CHƯƠNG 1: TỎNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ MÔ HÌNH CÔNG TÁC XÃ HỘI TRƯỜNG HỌC 1. Nghiên cứu về mô hình công tác xã hội trường học trên thế giới 1. Các nghiên cứu về lịch sử công tác xã hội trường học Cùng với sự phát triển của ngành công tác xã hội (CTXH) trên thế giới, mô hình và các dịch vụ công tác xã hội trường học (CTXH THỊ) cũng sớm được hình thành từ những năm cuối của thế kỷ XIX tại Anh. Ở Mỹ năm 1906 trong công cuộc xoá mù chữ cho các gia đình, các dịch vụ CTXH TH đã được cung cấp độc lập lần đầu tiên tại New York, Boston và Hartford.
Năm 1943, Hiệp hội các giáo viên vãng gia quốc gia (National Association of Visiting Teachers) trở thành Hiệp hội nhân viên công tác xã hội trường học Mỹ (American Association of School Social Workers) và năm 1955 hoà cùng các hiệp hội CTXH khác hình thành nên Hiệp hội nhân viên CTXH quốc gia. Vì vậy, CTXH TH trở thành 1 bộ phận quan trọng của nghề CTXH. Tiếp theo vào năm1940, CTXH TH xuất hiện ở Canada và Australia; năm 1950 tại Thuy Điển; năm 1960 tai Phần Lan va Đức; năm 1970 tại New Zeland, Singapore, Đài Loan, Hồng Kông; năm 1980 tai Nhật Bản, Hàn Quốc. Trong các quốc gia có lịch sử hình thành và phát triên về CTXH TH thì Mỹ là một quốc gia có lịch sử về CTXH TH từ lâu và có nhiều nhà nghiên cứu trong lĩnh vực này.
Cụ thé là, trong cuốn Social work services in schools (Dich vụ CTXH tại các trường học), tac gia Allen Meares xuất ban năm 2010 đã chi ra các dịch vụ trong CTXH TH. Mặc dù trước đó năm 1913, đã triển khai thử nghiệm, lần đầu tiên Sở giáo dục New York (Mỹ) đã chính thức tuyển dụng vi trí giáo viên với vai trò thăm hỏi (visiting teachers), vị trí NV CTXH TH đầu tiên được công nhận là nhân lực trong hệ thống TH. Năm 1919, “Hiệp hội giáo viên thăm hỏi Mỹ” (National Association of Visiting Teachers) được thành lập và đó chính là tiền thân của Hiệp hội CTXH TH. Quy định phạm vi các hoạt động can thiệp của NV CTXH TH bao gồm: tăng cường mối quan hệ với gia đình và cộng đồng; thúc day sự tham gia của cha mẹ; truyền thông, phòng ngừa; giúp đỡ học sinh phát triển toàn diện, và cải 15 thiện chính sách, cơ chế quản lý, v.
Còn theo tác giả Humes (1987) trong bài viết Elementary counselors, school psychologists, school social workers: Who does what? trên tạp chí Elementary School Guidance & Counseling cho thay, vai trò của NV CTXH TH được nhắn mạnh với nhiệm vụ thu thập thông tin và tiếp nhận thông tin lịch sử, xã hội; tư vấn cho trẻ em và gia đình qua các mô hình nhóm; áp dụng các phương pháp trợ giúp cá nhân, huy động nguồn lực, và tương tác cùng gia đình, TH dé thúc day kha nang va hé tro hoc sinh khuyét tật. Đến năm 1976, bộ tiêu chuẩn đầu tiên liên quan đến dịch vụ CTXH TH đã được triển khai và ban hành với các quy định về mức độ cần đạt được về phẩm chất, thái độ, kế hoạch tô chức và quản lý trường hợp hướng đến thực hành CTXH chuyên nghiệp. Ở Úc, trong nghiên cứu School Social Work in Australia (CTXH tại Úc) công bố trên tạp chí Australian Social Work số 65(4) năm 2012 cho thấy lịch sử CTXH TH ở Úc phát triển từ năm 1949. Hai tác giả Jennifer McKinnon, Alison Kearns và Judith Crockett trong bai báo Equity for government school students: Reclaiming social work services in New South Wales (2004) trén tap chi Australian Social Work số 57(3).
Bài báo cáo của Kermel được chia sé năm 1973 đánh dấu cho sự khởi đầu về CTXH TH ở Úc. Bên cạnh đó, nghiên cứu của Trueman (1975) và Winkworth (1976) sáng tỏ hơn về định hướng phát triển của CTXH TH ở Úc. Ở Châu Á, theo INSSW và nhiều học giả thì Hồng Kông và Singapore được đánh giá là hai nước đi đầu trong việc phát triển các dịch vụ CTXH TH. Theo Hatta (2009) trong bài viết Towards establishing school social work in Malaysia công bố trên tạp chi Asian Social Work and Policy và hướng dẫn của Bộ Phúc lợi xã hội Hồng Kông (SWD) năm 2008 thì từ năm 2000, Hồng Kông đã quy định mỗi trường THCS cần phải có ít nhất 01 NV CTXH.
Vai trò của CTXH TH được các co quan chính phủ và các tô chức giáo dục tại Hồng Kông đánh giá và thừa nhận bằng các văn bản chính thức. Ví dụ SWD đã đưa ra hướng dẫn chỉ tiết, toàn diện về việc phối hợp liên ngành trong việc triển khai các dịch vụ CTXH TH và NV CTXH TH với tô chức, TH và các bên liên quan. Tai Singapore các hoạt động CTXH TH được Bộ Giáo dục yêu cầu trong TH phải có một nhân viên tư vấn, tham vấn TH hoặc có NV CTXH ở mỗi trường THCS 16 và tiểu học. Chính phủ Singapore cũng ban hành các hướng dẫn về Tiêu chuẩn thực hành CTXH TH: nguyên tắc đạo đức, giá tri, cơ sở thực hành CTXH, mục tiêu, nội dung, kế hoạch và những quy định rõ ràng về tiêu chuẩn cho hoạt động thực hành CTXH tại TH.
Bên cạnh đó, các hướng dẫn chung của Hiệp hội CTXH về quy tắc đạo đức nghề và chuẩn nghiệp vụ CTXH, bản tiêu chuẩn thực hành này là cơ sở giúp nhân viên CTXH phối hợp hiệu quả với các cán bộ khác trong nhà trường dé hỗ trợ học sinh tốt nhất. Tại Mông Cé Quỹ Cứu trợ trẻ em và Trung tâm Quyền trẻ em Mông Cổ đã triển khải thực hiện thí điểm chương trình dự án phòng ngừa trẻ em bỏ học và hình thành Hiệp hội CTXH TH vào tháng 4 năm 2001. Theo tạp chí mạng lưới CTXH TH thế giới đến năm 2014, hiệp hội với số lượng người tham gia là trên 600 thành viên, thường xuyên tiễn hành nhiều hoạt động hỗ trợ, đạt hiệu quả cao như: đào tạo cán bộ, nghiên cứu, vận động chính sách và hợp tác quốc tế dé phát triên CTXH TH [114] Ở Trung Quốc, lich sử phát triên CTXH TH được hình thành từ đầu thế ky 20. Theo tác giả Yuen-Tsang (2008) trong bài viết A journey of a thousand miles begins with one step: The development of culturally relevant social work education and fieldwork practice in China ghi nhận các học gia được đào tạo về CTXH ở nước ngoài đã quay lại Trung Quốc dé triển khai các chương trình, hoạt động CTXH TH ở nhiều trường đại học.
Còn tại A Rap, theo Huxable (2015), sau nhiều năm tiến hành thử nghiệm liên tục và cho thấy sự cần thiết và tính hiệu quả thì những năm gần đây Bộ Giáo dục đã và đang kêu gọi chính phủ tăng cường số lượng nhân lực đảm nhận vai trò là NV CTXH TH góp phan giải quyết các vấn đề về bao lực học đường đang ngày cảng gia tăng. Tại Hàn Quốc theo Hatta (2009) cũng coi các hoạt động hỗ trợ tại TH là một lĩnh vực thực hành của CTXH cần đặc biệt quan tâm và ưu tiên phát triển trong thời gian tdi. Như vậy cho thay lich sử phát triển CTXH TH trên thế giới đã hình thành va phát triển từ rất sớm va đầu tiên là ở các nước phương Tây có nên an sinh xã hội phát triên sau lan rộng sang các nước châu A và châu Uc. Qua nghiên cứu va tim 17 hiểu các hoạt động hỗ trợ của CTXH và cho thay su phat triển của lĩnh vực CTXH TH là một xu thế tất yếu khi xã hội phát triển.
Nhiệm vụ đặt ra cho CTXH TH giai đoạn đầu tiên đó là cải thiện môi trường sống, kết nối và thúc đây các mối quan hệ giữa gia đình, nhà trường và cộng đồng. Từ đó, tìm kiếm các nguồn lực trong cộng đồng hỗ trợ HS như: tham vấn, tư vấn và cung cấp các dịch vụ trợ giúp cho các nhóm trẻ có vấn đề như học sinh vô gia cư, học sinh khuyết tật,.Đề xuất các biện pháp phòng ngừa và hỗ trợ HS trong TH. Hiện nay, mạng lưới quốc tế có những thông tin về CTXH TH tai 41 quéc gia, trong đó có Việt Nam[136]. CTXH tại Việt Nam còn là khái niệm khá mới dù đã được công nhận là một nghề chuyên nghiệp từ năm 2010.
Các mô hình công tác xã hội trường học Bên cạnh các nghiên cứu về hoạt động can thiệp cụ thé tại trường học, việc khái quát hoạt động CTXH TH thành những mô hình đặc thù cũng được các nhà khoa học quan tâm. Dù có những nét khác biệt, song các mô hình CTXH TH tập trung hướng đến thực hiện các chức năng như: can thiệp, phòng ngừa, trị liệu và phát triển. Các hoạt động hỗ trợ tại TH chủ yếu là tham vấn cho học sinh và giáo viên những van đề đến bảo vệ trẻ em, giải quyết các van đề xúc cảm, tâm than, giải quyết các vẫn dé hành vi, bạo lực, trốn học. Điều này cho thấy mô hình hoạt động CTXH TH tại các nước Châu Âu đó là mô hình can thiệp cá nhân, còn ở các nước Châu Á trong đó có New Zealand, Úc thì mô hình CTXH TH tập trung nhiều đến bối cảnh môi trường TH, các chính sách giáo dục [88,100,115].
Có thể kế đến một số nghiên cứu mô hình CTXH TH được thé hiện qua Bảng 1. Hệ thống các mô hình công tác xã hội trong trường học Mô hình Nhóm mục tiêu | Hoạt động chính Các loại dịch vụ Phương pháp Thời gian xuất hiện can thiệp Mô hình lâm sàng | Cha mẹ và học | Giúp hoc sinh giải | Tập trung vào phát triên cá | CTXH cá nhân và | Mỹ đi tiên phong theo mô truyền thống | sinh quyết vấn đề và phục | nhân học sinh CTXH nhóm hình này từ những năm (Traditional hồi các chức năng xã 1920. Trung Quốc áp dụng clinical model) hội vào những năm 1990. Mô hình trường | Các trường học | Tạo ra một môi | Sử dụng quan diém sinh thá |CIXH cá nhân, | Mỹ áp dụng mô hình này từ học - cộng đồng và cộng đồng trường cộng đồng có học đề đồng thời tạo ra sự thay nhóm, cộng đông và những năm 1960 và Trung (School- chất lượng trong các đổi ở cộng đồng và nhà trường các dịch vụ xã hội mở Quốc là đầu thế kỷ XXI.