Tổng quan nghiên cứu

Thị trường viễn thông Việt Nam trong những năm đầu thập niên 2000 phục vụ quy mô dân số trên 80 triệu người đã chứng kiến sự gia tăng nhanh chóng của nhu cầu truyền số liệu, Internet băng rộng và các tiện ích đa phương tiện. Mạng viễn thông quốc gia thời điểm này vẫn vận hành trên nền tảng chuyển mạch kênh truyền thống với cấu trúc 3 cấp mạng viễn thông cố định gồm 3 tổng đài Gateway quốc tế AXE-105 Transgate3, hệ thống tổng đài Toll phân bố tại 4 trung tâm lớn và mạng nội tỉnh trải rộng trên 61 bưu điện tỉnh, thành phố. Dung lượng kết nối Internet quốc tế của mạng VNN đạt khoảng 1,9 Gbps, trong khi mạng trục truyền dẫn cáp quang Bắc - Nam ứng dụng công nghệ SDH 2,5 Gbps kết hợp DWDM 20 Gbps.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm xuất phát từ sự tồn tại độc lập, phân tán của nhiều mạng dịch vụ riêng lẻ như mạng điện thoại PSTN, mạng truyền số liệu X25 Vietpac, Frame Relay với khoảng 150 kênh thuê bao, và mạng di động GSM 2G/2,5G. Sự thiếu đồng bộ này làm lãng phí băng thông chuyển mạch kênh khi có khoảng thời gian rỗi, gây khó khăn cho việc quản lý bảo dưỡng và hạn chế khả năng cung cấp dịch vụ mới do phụ thuộc vào các kiến trúc phần cứng đóng từ nhiều nhà sản xuất khác nhau.

Mục tiêu của luận văn là khảo sát thực trạng hạ tầng viễn thông tại Việt Nam, nghiên cứu các mô hình tiêu chuẩn công nghệ mạng thế hệ sau (Next Generation Network - NGN), từ đó xây dựng mô hình cấu trúc phân lớp tối ưu và hoạch định lộ trình triển khai NGN trên phạm vi toàn quốc trong 2 giai đoạn then chốt từ năm 2003 đến năm 2010. Nghiên cứu mang ý nghĩa chiến lược đối với ngành viễn thông, cung cấp cơ sở khoa học để tối ưu hóa trên 40% chi phí đầu tư hạ tầng mạng lõi, loại bỏ hơn 20 chủng loại tổng đài độc lập phân tán và tạo nền tảng chuyển dịch toàn diện sang mạng chuyển mạch gói băng thông rộng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn ứng dụng hệ thống khung lý thuyết kiến trúc mạng viễn thông tiên tiến từ các tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế hàng đầu:

  • Mô hình kiến trúc NGN theo ITU-T: Kế thừa từ dự án Cơ sở hạ tầng thông tin toàn cầu (GII) và nhóm nghiên cứu SG13, Liên minh Viễn thông Quốc tế đã thành lập nhóm đặc trách FGNGN với 7 nhóm công tác từ WG1 đến WG7 nhằm chuẩn hóa toàn diện cấu trúc chức năng NGN gồm 3 lớp: Lớp ứng dụng, Lớp trung gian (điều khiển dịch vụ và quản lý), và Lớp cơ sở (chuyển tải, điều khiển, xử lý và giao diện).
  • Khung tiêu chuẩn ETSI TISPAN Release 1: Viện Tiêu chuẩn Viễn thông Châu Âu định nghĩa cấu trúc 4 lớp bao gồm Lớp kết nối, Lớp điều khiển, Lớp ứng dụng nội dung và Lớp quản lý; đồng thời tích hợp phân hệ đa phương tiện trên nền IP (IMS) nhằm hỗ trợ dịch vụ truyền thống PSTN/ISDN trên nền IP/xDSL.
  • Tiêu chuẩn mạng gói IETF và MPLS: Lý thuyết chuyển mạch nhãn đa giao thức (MPLS) chuyển mạng IP từ không định hướng kết nối sang định hướng kết nối, sử dụng mào đầu tiêu đề 32 bit bao gồm 20 bit nhãn (Label), 3 bit phân lớp dịch vụ (CoS), 1 bit ngăn xếp (Stack) và 8 bit thời gian sống (TTL).
  • Các giao thức báo hiệu và điều khiển phiên: Khung lý thuyết phân tích sâu giao thức SIP theo chuẩn RFC 2543 với cấu trúc thông điệp dạng văn bản (text-based), họ giao thức H.323 (bao gồm H.225 RAS, Q.931 qua cổng TCP 1720, và H.245), giao thức truyền thông thực RTP/RTCP cùng cơ chế điều khiển cổng MGCP và MEGACO/H.248.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu kỹ thuật thực địa thu thập từ Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT), Công ty Viễn thông Quốc tế (VTI), Công ty Viễn thông Liên tỉnh (VTN), Công ty Điện toán và Truyền số liệu (VDC), cùng số liệu mạng lưới của các nhà khai thác mới nổi như Viettel (đã phủ sóng VoIP tại 49 tỉnh thành), SPT (vận hành tại 38 tỉnh thành) và EVNTelecom.

Cỡ mẫu khảo sát bao trùm 100% các nút mạng chuyển mạch cấp quốc tế và quốc gia, kết hợp khảo sát chi tiết cấu hình phần cứng tại 61 mạng viễn thông nội tỉnh với hơn 20 dòng thiết bị tổng đài như Alcatel 1000E1, Siemens EWSD, NEC Neax61Sigma, VKX, DTS, KASATI và RAX. Phương pháp chọn mẫu tập trung vào các nút mạng trục chính tại Hà Nội, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh và Cần Thơ, kết hợp các thiết bị chuyển mạch lõi M160 và định tuyến Cisco 12000.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích so sánh kỹ thuật và mô hình hóa hệ thống là nhằm đánh giá chính xác sự khác biệt về hiệu năng giữa chuyển mạch tế bào ATM kích thước cố định 53 byte với chuyển mạch gói IP/MPLS. Phương pháp này cho phép nhận diện các điểm nghẽn hạ tầng và xây dựng lộ trình nâng cấp khả thi trong mốc thời gian thực hiện từ năm 2003 đến năm 2010.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình khảo sát và nghiên cứu đã đưa ra các phát hiện mang tính then chốt về thực trạng và xu hướng công nghệ:

  1. Sự phân mảnh và quá tải của mạng chuyển mạch kênh truyền thống: Hệ thống mạng PSTN nội tỉnh tồn tại khoảng 20 dòng tổng đài độc lập khác nhau, hoạt động theo cơ chế phần cứng đóng độc quyền. Điều này làm tăng chi phí quản lý vận hành từ 25% đến 30% mỗi năm và gây lãng phí nghiêm trọng tài nguyên mạng khi các kênh liên lạc thoại 64 Kbps không thể chia sẻ dung lượng cho lưu lượng dữ liệu đột biến.
  2. Hiệu quả thực tế của các dịch vụ thoại gói thử nghiệm: Việc triển khai dịch vụ VoIP 1717 trả trước từ tháng 7/2003 và mạng VoIP 171 định hướng NGN sử dụng 3 node mạng trục lõi Siemens M160 kết nối STM-16 cùng các bộ định tuyến Siemens ERX 705/1400 tại các tỉnh đã giải tỏa đáng kể lưu lượng liên tỉnh, nâng cao hiệu suất khai thác truyền dẫn và đáp ứng dung lượng kết nối Internet quốc tế vượt mốc 1,9 Gbps.
  3. Ưu thế tuyệt đối của IP/MPLS so với ATM: Trong khi công nghệ ATM đòi hỏi chi phí đầu tư phần cứng đắt đỏ để xử lý các cell 53 byte ở lớp 2, công nghệ IP/MPLS kết hợp định tuyến nhãn mềm dẻo ở lớp 3 đã giúp tối ưu hóa định tuyến lưu lượng, đảm bảo chất lượng dịch vụ (QoS) cho thoại và video thời gian thực, đồng thời giảm trên 35% chi phí đầu tư thiết bị chuyển mạch lõi.
  4. Tính linh hoạt vượt trội của giao thức SIP: Giao thức SIP dựa trên định dạng văn bản UTF-8 và kiến trúc phân tán (Proxy, Registrar, Redirect Server) chứng minh khả năng xử lý báo hiệu nhanh hơn, hỗ trợ tối đa tính di động của người dùng và giảm thời gian thiết lập dịch vụ mới xuống dưới 50% so với hệ thống báo hiệu số 7 (SS7) hoặc họ giao thức H.323.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến sự cần thiết của NGN là sự bùng nổ của các ứng dụng đa phương tiện đòi hỏi một hạ tầng hội tụ duy nhất. Chuyển mạch kênh truyền thống không thể đáp ứng tính linh hoạt khi triển khai các tiện ích như truyền hình theo yêu cầu, hội nghị truyền hình hay tích hợp mạng di động thế hệ mới 2,5G và 3G.

So sánh với các nghiên cứu của ITU-T và Viện ETSI, giải pháp xây dựng mô hình NGN tại Việt Nam có tính tương thích cao với xu hướng toàn cầu, cho phép kế thừa tối đa hạ tầng mạng cáp quang SDH hiện có tốc độ từ 155 Mbps đến 2,5 Gbps, đồng thời tích hợp liền mạch hệ thống báo hiệu liên mạng thông qua các bộ chuyển đổi SIGTRAN và BICC.

Dữ liệu nghiên cứu được biểu diễn trực quan qua các bảng phân bổ vị trí các Node chuyển tải giai đoạn 2003-2006 (Bảng 3-1) và giai đoạn 2007-2010 (Bảng 3-2), kết hợp các sơ đồ kiến trúc phân lớp chức năng (Hình 3-1, Hình 3-2) và mô hình đấu nối hệ thống NGN với PSTN, Internet và mạng di động (Hình 3-6, 3-7, 3-8). Các sơ đồ này thể hiện rõ ràng cấu trúc điều khiển phân tách rành mạch giữa thiết bị điều khiển cổng truyền thông (MGC/Softswitch) và cổng truyền thông đa phương tiện (Media Gateway).

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các kết quả khảo sát và phân tích công nghệ, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm hiện thực hóa mạng NGN tại Việt Nam:

  1. Xây dựng cấu trúc mạng NGN chuẩn hóa 4 phân lớp chức năng: Thiết lập rành mạch Lớp truy nhập (Access/Media Gateway, xDSL, BRAS), Lớp truyền tải lõi (sử dụng IP/MPLS trên mạng Ring cáp quang SDH/DWDM), Lớp điều khiển (triển khai Softswitch/MGC SURPASS HiQ, Gatekeeper, SIP Server) và Lớp ứng dụng/dịch vụ mở (sử dụng giao diện lập trình ứng dụng mở APIs, CPL, CGI).
  2. Thực hiện lộ trình triển khai 2 giai đoạn chuyển đổi toàn diện:
    • Giai đoạn 2003 - 2006: Tập trung xây dựng hạ tầng mạng lõi NGN tại 3 trung tâm lớn (Hà Nội, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh), lắp đặt các Media Gateway dung lượng lớn (SURPASS HiG) để kết nối liên thông mạng PSTN, mạng Internet VNN và mạng di động GSM; đưa tỷ lệ chuyển mạch gói cho lưu lượng đường dài đạt khoảng 30% đến 40%.
    • Giai đoạn 2007 - 2010: Mở rộng các node chuyển tải đến 100% các tỉnh thành, chuyển đổi toàn bộ lưu lượng liên tỉnh và quốc tế sang mạng NGN, từng bước thay thế các tổng đài nội hạt cũ thành các Access Gateway và chuyển hoàn toàn mạng viễn thông quốc gia sang mạng hội tụ băng rộng.
  3. Chuẩn hóa hệ thống giao thức báo hiệu và điều khiển cuộc gọi: Áp dụng đồng bộ giao thức SIP cho các dịch vụ đầu cuối và ứng dụng đa phương tiện mới; duy trì giao thức BICC và MGCP/MEGACO H.248 cho việc điều khiển giữa MGC và MG; ứng dụng bộ giao thức SIGTRAN để truyền tải báo hiệu số 7 (SS7) qua mạng IP nhằm đảm bảo độ tin cậy kết nối đạt 99,999%.
  4. Nâng cấp và mở rộng năng lực mạng truyền dẫn quang đường trục: Đẩy mạnh triển khai công nghệ ghép kênh phân chia theo bước sóng mật độ cao DWDM trên tuyến trục Bắc - Nam từ 20 Gbps lên các mức dung lượng cao hơn, nâng cấp các tuyến cáp quang biển quốc tế SMW3 (2,5 Gbps) và tuyến đất liền CSC nhằm đáp ứng nhu cầu tăng trưởng băng thông trên 50% mỗi năm.

Chủ thể thực hiện chính bao gồm Tập đoàn VNPT, các công ty thành viên VTN, VTI, VDC phối hợp chặt chẽ cùng các doanh nghiệp viễn thông lớn như Viettel, SPT dưới sự điều phối chiến lược của Bộ Bưu chính Viễn thông.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang lại giá trị học thuật và thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng chuyên môn:

  • Kỹ sư quy hoạch và thiết kế mạng viễn thông: Tiếp cận phương pháp luận thiết kế mạng phân lớp NGN, nắm vững kỹ thuật đấu nối giao tiếp giữa mạng chuyển mạch kênh truyền thống với mạng chuyển mạch gói thông qua các hệ thống Media Gateway và Softswitch.
  • Cán bộ quản lý kỹ thuật tại các nhà khai thác viễn thông (VNPT, Viettel, MobiFone): Sử dụng các mô hình đánh giá và bảng biểu lộ trình làm tài liệu tham chiếu để lập kế hoạch đầu tư, nâng cấp thiết bị mạng lõi (như M160, Cisco 12000) và tối ưu hóa chi phí vận hành trong quá trình chuyển đổi số hạ tầng.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Điện tử Viễn thông: Khai thác làm tài liệu giảng dạy và nghiên cứu chuyên sâu về các giao thức báo hiệu hiện đại như SIP, H.323, MPLS, Megaco/H.248 và phân hệ đa phương tiện IP (IMS).
  • Chuyên viên phát triển giải pháp và tích hợp hệ thống ICT: Vận dụng kiến trúc mở của NGN để nghiên cứu, phát triển các dịch vụ giá trị gia tăng mới trên nền IP như tổng đài ảo IP-PBX, giải pháp hội nghị truyền hình trực tuyến và hệ thống truyền thông hợp nhất cho doanh nghiệp.

Câu hỏi thường gặp

Mạng NGN giải quyết nhược điểm lãng phí băng thông của mạng PSTN như thế nào?
Mạng PSTN truyền thống duy trì một kênh truyền cố định 64 Kbps cho mỗi cuộc gọi ngay cả trong thời gian người dùng im lặng. Ngược lại, mạng NGN áp dụng công nghệ chuyển mạch gói IP/MPLS, chỉ đóng gói và truyền tải dữ liệu khi có tín hiệu âm thanh hoặc dữ liệu thực tế, giúp tiết kiệm từ 40% đến 60% dung lượng băng thông truyền dẫn.

Tại sao công nghệ IP/MPLS lại thay thế công nghệ ATM trong việc xây dựng mạng lõi NGN?
Mặc dù công nghệ ATM đảm bảo chất lượng dịch vụ tốt nhờ các cell 53 byte cố định, nhưng việc xử lý hoàn toàn bằng phần cứng lớp 2 đòi hỏi chi phí đầu tư rất lớn. IP/MPLS với tiêu đề nhãn 32 bit cho phép định tuyến mềm dẻo bằng phần mềm ở lớp 3, dễ tích hợp với mạng Internet và mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn khoảng 35%.

Giao thức SIP có những ưu điểm vượt trội nào so với chuẩn H.323 trong việc khởi tạo cuộc gọi?
Giao thức SIP được xây dựng trên định dạng văn bản chuẩn UTF-8 tương tự như giao thức HTTP, có cấu trúc bản tin gọn nhẹ và chỉ gồm 6 lệnh cơ bản. Điều này giúp SIP dễ dàng mở rộng, tích hợp tốt với các ứng dụng máy tính và hỗ trợ các tính năng định vị thuê bao di động linh hoạt hơn cấu trúc phức tạp của H.323.

Mô hình chuyển đổi mạng NGN tại Việt Nam được phân kỳ thành các mốc thời gian nào?
Lộ trình được phân kỳ thành 2 giai đoạn rõ rệt: Giai đoạn 1 (2003-2006) tập trung thiết lập mạng trục NGN tại 3 trung tâm lớn và thử nghiệm dịch vụ VoIP; Giai đoạn 2 (2007-2010) mở rộng các node chuyển tải đến 61 tỉnh thành, thay thế hoàn toàn các tổng đài độc lập cũ và hợp nhất mọi dịch vụ trên nền tảng gói.

Vai trò của thiết bị Softswitch/MGC trong cấu trúc phân lớp mạng NGN là gì?
Softswitch hay Media Gateway Controller (MGC) đóng vai trò là khối óc điều khiển ở Lớp điều khiển. Thiết bị này thực hiện chức năng xử lý cuộc gọi, điều khiển các cổng Media Gateway ở Lớp truy nhập thông qua các giao thức MGCP/MEGACO, đồng thời liên kết báo hiệu số 7 với mạng PSTN thông qua SIGTRAN.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện hiện trạng mạng viễn thông Việt Nam, chỉ rõ các hạn chế về phân mảnh hạ tầng và sự cần thiết phải chuyển dịch từ chuyển mạch kênh sang chuyển mạch gói.
  • Hệ thống hóa đầy đủ cơ sở lý thuyết chuẩn quốc tế về NGN từ ITU-T, ETSI và IETF, đặc biệt là các công nghệ lõi IP/MPLS, giao thức SIP, H.323 và phân hệ IMS.
  • Đề xuất thành công mô hình cấu trúc NGN 4 phân lớp chức năng phù hợp hoàn hảo với điều kiện mạng lưới và năng lực tài chính của các nhà khai thác viễn thông Việt Nam.
  • Xây dựng lộ trình triển khai chi tiết qua 2 giai đoạn từ năm 2003 đến năm 2010, đưa ra các giải pháp cụ thể cho từng lớp mạng và từng phân vùng địa lý.
  • Đóng góp nguồn tài liệu tham khảo kỹ thuật có giá trị thực tiễn cao, hỗ trợ các cơ quan quản lý và doanh nghiệp viễn thông tối ưu hóa chiến lược phát triển hạ tầng mạng thế hệ mới.

Để tiếp tục phát triển kết quả nghiên cứu, các đơn vị viễn thông cần nhanh chóng hoàn thiện quy hoạch tần số, nâng cấp dung lượng trục quang DWDM lên trên 40 Gbps và thúc đẩy triển khai thử nghiệm mạng di động 3G tích hợp phân hệ IMS. Quý độc giả và các chuyên gia quan tâm có thể khai thác tài liệu này làm cơ sở nghiên cứu và triển khai các dự án nâng cấp hạ tầng mạng viễn thông băng rộng hiện đại.