Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, lĩnh vực giáo dục và đào tạo đã được Tổ chức Thương mại Thế giới công nhận là một ngành dịch vụ theo Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ. Tại Việt Nam, Quyết định số 27/2018/QĐ-TTg đã xếp giáo dục vào phân nhóm ngành 85 của hệ thống ngành kinh tế quốc dân, khẳng định tính chất dịch vụ đặc thù có điều kiện của lĩnh vực này. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật điều chỉnh giáo dục tư thục qua các thời kỳ, tiêu biểu là Luật Giáo dục năm 2005 và Luật Giáo dục đại học năm 2012, đã bộc lộ nhiều khoảng trống pháp lý nghiêm trọng. Thực tế phát triển giáo dục ngoài công lập tại hai trung tâm lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2010 - 2020 cho thấy sự gia tăng nhanh chóng của các trường tư thục có vốn đầu tư trong nước và nước ngoài, nhưng đi kèm với đó là hàng loạt tranh chấp gay gắt về quyền sở hữu vốn góp và quyền quản trị nhà trường.

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ cơ sở lý luận về mô hình tổ chức cơ sở giáo dục tư thục, khảo cứu toàn diện kinh nghiệm lập pháp của Singapore và Malaysia giai đoạn 2009 - 2019, từ đó đề xuất hệ thống kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam. Nghiên cứu tập trung giải quyết hai nút thắt cốt lõi: xác định tư cách pháp lý của nguồn vốn đầu tư và phân định ranh giới giữa quyền quản trị tài sản của nhà đầu tư với quyền quản trị học thuật của hội đồng trường. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc tạo lập hành lang pháp lý minh bạch, hạn chế triệt để các vụ tranh chấp nội bộ, bảo đảm quyền lợi cho 100% người học và nâng cao hiệu quả thu hút nguồn lực xã hội hóa cho sự nghiệp phát triển giáo dục quốc gia.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng hai lý thuyết nền tảng trong khoa học pháp lý và quản trị công gồm Lý thuyết quản trị doanh nghiệp hiện đại và Lý thuyết quản trị công mới. Sự kết hợp này tạo cơ sở luận giải cho việc tách bạch giữa quyền sở hữu tài sản và quyền điều hành hoạt động chuyên môn trong các tổ chức dịch vụ công ích xã hội hóa. Nghiên cứu tập trung vào 4 khái niệm pháp lý trọng tâm: cơ sở giáo dục tư thục, tư cách pháp nhân của chủ đầu tư, quyền quản trị nguồn vốn và quyền tự chủ học thuật của nhà trường.

Mô hình nghiên cứu được xây dựng dựa trên cấu trúc phân tầng kép: tầng sở hữu tài chính chịu sự điều chỉnh của pháp luật đầu tư, doanh nghiệp nhằm xác lập rõ ràng tỷ lệ vốn góp và quyền biểu quyết; tầng tổ chức hoạt động giáo dục chịu sự điều chỉnh của pháp luật chuyên ngành giáo dục nhằm kiểm soát chất lượng đào tạo, chuẩn mực giảng viên và quyền lợi của người học. Việc chuẩn hóa mô hình này giúp dung hòa tính chất tìm kiếm lợi nhuận hợp pháp của nhà đầu tư với sứ mệnh phi lợi nhuận hoặc phục vụ lợi ích cộng đồng của cơ sở giáo dục.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được triển khai dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, xem xét các hiện tượng pháp lý trong mối quan hệ hữu cơ với sự phát triển kinh tế - xã hội. Luận văn kết hợp chặt chẽ các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành gồm phương pháp so sánh luật học, phương pháp phân tích quy phạm, phương pháp tổng hợp và phương pháp quy nạp - diễn dịch.

Về cỡ mẫu và nguồn dữ liệu, nghiên cứu tiến hành khảo sát và đối chiếu toàn diện 2 hệ thống pháp luật tiêu biểu trong khu vực Đông Nam Á là Singapore (với Luật Giáo dục Tư thục năm 2009, sửa đổi năm 2011) và Malaysia (với Luật Giáo dục năm 1996 và Luật Giáo dục Đại học Tư thục năm 1996, sửa đổi năm 2017). Nguồn dữ liệu thứ cấp tại Việt Nam bao gồm 3 đạo luật then chốt (Luật Giáo dục năm 2005, Luật Giáo dục đại học sửa đổi năm 2018 và Luật Giáo dục năm 2019), 3 nghị định chuyên ngành (Nghị định số 73/2012/NĐ-CP, Nghị định số 46/2017/NĐ-CP, Nghị định số 86/2018/NĐ-CP) cùng hơn 30 công trình nghiên cứu và báo cáo khoa học quốc tế.

Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu mục đích đối với hai quốc gia Singapore và Malaysia vì đây là hai quốc gia có sự tương đồng sâu sắc về địa lý, văn hóa với Việt Nam nhưng đã xây dựng thành công trung tâm giáo dục quốc tế nhờ khung pháp lý tư thục hoàn thiện. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích so sánh luật học là nhằm bóc tách các quy định kỹ thuật lập pháp, làm rõ các điểm tương thích và xung đột giữa pháp luật doanh nghiệp và pháp luật giáo dục, từ đó cung cấp luận cứ vững chắc để thiết kế mô hình cơ sở giáo dục tư thục phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu từ năm 2018 đến năm 2020.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, pháp luật các nước Đông Nam Á quy định bắt buộc 100% nhà đầu tư tư nhân phải thành lập pháp nhân công ty trước khi xin cấp phép hoạt động giáo dục. Tại Singapore, Điều 37 Luật Giáo dục Tư thục năm 2009 quy định cơ quan quản lý sẽ từ chối cấp phép nếu cơ sở giáo dục không thuộc sở hữu của một công ty hoặc tổ chức xã hội có tư cách pháp nhân đăng ký với Cơ quan Quản lý Doanh nghiệp và Kế toán. Tương tự, Điều 12 Luật Giáo dục Đại học Tư thục Malaysia năm 1996 quy định trong thời hạn 12 tháng kể từ khi được chấp thuận nguyên tắc, nhà đầu tư bắt buộc phải thành lập một công ty theo Luật Công ty năm 1965 và hoàn tất việc góp đủ 100% vốn điều lệ đăng ký.

Thứ hai, sự phân định rạch ròi giữa quyền quản trị phần vốn của nhà đầu tư và quyền quản trị nhà trường của hội đồng trường. Tại Singapore, Hội đồng quản trị trường tư thục được khống chế số lượng từ 1 đến 9 thành viên, đồng thời nghiêm cấm thành viên hội đồng kiêm nhiệm vị trí giáo viên hoặc nhân viên nhà trường (trừ trường hợp họ chính là chủ sở hữu) nhằm triệt tiêu hoàn toàn xung đột lợi ích giữa người sử dụng lao động và người lao động. Tại Malaysia, các điều 14 và 15 của Đạo luật 555 nghiêm cấm công ty giáo dục tự ý thay đổi tên công ty, vốn điều lệ đã thanh toán, cơ cấu sở hữu và thành phần hội đồng quản trị sau khi đã được phê duyệt.

Thứ ba, cơ chế hậu kiểm nghiêm ngặt và chế tài tài chính minh bạch để bảo vệ người học. Singapore quy định mức xử phạt tài chính lên tới 5.000 SGD đối với hành vi quảng cáo sai lệch thông tin khóa học theo Điều 46 và Điều 48 Luật Giáo dục Tư thục năm 2009. Quốc gia này cũng thành lập Hội đồng kháng cáo độc lập gồm 5 thành viên do Bộ trưởng bổ nhiệm với nhiệm kỳ 3 năm, đồng thời quy định cơ chế bắt buộc trường tư thục phải hoàn trả 100% học phí hoặc chi trả toàn bộ kinh phí chuyển trường cho học sinh nếu khóa học không được cung cấp đúng cam kết.

Thảo luận kết quả

Thực trạng tại Việt Nam cho thấy sự lúng túng kéo dài do thiếu vắng một đạo luật riêng về giáo dục tư thục. Theo ước tính từ các vụ việc thực tế, hơn 60% các tranh chấp tại cơ sở giáo dục tư thục trong nước xuất phát từ việc nguồn vốn góp của các nhà đầu tư cá nhân không được đăng ký định danh theo Luật Doanh nghiệp. Khi phát sinh mâu thuẫn về quyền điều hành, cơ sở giáo dục không có căn cứ pháp lý rõ ràng để áp dụng cơ chế biểu quyết theo tỷ lệ vốn góp như mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn hay công ty cổ phần.

Kết quả nghiên cứu hoàn toàn tương đồng với các luận điểm của Mok (năm 2008) và Lee (năm 2010) về xu hướng doanh nghiệp hóa công tác quản trị đại học để nâng cao tính cạnh tranh toàn cầu. Để minh họa trực quan, dữ liệu nghiên cứu có thể được tổng hợp thành bảng ma trận so sánh 3 quốc gia (Việt Nam, Singapore, Malaysia) trên 4 tiêu chí cốt lõi: hình thức pháp nhân bắt buộc, quy mô và tiêu chuẩn hội đồng trường, cơ chế định danh vốn đầu tư và chế tài tài chính hậu kiểm. Ngoài ra, một sơ đồ khối về mô hình quản trị hai tầng có thể mô tả sinh động mối quan hệ phân lập: tầng 1 là công ty mẹ nắm quyền sở hữu tài sản và quản lý tài chính; tầng 2 là trường học trực thuộc với Hội đồng trường và Ban Giám hiệu chịu trách nhiệm độc lập về chất lượng học thuật.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện quy định về điều kiện thành lập pháp nhân đầu tư giáo dục. Bộ Giáo dục và Đào tạo cần phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư trình Chính phủ sửa đổi các nghị định hướng dẫn Luật Giáo dục năm 2019, quy định bắt buộc 100% nhà đầu tư trong nước và nước ngoài muốn mở trường tư thục phải thành lập tổ chức kinh tế theo Luật Doanh nghiệp. Mục tiêu là hoàn tất việc thể chế hóa trong giai đoạn 2021 - 2022 để định danh chính xác 100% tài sản góp vốn.

Thứ hai, chuẩn hóa cơ cấu tổ chức và quy chế hoạt động của Hội đồng trường tư thục. Bộ Giáo dục và Đào tạo cần ban hành thông tư quy định giới hạn số lượng thành viên Hội đồng trường tư thục từ 5 đến 9 người, quy định rõ tỷ lệ đại diện của nhà đầu tư và đại diện giảng viên, đồng thời cấm kiêm nhiệm các chức danh kiểm soát để loại trừ xung đột lợi ích. Lộ trình thực hiện cần hoàn thành trước quý IV năm 2022, hướng tới giảm thiểu 80% tranh chấp nội bộ về quyền điều hành.

Thứ ba, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia và công khai thông tin trường tư thục. Cục Quản lý chất lượng thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo cần thiết lập cổng thông tin điện tử công khai 100% dữ liệu về giấy phép, cơ cấu vốn, chương trình giảng dạy, đội ngũ giáo viên và học phí của các cơ sở giáo dục ngoài công lập. Timeline triển khai thử nghiệm trong 18 tháng và vận hành chính thức trên toàn quốc từ năm 2023.

Thứ tư, thiết lập cơ chế Hội đồng kháng cáo chuyên trách trong lĩnh vực giáo dục. Kiến nghị Thủ tướng Chính phủ thành lập Hội đồng kháng cáo trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo gồm 1 Chủ tịch và 4 ủy viên chuyên môn với nhiệm kỳ 3 năm. Cơ quan này có thẩm quyền tài phán độc lập để giải quyết 100% các khiếu nại hành chính liên quan đến cấp phép, xử phạt và thu hồi đăng ký hoạt động giáo dục trong thời hạn tối đa 30 ngày làm việc.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan lập pháp gồm Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tư pháp, Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội và các Sở Giáo dục và Đào tạo. Luận văn cung cấp luận cứ khoa học và kinh nghiệm lập pháp quốc tế phục vụ công tác xây dựng, thẩm định các nghị định, thông tư hướng dẫn Luật Giáo dục năm 2019.

Thứ hai, các nhà đầu tư cá nhân, tập đoàn kinh tế và quỹ đầu tư giáo dục trong nước và quốc tế. Công trình là cẩm nang pháp lý hữu ích giúp nhà đầu tư lựa chọn đúng mô hình doanh nghiệp, thiết lập thỏa thuận góp vốn an toàn và kiểm soát rủi ro pháp lý khi đầu tư vào hệ thống trường tư thục tại Việt Nam.

Thứ three, Hội đồng trường, Ban Giám hiệu và đội ngũ pháp chế nội bộ của các trường tư thục. Tài liệu hỗ trợ việc rà soát, tái cấu trúc quy chế tổ chức hoạt động, phân định rành mạch quyền hạn giữa cơ quan sở hữu vốn và cơ quan quản lý chuyên môn học thuật.

Thứ tư, các giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Hành chính và Quản lý Giáo dục. Luận văn đóng vai trò là tài liệu tham khảo chuyên sâu về phương pháp so sánh luật học và hệ thống hóa lý luận về quản trị giáo dục tư thục.

Câu hỏi thường gặp

Cơ sở giáo dục tư thục tại Việt Nam vì sao cần bắt buộc thành lập dưới hình thức công ty? Việc bắt buộc thành lập doanh nghiệp giúp nguồn vốn đầu tư được định danh chính xác thông qua Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Cơ chế này kích hoạt việc áp dụng toàn diện Luật Doanh nghiệp để giải quyết các quan hệ về tỷ lệ vốn góp, quyền biểu quyết và chuyển nhượng tài sản, chấm dứt tình trạng tranh chấp tự phát giữa các đồng sở hữu.

Pháp luật Singapore kiểm soát hiện tượng quảng cáo gây hiểu lầm của trường tư thục như thế nào? Theo Điều 46 và Điều 48 Luật Giáo dục Tư thục Singapore năm 2009, mọi hành vi phát hành thông tin sai lệch về danh xưng quốc tế, cơ sở vật chất hoặc chương trình liên kết đều bị phạt tiền lên đến 5.000 SGD. Cơ quan quản lý có thẩm quyền đình chỉ tuyển sinh hoặc thu hồi giấy phép hoạt động nếu cơ sở tái phạm.

Quy định về thời hạn góp vốn của trường đại học tư thục tại Malaysia có gì đặc biệt? Điều 12 Luật Giáo dục Đại học Tư thục Malaysia năm 1996 quy định người nộp đơn sau khi được phê duyệt nguyên tắc phải thành lập công ty và hoàn thành 100% nghĩa vụ góp đủ vốn điều lệ trong thời hạn tối đa 12 tháng. Nếu quá thời hạn quy định mà không hoàn tất việc góp vốn, văn bản chấp thuận thành lập trường sẽ bị hủy bỏ hoàn toàn.

Làm thế nào để ngăn chặn xung đột lợi ích giữa nhà đầu tư và đội ngũ giảng dạy trong trường tư thục? Kinh nghiệm lập pháp của Singapore chỉ rõ thành viên Hội đồng trường không được là giáo viên hoặc nhân viên hưởng lương của trường (trừ khi họ là chủ sở hữu). Quy định này bảo đảm sự độc lập tuyệt đối giữa cơ quan đại diện quyền sở hữu vốn và đội ngũ lao động chuyên môn, duy trì tính khách quan trong đánh giá chất lượng học thuật.

Quyền lợi học phí của người học được bảo vệ ra sao khi cơ sở giáo dục tư thục ngừng hoạt động? Theo khung pháp lý của Ủy ban Giáo dục Tư thục Singapore, khi khóa học bị chấm dứt hoặc không được cung cấp đúng cam kết, cơ sở giáo dục có nghĩa vụ pháp lý bắt buộc phải hoàn trả 100% học phí hoặc tự chi trả toàn bộ chi phí để chuyển học sinh sang một cơ sở tương đương nhằm bảo đảm quyền học tập liên tục.

Kết luận

  • Đóng góp lý luận cốt lõi: Luận văn đã làm sáng tỏ bản chất kinh tế - pháp lý của mô hình cơ sở giáo dục tư thục, khẳng định tính tất yếu của việc áp dụng cơ chế quản trị doanh nghiệp vào quản lý phần vốn đầu tư giáo dục.
  • Giá trị kinh nghiệm quốc tế: Hệ thống hóa toàn diện các bài học thành công từ Singapore và Malaysia về điều kiện thành lập công ty giáo dục, giới hạn số lượng hội đồng trường và kiểm soát quảng cáo minh bạch.
  • Đột phá thể chế đề xuất: Luận văn kiến nghị xóa bỏ cơ chế tự chọn hình thức đầu tư trực tiếp, thay bằng quy định bắt buộc thành lập pháp nhân tổ chức kinh tế để giải quyết triệt để các bất cập trong định danh tài sản.
  • Lộ trình cải cách cụ thể: Đề xuất kế hoạch hành động 4 bước trong giai đoạn 2021 - 2025 gắn với trách nhiệm rõ ràng của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng cơ chế Hội đồng kháng cáo độc lập.
  • Kêu gọi hành động: Các cơ quan quản lý nhà nước và cộng đồng nhà đầu tư cần nhanh chóng chung tay hoàn thiện hành lang pháp lý chuyên biệt, tạo môi trường đầu tư an toàn và bảo vệ tối đa quyền lợi chính đáng của các thế hệ người học Việt Nam.