ 9. Dòng chảy ngầm 8. Thấm nước (Nguồn: Cơ quan quản lý khí quyển và đại dương quốc gia NOAA, Hoa Kỳ) Hình 1.

Vòng tuần hoàn của nước 10 1.2 Thoát hơi nước (T) Thoát hơi T (Transpiration) là hiện tượng hơi nước thoát ra không khí từ bề mặt lá, thân cây như một phản ứng sinh lý của cây trồng để chống lại sự khô hạn xung quanh nó. Quá trình thoát hơi xảy ra bên trong thân, lá do sự trao đổi hơi với khí quyển được điều khiển bởi lỗ khí khổng của lá. Gần như toàn bộ lượng nước do cây trồng hấp thụ sẽ bị mất đi do thoát hơi nước và chỉ một phần nhỏ được sử dụng trong cây sinh trưởng phát triển. Do đó, sự mất nước từ thảm thực vật gọi là sự thoát hơi nước của thực vật, tổng lượng nước mất đi qua sự khuếch tán của các phân tử nước vào trong khí quyển thường được gọi là sự thoát hơi nước (Allen và cộng sự 1990).

Quá trình cân bằng nước khu vực có rừng Thoát hơi thực vật là quá trình nước được vận chuyển từ các rễ cây đến các lỗ nhỏ bên dưới bề mặt lá, ở đây nước chuyển sang trạng thái hơi và thoát vào khí quyển. Do đó, thoát hơi thực chất là bốc hơi của nước từ lá cây. Lượng nước bốc thoát hơi từ cây trồng ước tính chiếm khoảng 10% của hàm lượng nước trong khí quyển. Thoát hơi thực vật là một quá trình không nhìn thấy được, khi nước đang bốc hơi trên bề mặt các lá cây, bạn không thể đi ra ngoài và nhìn thấy các lá cây đang bốc 11 thoát hơi.

Trong mùa phát triển của cây trồng, một lá cây sẽ bốc thoát hơi nước nhiều lần hơn trọng lượng của chính nó. Một mẫu Anh (tương đương 4046 m2) trồng ngô có thể thoát hơi được khoảng 11.100 lít nước/ngày, và một cây sồi lớn có thể thoát hơi được 151. Sự thoát hơi nước từ thực vật bị tác động bởi các yếu tố tương tự ảnh hưởng đến sự bốc hơi từ các bề mặt ẩm ướt khác. Tuy nhiên, thực vật có rễ và có thể hấp thụ được nước từ trong khối đất khi bề mặt đất quá khô để hỗ trợ quá trình bốc hơi (Claude E.

Các khối nước luôn luôn phơi ra một bề mặt ẩm ướt cho quá trình bốc hơi, nhưng thực vật cũng có thể tăng quá trình bốc hơi từ các khối nước. Diện tích lá của một số loài thực vật thủy sinh nổi hoặc trôi trên mặt nước có thể lớn hơn nhiều lần so với bề mặt nước chúng bao phủ (Claude E. Boyd 2012) Như vậy, mặc dù lá của các loài thực vật có cơ chế để làm giảm sự bốc hơi nước nhưng sự thoát hơi nước bởi các thảm thực vật, trạng thái rừng có thể vượt qúa mức độ bốc hơi từ bề mặt đất thoáng. Bốc thoát hơi nước ET (Evaporation Transpiration) Sự bốc hơi và thoát hơi nước xảy ra đồng thời và không có cách nào dễ dàng để phân biệt giữa hai quá trình.

Ngoài lượng nước sẵn có trong lớp đất mặt, sự bốc hơi từ đất trồng trọt chủ yếu được xác định bởi phần bức xạ mặt trời đến bề mặt đất. Tỷ lệ này giảm dần trong thời kỳ sinh trưởng khi cây trồng phát triển và tán cây che phủ ngày càng nhiều diện tích mặt đất. Khi cây trồng còn nhỏ, nước bị mất chủ yếu do bốc hơi từ đất, giai đoạn cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt che phủ hoàn toàn bề mặt đất, khi đó quá trình thoát hơi nước là nguồn chính trong quá trình bốc thoát hơi nước (Allen và cộng sự 1990).4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự bốc thoát hơi nước Các yếu tố chính ảnh hưởng đến sự bốc thoát hơi là năng lượng bức xạ mặt trời, độ ẩm không khí, nhiệt độ, vận tốc gió và thực vật bề mặt lớp phủ. Bức xạ mặt trời và nhiệt độ có liên quan chặt chẽ với nhau và khi nhiệt độ tăng, hàm lượng năng lượng của các phân tử nước gia tăng làm cho chúng có nhiều 12 khả năng để khuếch tán vào không khí.

Ngoài ra, không khí ấm hơn có khả năng tốt hơn để giữ hơi nước. Không khí ngay trên bề mặt ẩm ướt có thể nhanh chóng trở nên bão hòa với hơi nước, nhưng gió sẽ chuyển không khí bão hòa đi và thay vào đó bằng không khí khô hơn vì thế quá trình bốc hơi tiếp tục (Claude E. Bức xạ mặt trời cung cấp năng lượng dẫn đến nhiệt độ bề mặt (đất, nước) tăng lên tạo điều kiện chuyển hóa các phân tử nước từ thể lỏng sang thể hơi. Theo cơ chế hoạt động của hệ mặt trời, dưới tác động của bức xạ mặt trời lượng nước bốc hơi nhiều hơn về ban ngày và ít hơn vào ban đêm, mùa hè lượng bốc hơi nhiều hơn mùa đông (Lê Anh Tuấn 2009).

Lượng bốc thoát hơi nước tỷ lệ thuận với nhiệt độ, nhiệt độ càng cao thì lượng bốc thoát hơi nước càng lớn, đặc biệt lượng bốc thoát hơi nước tăng lên đáng kể trong mùa sinh trưởng phát triển của cây trồng trong điều kiện không khí ấm hơn (Cục khảo sát địa chất Hoa Kỳ 2020). Độ ẩm không khí tỷ lệ nghịch với lượng bốc hơi nước, độ ẩm không khí càng thấp thì khả năng bốc hơi nước càng lớn và ngược lại. Vì sự chênh lệch áp suất của của các lớp không khí, vào mùa khô độ ẩm không khí thường thấp hơn dẫn đến áp suất không khí cũng thấp dẫn đến lượng bốc hơi tăng. Vào mùa mưa độ ẩm không khí đạt giá trị cực đại (bão hòa hơi nước) thì hiện tượng bốc hơi gần như không có (Lê Anh Tuấn 2009).

Gió là sự thay đổi áp suất của các vùng khí quyển gây ra chuyển động của khối không khí. Tốc độ gió càng mạnh càng làm tăng sự cuốn hút của các phần tử ở bề mặt đất, nước chuyển từ thể lỏng thành thể khí và bay vào không trung. Gió làm dịch chuyển khối không khí ẩm gần mặt đất lên cao, đẩy khối không khí khô hơn từ trên cao đến gần mặt đất dẫn đến khả năng bốc hơi tăng lên (Lê Anh Tuấn 2009). Lượng thoát hơi nước cũng bị ảnh hưởng bởi đặc điểm cây trồng, mỗi loại cây khác nhau sẽ có giá trị thoát hơi nước với tốc độ khác nhau.

Các loại cây sống trong vùng khô cằn thì thoát hơi ít hơn các loại cây khác. Ví dụ cây xương rồng để giữ lại lượng nước quý báu bằng cách giảm bớt sự thoát hơi hơn các cây trồng khác. Lượng thoát hơi nước được thể hiện tương ứng với diện tích lá trên một đơn vị bề mặt của 13 đất dưới nó. Khi cây trồng còn nhỏ gần như 100% ET đến từ bốc hơi nước, trong khi ở thời điểm sinh trưởng phát triển mạnh độ che phủ kín diện tích đất thì hơn 90% ET đến từ thoát hơi nước (Allen và cộng sự 1990).

Bốc thoát hơi nước tham chiếu ET0 (Potential evaptransporation) Lượng bốc thoát hơi nước từ bề mặt tham chiếu (là một loại cỏ giả định để đối chiếu, bề mặt các đặc điểm cụ thể theo tiêu chuẩn) được gọi là bốc thoát hơi nước của cây trồng tham chiếu ký hiệu là ET0. Khái niệm thoát hơi nước tham chiếu được đưa ra để nghiên cứu nhu cầu bốc thoát hơi của khí quyển, độc lập với từng loại cây trồng (Allen và cộng sự 1990). ET0 tham chiếu là lượng bốc thoát nước qua một thảm thực vật được duy trì độ ẩm đầy đủ trong suốt thời gian sinh trưởng. Năm 1990, Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO), Hội tưới tiêu Quốc tế và Tổ chức khí tượng thế giới tổ chức một hội nghị để thống nhất phương pháp xác định lượng bốc thoát hơi của cây trồng.

Các nhà khoa học (Doorenhos và Fruit 1975) đã đưa ra khái niệm lượng bốc thoát hơi tham chiếu (Reference evapotranspiration), viết tắt là ET0, để chỉ khả năng bốc thoát hơi thực vật theo tiêu chuẩn hoặc điều kiện tham khảo (tham chiếu). ET0 là lượng nước dùng để tưới cho một cây trồng là cỏ chuẩn, trồng và chăm sóc đúng kỹ thuật, phủ đều trên toàn bộ mặt đất và được cung cấp nước đầy đủ trong điều kiện tối ưu. Các điều kiện tham chiếu gồm: Chiều cao của cây trồng h = 0,12m, điện trở bề mặt đất là 70 s/m, và suất phân sai bề mặt đất là 0,23. Khi các tham số về cây trồng, điện trở bề mặt, suất phân sai bề mặt đã đảm bảo theo tiêu chuẩn khi đó yếu tố ảnh hưởng đến ET0 là các thông số về khí hậu.

Do đó, ET0 là một thông số khí hậu và có thể được tính toán từ dữ liệu thời tiết. ET0 thể hiện sức mạnh bay hơi của bầu không khí tại một địa điểm và thời điểm cụ thể trong năm và không xem xét đến các đặc tính của cây trồng và các yếu tố đất đai. Phương pháp FAO 56 Penman - Monteith được khuyến nghị là phương pháp duy nhất để xác định ET0 áp dụng trên toàn thế giới và được hướng dẫn cụ thể 14 trong tài liệu “sự thoát hơi nước của cây trồng - hướng dẫn tính toán các yêu cầu về nước cho cây trồng” (Allen và cộng sự 1998).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên Cứu Mô Hình Giám Sát Sự Bốc Thoát Hơi Nước Từ Dữ Liệu Ảnh Vệ Tinh Tại Tây Bắc Việt Nam" tập trung vào việc phát triển mô hình giám sát bốc thoát hơi nước từ dữ liệu ảnh vệ tinh, một vấn đề quan trọng trong quản lý tài nguyên nước và môi trường tại khu vực Tây Bắc Việt Nam. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình bốc thoát hơi nước mà còn giúp cải thiện các phương pháp quản lý nước, từ đó hỗ trợ phát triển bền vững trong khu vực. Đặc biệt, bài viết có sự tham gia của các giảng viên uy tín từ Trường Đại học Mỏ - Địa chất, mang lại độ tin cậy cao cho kết quả nghiên cứu.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến môi trường và quản lý tài nguyên, bạn có thể tham khảo các bài viết sau: Đồ án thiết kế hệ thống xử lý khí thải cho lò đốt rác sinh hoạt tại huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu, nơi nghiên cứu về xử lý khí thải, một khía cạnh quan trọng trong quản lý môi trường. Bên cạnh đó, bài viết Báo cáo đánh giá tác động môi trường dự án Moka tại KCN Đông Mai, Quảng Ninh cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về đánh giá tác động môi trường trong các dự án phát triển. Cuối cùng, bài viết Đánh giá thực trạng ô nhiễm môi trường từ trang trại chăn nuôi lợn tại xã Yên Giang, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về tác động của hoạt động chăn nuôi đến môi trường, một vấn đề liên quan mật thiết đến quản lý tài nguyên nước.

Những tài liệu này không chỉ mở rộng kiến thức mà còn cung cấp nhiều góc nhìn khác nhau về các vấn đề môi trường hiện nay.