Luận án tiến sĩ công tác xã hội xây dựng mô hình công tác xã hội trường học nghiên cứu tại trường trung học cơ sở vân canh trường trung học cơ sở và trung học phổ thông nguyễn bỉnh khiêm hà nội

Luận án tiến sĩ công tác xã hội nghiên cứu mô hình công tác xã hội tại trường trung học cơ sở Vân Canh và Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hà Nội.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Công tác xã hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2022

272
5
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ MÔ HÌNH CÔNG TÁC XÃ HỘI TRƯỜNG HỌC

1.1. Nghiên cứu về mô hình công tác xã hội trường học trên thế giới

1.2. Nghiên cứu về mô hình công tác xã hội trường học ở Việt Nam

1.3. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VỀ MÔ HÌNH CÔNG TÁC XÃ HỘI TRƯỜNG HỌC

2.1. Một số khái niệm cơ bản

2.2. Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh trung học cơ sở

2.3. Lý thuyết vận dụng trong luận án

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

2.4.2. Phương pháp thảo luận nhóm

2.4.3. Phương pháp phỏng vấn sâu

2.4.4. Phương pháp thực nghiệm tác động

2.5. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: CƠ SỞ THỰC TIỄN XÂY DỰNG MÔ HÌNH CÔNG TÁC XÃ HỘI TRƯỜNG HỌC TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI

3.1. Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu trường THCS Nguyễn Bỉnh Khiêm, THCS Vân Canh

3.2. Các vấn đề gặp phải của học sinh trung học cơ sở trong trường học

3.3. Thực trạng các hoạt động hỗ trợ công tác xã hội trường học tại trường THCS Nguyễn Bỉnh Khiêm và trường THCS Vân Canh

3.4. Nội dung các hoạt động công tác xã hội trường học

3.5. Tỉ lệ tham dự vào mỗi hoạt động

3.6. Nhận thức và nhu cầu về hoạt động công tác xã hội trường học ở trường trung học cơ sở

3.7. Định hướng xây dựng mô hình công tác xã hội trường học ở các trường trung học cơ sở, Hà Nội

3.8. Tiểu kết chương 3

4. CHƯƠNG 4: ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH CÔNG TÁC XÃ HỘI TRƯỜNG HỌC TẠI TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ VÂN CANH VÀ TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ NGUYỄN BỈNH KHIÊM, HÀ NỘI

4.1. Cơ sở pháp lý khi xây dựng mô hình công tác xã hội trường học ở Việt Nam

4.2. Mạng lưới dịch vụ công tác xã hội

4.3. Cơ sở thực tiễn khi xây dựng mô hình công tác xã hội trường học

4.4. Đề xuất mô hình công tác xã hội trường học tại trường trung học cơ sở

4.4.1. Mục đích, chức năng và nhiệm vụ của mô hình công tác xã hội trường học

4.4.2. Kế hoạch tổ chức

4.4.3. Hoạt động hỗ trợ

4.4.4. Phối kết hợp giữa cơ sở giáo dục và cơ sở đào tạo về công tác xã hội

4.4.5. Phương thức hoạt động, quy trình vận hành

4.4.6. Thực nghiệm mô hình hoạt động phòng công tác xã hội trường học tại trường THCS Vân Canh

4.4.7. Nhiệm vụ của các bên tham gia

4.5. Tiểu kết chương 4

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu về mô hình công tác xã hội trong trường học

Mô hình công tác xã hội trong trường học đã trở thành một phần quan trọng trong việc hỗ trợ học sinh, giáo viên và phụ huynh. Nghiên cứu tại hai trường THCS Vân Canh và Nguyễn Bỉnh Khiêm cho thấy sự cần thiết của việc áp dụng mô hình này nhằm giải quyết các vấn đề tâm lý, xã hội mà học sinh đang gặp phải. Theo thống kê, bạo lực học đường và các vấn đề liên quan đến sức khỏe tâm thần đang gia tăng, đòi hỏi sự can thiệp kịp thời từ các nhân viên công tác xã hội. Mô hình này không chỉ giúp học sinh phát triển kỹ năng sống mà còn tạo ra môi trường học tập an toàn và tích cực.

1.1. Tình hình công tác xã hội trong trường học

Tình hình công tác xã hội trong trường học hiện nay đang đối mặt với nhiều thách thức. Các vấn đề như bạo lực học đường, lạm dụng công nghệ và áp lực học tập đang gia tăng. Nghiên cứu cho thấy, có tới 41% học sinh nam và 28% học sinh nữ gặp phải các vấn đề về bạo lực thể chất trong nhà trường. Điều này cho thấy sự cần thiết phải có một mô hình công tác xã hội hiệu quả để hỗ trợ học sinh. Mô hình này cần được xây dựng dựa trên nhu cầu thực tế của học sinh, giáo viên và phụ huynh, nhằm tạo ra một môi trường học tập an toàn và lành mạnh.

II. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu này dựa trên các lý thuyết về công tác xã hội và tâm lý học, nhằm phân tích nhu cầu của học sinh trong môi trường học đường. Phương pháp nghiên cứu bao gồm khảo sát định lượng và định tính, giúp thu thập thông tin từ học sinh, giáo viên và phụ huynh. Các lý thuyết như lý thuyết hệ thống sinh thái và thuyết nhu cầu của Maslow được áp dụng để hiểu rõ hơn về bối cảnh và nhu cầu của học sinh. Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp cơ sở để xây dựng mô hình công tác xã hội phù hợp với thực tiễn tại các trường học.

2.1. Các lý thuyết liên quan

Các lý thuyết liên quan đến công tác xã hội và tâm lý học đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng mô hình. Lý thuyết hệ thống sinh thái giúp hiểu rõ mối quan hệ giữa học sinh và môi trường xung quanh, trong khi thuyết nhu cầu của Maslow nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đáp ứng nhu cầu cơ bản của học sinh. Những lý thuyết này sẽ được áp dụng để phân tích và đánh giá nhu cầu của học sinh, từ đó đề xuất các giải pháp hỗ trợ hiệu quả.

III. Thực trạng và nhu cầu hỗ trợ của học sinh

Thực trạng hiện nay cho thấy học sinh đang phải đối mặt với nhiều vấn đề nghiêm trọng, từ bạo lực học đường đến áp lực học tập. Nghiên cứu chỉ ra rằng, có một tỷ lệ lớn học sinh cần được hỗ trợ về tâm lý và xã hội. Việc thiếu hụt các dịch vụ công tác xã hội trong trường học đã dẫn đến những hệ lụy nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sự phát triển toàn diện của học sinh. Do đó, việc xây dựng mô hình công tác xã hội trong trường học là cần thiết để đáp ứng nhu cầu này.

3.1. Các vấn đề gặp phải của học sinh

Học sinh hiện nay đang phải đối mặt với nhiều vấn đề như bạo lực học đường, lạm dụng công nghệ và áp lực học tập. Theo thống kê, gần 1.600 vụ việc học sinh đánh nhau xảy ra trong một năm học, cho thấy tình hình bạo lực học đường đang ở mức báo động. Ngoài ra, áp lực từ việc học tập cũng khiến nhiều học sinh rơi vào tình trạng căng thẳng, lo âu. Những vấn đề này cần được giải quyết kịp thời thông qua các hoạt động công tác xã hội trong trường học.

IV. Đề xuất mô hình công tác xã hội trường học

Mô hình công tác xã hội trường học cần được xây dựng dựa trên nhu cầu thực tế của học sinh, giáo viên và phụ huynh. Mô hình này nên bao gồm các hoạt động hỗ trợ tâm lý, tư vấn và giáo dục kỹ năng sống cho học sinh. Việc phối hợp giữa các bên liên quan như nhà trường, gia đình và cộng đồng là rất quan trọng để đảm bảo tính hiệu quả của mô hình. Đề xuất này không chỉ giúp học sinh vượt qua khó khăn mà còn tạo ra một môi trường học tập tích cực và an toàn.

4.1. Các hoạt động hỗ trợ trong mô hình

Mô hình công tác xã hội trường học nên bao gồm các hoạt động như tư vấn tâm lý, tổ chức các buổi sinh hoạt nhóm và các chương trình giáo dục kỹ năng sống. Những hoạt động này sẽ giúp học sinh nhận diện và giải quyết các vấn đề của bản thân, đồng thời tạo ra sự gắn kết giữa học sinh với nhau và với giáo viên. Việc triển khai các hoạt động này cần được thực hiện một cách đồng bộ và liên tục để đạt được hiệu quả cao nhất.

07/02/2025
Luận án tiến sĩ công tác xã hội xây dựng mô hình công tác xã hội trường học nghiên cứu tại trường trung học cơ sở vân canh trường trung học cơ sở và trung học phổ thông nguyễn bỉnh khiêm hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỎNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ MÔ HÌNH CÔNG TÁC XÃ HỘI TRƯỜNG HỌC 1. Nghiên cứu về mô hình công tác xã hội trường học trên thế giới 1. Các nghiên cứu về lịch sử công tác xã hội trường học Cùng với sự phát triển của ngành công tác xã hội (CTXH) trên thế giới, mô hình và các dịch vụ công tác xã hội trường học (CTXH THỊ) cũng sớm được hình thành từ những năm cuối của thế kỷ XIX tại Anh. Ở Mỹ năm 1906 trong công cuộc xoá mù chữ cho các gia đình, các dịch vụ CTXH TH đã được cung cấp độc lập lần đầu tiên tại New York, Boston và Hartford.

Năm 1943, Hiệp hội các giáo viên vãng gia quốc gia (National Association of Visiting Teachers) trở thành Hiệp hội nhân viên công tác xã hội trường học Mỹ (American Association of School Social Workers) và năm 1955 hoà cùng các hiệp hội CTXH khác hình thành nên Hiệp hội nhân viên CTXH quốc gia. Vì vậy, CTXH TH trở thành 1 bộ phận quan trọng của nghề CTXH. Tiếp theo vào năm1940, CTXH TH xuất hiện ở Canada và Australia; năm 1950 tại Thuy Điển; năm 1960 tai Phần Lan va Đức; năm 1970 tại New Zeland, Singapore, Đài Loan, Hồng Kông; năm 1980 tai Nhật Bản, Hàn Quốc. Trong các quốc gia có lịch sử hình thành và phát triên về CTXH TH thì Mỹ là một quốc gia có lịch sử về CTXH TH từ lâu và có nhiều nhà nghiên cứu trong lĩnh vực này.

Cụ thé là, trong cuốn Social work services in schools (Dich vụ CTXH tại các trường học), tac gia Allen Meares xuất ban năm 2010 đã chi ra các dịch vụ trong CTXH TH. Mặc dù trước đó năm 1913, đã triển khai thử nghiệm, lần đầu tiên Sở giáo dục New York (Mỹ) đã chính thức tuyển dụng vi trí giáo viên với vai trò thăm hỏi (visiting teachers), vị trí NV CTXH TH đầu tiên được công nhận là nhân lực trong hệ thống TH. Năm 1919, “Hiệp hội giáo viên thăm hỏi Mỹ” (National Association of Visiting Teachers) được thành lập và đó chính là tiền thân của Hiệp hội CTXH TH. Quy định phạm vi các hoạt động can thiệp của NV CTXH TH bao gồm: tăng cường mối quan hệ với gia đình và cộng đồng; thúc day sự tham gia của cha mẹ; truyền thông, phòng ngừa; giúp đỡ học sinh phát triển toàn diện, và cải 15 thiện chính sách, cơ chế quản lý, v.

Còn theo tác giả Humes (1987) trong bài viết Elementary counselors, school psychologists, school social workers: Who does what? trên tạp chí Elementary School Guidance & Counseling cho thay, vai trò của NV CTXH TH được nhắn mạnh với nhiệm vụ thu thập thông tin và tiếp nhận thông tin lịch sử, xã hội; tư vấn cho trẻ em và gia đình qua các mô hình nhóm; áp dụng các phương pháp trợ giúp cá nhân, huy động nguồn lực, và tương tác cùng gia đình, TH dé thúc day kha nang va hé tro hoc sinh khuyét tật. Đến năm 1976, bộ tiêu chuẩn đầu tiên liên quan đến dịch vụ CTXH TH đã được triển khai và ban hành với các quy định về mức độ cần đạt được về phẩm chất, thái độ, kế hoạch tô chức và quản lý trường hợp hướng đến thực hành CTXH chuyên nghiệp. Ở Úc, trong nghiên cứu School Social Work in Australia (CTXH tại Úc) công bố trên tạp chí Australian Social Work số 65(4) năm 2012 cho thấy lịch sử CTXH TH ở Úc phát triển từ năm 1949. Hai tác giả Jennifer McKinnon, Alison Kearns và Judith Crockett trong bai báo Equity for government school students: Reclaiming social work services in New South Wales (2004) trén tap chi Australian Social Work số 57(3).

Bài báo cáo của Kermel được chia sé năm 1973 đánh dấu cho sự khởi đầu về CTXH TH ở Úc. Bên cạnh đó, nghiên cứu của Trueman (1975) và Winkworth (1976) sáng tỏ hơn về định hướng phát triển của CTXH TH ở Úc. Ở Châu Á, theo INSSW và nhiều học giả thì Hồng Kông và Singapore được đánh giá là hai nước đi đầu trong việc phát triển các dịch vụ CTXH TH. Theo Hatta (2009) trong bài viết Towards establishing school social work in Malaysia công bố trên tạp chi Asian Social Work and Policy và hướng dẫn của Bộ Phúc lợi xã hội Hồng Kông (SWD) năm 2008 thì từ năm 2000, Hồng Kông đã quy định mỗi trường THCS cần phải có ít nhất 01 NV CTXH.

Vai trò của CTXH TH được các co quan chính phủ và các tô chức giáo dục tại Hồng Kông đánh giá và thừa nhận bằng các văn bản chính thức. Ví dụ SWD đã đưa ra hướng dẫn chỉ tiết, toàn diện về việc phối hợp liên ngành trong việc triển khai các dịch vụ CTXH TH và NV CTXH TH với tô chức, TH và các bên liên quan. Tai Singapore các hoạt động CTXH TH được Bộ Giáo dục yêu cầu trong TH phải có một nhân viên tư vấn, tham vấn TH hoặc có NV CTXH ở mỗi trường THCS 16 và tiểu học. Chính phủ Singapore cũng ban hành các hướng dẫn về Tiêu chuẩn thực hành CTXH TH: nguyên tắc đạo đức, giá tri, cơ sở thực hành CTXH, mục tiêu, nội dung, kế hoạch và những quy định rõ ràng về tiêu chuẩn cho hoạt động thực hành CTXH tại TH.

Bên cạnh đó, các hướng dẫn chung của Hiệp hội CTXH về quy tắc đạo đức nghề và chuẩn nghiệp vụ CTXH, bản tiêu chuẩn thực hành này là cơ sở giúp nhân viên CTXH phối hợp hiệu quả với các cán bộ khác trong nhà trường dé hỗ trợ học sinh tốt nhất. Tại Mông Cé Quỹ Cứu trợ trẻ em và Trung tâm Quyền trẻ em Mông Cổ đã triển khải thực hiện thí điểm chương trình dự án phòng ngừa trẻ em bỏ học và hình thành Hiệp hội CTXH TH vào tháng 4 năm 2001. Theo tạp chí mạng lưới CTXH TH thế giới đến năm 2014, hiệp hội với số lượng người tham gia là trên 600 thành viên, thường xuyên tiễn hành nhiều hoạt động hỗ trợ, đạt hiệu quả cao như: đào tạo cán bộ, nghiên cứu, vận động chính sách và hợp tác quốc tế dé phát triên CTXH TH [114] Ở Trung Quốc, lich sử phát triên CTXH TH được hình thành từ đầu thế ky 20. Theo tác giả Yuen-Tsang (2008) trong bài viết A journey of a thousand miles begins with one step: The development of culturally relevant social work education and fieldwork practice in China ghi nhận các học gia được đào tạo về CTXH ở nước ngoài đã quay lại Trung Quốc dé triển khai các chương trình, hoạt động CTXH TH ở nhiều trường đại học.

Còn tại A Rap, theo Huxable (2015), sau nhiều năm tiến hành thử nghiệm liên tục và cho thấy sự cần thiết và tính hiệu quả thì những năm gần đây Bộ Giáo dục đã và đang kêu gọi chính phủ tăng cường số lượng nhân lực đảm nhận vai trò là NV CTXH TH góp phan giải quyết các vấn đề về bao lực học đường đang ngày cảng gia tăng. Tại Hàn Quốc theo Hatta (2009) cũng coi các hoạt động hỗ trợ tại TH là một lĩnh vực thực hành của CTXH cần đặc biệt quan tâm và ưu tiên phát triển trong thời gian tdi. Như vậy cho thay lich sử phát triển CTXH TH trên thế giới đã hình thành va phát triển từ rất sớm va đầu tiên là ở các nước phương Tây có nên an sinh xã hội phát triên sau lan rộng sang các nước châu A và châu Uc. Qua nghiên cứu va tim 17 hiểu các hoạt động hỗ trợ của CTXH và cho thay su phat triển của lĩnh vực CTXH TH là một xu thế tất yếu khi xã hội phát triển.

Nhiệm vụ đặt ra cho CTXH TH giai đoạn đầu tiên đó là cải thiện môi trường sống, kết nối và thúc đây các mối quan hệ giữa gia đình, nhà trường và cộng đồng. Từ đó, tìm kiếm các nguồn lực trong cộng đồng hỗ trợ HS như: tham vấn, tư vấn và cung cấp các dịch vụ trợ giúp cho các nhóm trẻ có vấn đề như học sinh vô gia cư, học sinh khuyết tật,.Đề xuất các biện pháp phòng ngừa và hỗ trợ HS trong TH. Hiện nay, mạng lưới quốc tế có những thông tin về CTXH TH tai 41 quéc gia, trong đó có Việt Nam[136]. CTXH tại Việt Nam còn là khái niệm khá mới dù đã được công nhận là một nghề chuyên nghiệp từ năm 2010.

Các mô hình công tác xã hội trường học Bên cạnh các nghiên cứu về hoạt động can thiệp cụ thé tại trường học, việc khái quát hoạt động CTXH TH thành những mô hình đặc thù cũng được các nhà khoa học quan tâm. Dù có những nét khác biệt, song các mô hình CTXH TH tập trung hướng đến thực hiện các chức năng như: can thiệp, phòng ngừa, trị liệu và phát triển. Các hoạt động hỗ trợ tại TH chủ yếu là tham vấn cho học sinh và giáo viên những van đề đến bảo vệ trẻ em, giải quyết các van đề xúc cảm, tâm than, giải quyết các vẫn dé hành vi, bạo lực, trốn học. Điều này cho thấy mô hình hoạt động CTXH TH tại các nước Châu Âu đó là mô hình can thiệp cá nhân, còn ở các nước Châu Á trong đó có New Zealand, Úc thì mô hình CTXH TH tập trung nhiều đến bối cảnh môi trường TH, các chính sách giáo dục [88,100,115].

Có thể kế đến một số nghiên cứu mô hình CTXH TH được thé hiện qua Bảng 1. Hệ thống các mô hình công tác xã hội trong trường học Mô hình Nhóm mục tiêu | Hoạt động chính Các loại dịch vụ Phương pháp Thời gian xuất hiện can thiệp Mô hình lâm sàng | Cha mẹ và học | Giúp hoc sinh giải | Tập trung vào phát triên cá | CTXH cá nhân và | Mỹ đi tiên phong theo mô truyền thống | sinh quyết vấn đề và phục | nhân học sinh CTXH nhóm hình này từ những năm (Traditional hồi các chức năng xã 1920. Trung Quốc áp dụng clinical model) hội vào những năm 1990. Mô hình trường | Các trường học | Tạo ra một môi | Sử dụng quan diém sinh thá |CIXH cá nhân, | Mỹ áp dụng mô hình này từ học - cộng đồng và cộng đồng trường cộng đồng có học đề đồng thời tạo ra sự thay nhóm, cộng đông và những năm 1960 và Trung (School- chất lượng trong các đổi ở cộng đồng và nhà trường các dịch vụ xã hội mở Quốc là đầu thế kỷ XXI.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Mô Hình Công Tác Xã Hội Trong Trường Học: Nghiên Cứu Tại Vân Canh Và Nguyễn Bỉnh Khiêm" cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc áp dụng mô hình công tác xã hội trong môi trường giáo dục, đặc biệt là tại hai trường học cụ thể. Tác giả phân tích các phương pháp và chiến lược mà các nhà giáo dục và nhân viên xã hội đã sử dụng để hỗ trợ học sinh, từ đó nâng cao chất lượng giáo dục và sự hòa nhập của học sinh vào cộng đồng. Bài viết không chỉ giúp độc giả hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của công tác xã hội trong trường học mà còn chỉ ra những lợi ích thiết thực mà mô hình này mang lại cho học sinh và gia đình họ.

Để mở rộng thêm kiến thức về công tác xã hội trong giáo dục, bạn có thể tham khảo bài viết Luận văn công tác xã hội học sinh tiểu học giáo dục hòa nhập dịch vụ xã hội, nơi khám phá cách thức giáo dục hòa nhập có thể được thực hiện hiệu quả. Ngoài ra, bài viết Luận văn công tác xã hội trẻ tự kỉ dịch vụ xã hội trẻ em sẽ cung cấp thông tin về các dịch vụ hỗ trợ cho trẻ em tự kỷ, một vấn đề quan trọng trong công tác xã hội. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ nhu cầu về hoạt động công tác xã hội trong trường trung học tại hà nam, để thấy được nhu cầu và thực trạng công tác xã hội tại các trường trung học. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về vai trò của công tác xã hội trong giáo dục.