Thiết kế module tích hợp thu GPS sử dụng AVR ATmega162 - ĐH Bách Khoa

Nghiên cứu giải pháp thiết kế module tích hợp đa chức năng thông tin vệ tinh và hệ thống định vị toàn cầu nhằm tối ưu hiệu suất truyền thông.

Trường đại học

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đồ án tốt nghiệp

2009

70
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan thiết kế module tích hợp định vị toàn cầu đa chức năng

Hệ thống định vị toàn cầu đóng vai trò then chốt trong hạ tầng thông tin hiện đại. Việc thiết kế module tích hợp đa chức năng thông tin vệ tinh hệ thống định vị toàn cầu đáp ứng nhu cầu giám sát vị trí liên tục. Công nghệ này thu thập tín hiệu sóng vô tuyến từ các chòm sao vệ tinh như GPS, GLONASS hoặc Galileo. Thiết bị sau đó tính toán kinh độ, vĩ độ, độ cao và vận tốc di chuyển. Cấu trúc module thông thường gồm khối xử lý tần số vô tuyến RF, bộ khuếch đại tạp âm thấp LNA và khối xử lý số tín hiệu dải gốc. Vi điều khiển trung tâm đảm nhận vai trò điều phối giao tiếp và xử lý giao thức dữ liệu chuẩn NMEA. Quá trình phát triển module đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa thiết kế mạch in cao tần và tối ưu hóa phần mềm nhúng. Thiết bị định vị tích hợp cần đạt hiệu suất cao cùng khả năng hoạt động bền bỉ trong môi trường khắc nghiệt. Xu hướng thu nhỏ kích thước mạch và giảm tiêu hao năng lượng đang thúc đẩy nhiều cải tiến kỹ thuật. Module định vị tích hợp ngày nay trở thành thành phần cốt lõi trong vô số thiết bị thông minh.

1.1. Cấu trúc cơ bản của hệ thống vệ tinh định vị toàn cầu

Hệ thống định vị toàn cầu gồm ba phân vùng chính: phân vùng không gian, phân vùng điều khiển và phân vùng người dùng. Phân vùng không gian bao gồm các vệ tinh bay quanh quỹ đạo trái đất và liên tục phát tín hiệu định thời. Phân vùng điều khiển gồm các trạm quan sát mặt đất nhằm theo dõi quỹ đạo và hiệu chỉnh đồng hồ vệ tinh. Phân vùng người dùng bao gồm thiết bị thu sóng và module tích hợp chuyên dụng. Module GPS thu nhận tín hiệu từ tối thiểu bốn vệ tinh để giải phương trình định vị ba chiều. Dữ liệu đầu ra cung cấp tọa độ địa lý chính xác cho các ứng dụng giám sát.

1.2. Vai trò của vi điều khiển trong module định vị tích hợp

Vi điều khiển đóng vai trò bộ não điều khiển toàn bộ hoạt động của module định vị vệ tinh. Dòng chip AVR như ATmega162 thường được lựa chọn nhờ cấu trúc RISC hiệu năng cao và khả năng tiết kiệm điện năng. Vi điều khiển tiếp nhận dòng dữ liệu nối tiếp từ chip thu GPS qua giao tiếp UART chuẩn. Thiết bị tiến hành phân tích các bản tin NMEA 0183 để trích xuất thông tin kinh độ, vĩ độ và thời gian UTC. Ngoài ra, vi điều khiển quản lý bộ nhớ đệm, điều khiển các cổng vào ra I/O và chuyển tiếp dữ liệu đến màn hình hiển thị hoặc modem truyền xa.

II. Phân tích thách thức thiết kế module tích hợp định vị toàn cầu

Quá trình thiết kế module tích hợp đa chức năng thông tin vệ tinh hệ thống định vị toàn cầu đối mặt với nhiều thách thức kỹ thuật. Mức công suất tín hiệu vệ tinh khi truyền tới bề mặt trái đất rất yếu, thường dao động quanh ngưỡng -130 dBm đến -160 dBm. Tín hiệu yếu khiến hệ thống dễ bị ảnh hưởng bởi tạp âm nhiệt và can nhiễu điện từ xung quanh. Môi trường đô thị với các tòa nhà cao tầng gây ra hiện tượng truyền sóng đa đường làm sai lệch thời gian truyền tín hiệu. Việc tối ưu hóa mạch nguồn cho module cũng là một trở ngại lớn. Module cần nguồn cấp kép ổn định nhằm duy trì bộ nhớ lưu trữ dữ liệu quỹ đạo vệ tinh và đồng hồ thời gian thực RTC. Nếu mất nguồn lưu trữ, thời gian chốt vị trí ban đầu TTFF sẽ kéo dài đáng kể. Ngoài ra, việc thiết kế mạch in tần số cao đòi hỏi kỹ thuật phối hợp trở kháng nghiêm ngặt. Bất kỳ sai sót nhỏ nào trong bố trí đường mạch RF đều có thể làm suy giảm độ nhạy thu.

2.1. Vấn đề suy hao tín hiệu và can nhiễu cao tần RF

Tín hiệu định vị vệ tinh tần số 1575.42 MHz rất nhạy cảm với suy hao truyền dẫn và can nhiễu điện từ. Suy hao qua cáp dẫn, đầu nối và vỏ thiết bị làm giảm tỷ số tín hiệu trên tạp âm SNR. Hiện tượng tán xạ do cây cối hoặc phản xạ từ bề mặt công trình tạo ra sai số định vị đáng kể. Mạch tích hợp cần trang bị bộ lọc dải thông SAW và bộ khuếch đại tạp âm thấp LNA chất lượng cao. Khối LNA hỗ trợ tăng cường độ lợi tín hiệu thêm 20 dB trong khi giữ hệ số tạp âm ở mức thấp dưới 0.8 dB.

2.2. Thách thức tối ưu hóa công suất và thời gian chốt vị trí

Thời gian chốt vị trí lần đầu TTFF quyết định độ phản hồi của thiết bị định vị. Ở chế độ khởi động nguội Cold Start, module cần thu thập toàn bộ dữ liệu lịch thiên văn Almanac và Ephemeris. Quá trình này tiêu tốn năng lượng và kéo dài thời gian chờ của hệ thống. Thiết kế mạch phải duy trì nguồn pin nuôi dự phòng VDD_RTC ở mức 1.2V để lưu thông tin vệ tinh trong bộ nhớ SRAM. Khi kích hoạt chế độ khởi động nóng Hot Start, thời gian xác định tọa độ giảm xuống dưới vài giây, giúp tiết kiệm tối đa năng lượng tiêu thụ.

III. Phương pháp thiết kế module tích hợp thông tin định vị vệ tinh

Giải pháp thiết kế module tích hợp đa chức năng thông tin vệ tinh hệ thống định vị toàn cầu tập trung vào sự kết hợp giữa module thu GPS GPM 1315 và vi điều khiển AVR. Mạch phần cứng sử dụng anten tích cực kết hợp bộ khuếch đại LNA độ lợi 20 dB để thu sóng tối ưu. Module thu nhận tín hiệu dải tần L1 và chuyển đổi xuống tần số trung tần trước khi xử lý số. Vi điều khiển ATmega162 giao tiếp với module thu qua cổng USART với tốc độ truyền chuẩn 4800 hoặc 9600 baud. Khung truyền dữ liệu được cấu hình gồm 1 bit Start, 8 bit dữ liệu và 1 bit Stop không kèm bit kiểm tra chẵn lẻ. Phần mềm nhúng trên vi điều khiển xây dựng thuật toán lọc chuỗi NMEA, tự động bóc tách bản tin $GPRMC và $GPGGA để lấy dữ liệu tọa độ. Mạch nguồn được phân tách rõ ràng giữa nhánh nguồn số 3.3V và nhánh nguồn nuôi bộ nhớ 1.2V nhằm giảm can nhiễu chéo.

3.1. Thiết kế phần cứng và phối hợp trở kháng anten GPS

Thiết kế phần cứng đòi hỏi đường dẫn tín hiệu RF giữa chân anten và chip thu phải chuẩn hóa trở kháng 50 Ohm. Kỹ thuật mạch dải Microstrip trên vật liệu FR4 chất lượng cao giúp hạn chế bức xạ sóng và suy hao truyền dẫn. Anten tích cực tích hợp sẵn mạch tiền khuếch đại được cấp nguồn trực tiếp qua đường dây đồng trục. Mạch nguồn sử dụng các IC ổn áp tuyến tính có độ gợn sóng cực thấp để cấp nguồn cho phần RF. Các tụ lọc gốm nhiều lớp được bố trí sát chân nguồn của vi điều khiển và module GPS nhằm triệt tiêu nhiễu cao tần.

3.2. Thuật toán phần mềm xử lý và giải mã giao thức NMEA

Phần mềm nhúng thiết lập cơ chế ngắt nhận dữ liệu UART trên vi điều khiển AVR để lưu trữ ký tự vào hàng đợi đệm vòng tròn. Khi phát hiện ký tự kết thúc dòng, chương trình kích hoạt hàm phân tích cú pháp chuỗi NMEA 0183. Thuật toán kiểm tra mã Checksum để loại bỏ các gói tin lỗi do can nhiễu đường truyền. Dữ liệu hợp lệ từ câu lệnh GPRMC cung cấp trạng thái định vị, vĩ độ, kinh độ, tốc độ mặt đất và ngày giờ chuẩn. Chương trình chuyển đổi dữ liệu thô sang định dạng số thực rồi hiển thị lên màn hình LCD hoặc truyền về máy chủ.

IV. Ứng dụng thực tiễn module tích hợp đa chức năng định vị vệ tinh

Việc thiết kế module tích hợp đa chức năng thông tin vệ tinh hệ thống định vị toàn cầu mang lại giá trị thực tiễn to lớn cho nhiều ngành công nghiệp. Thiết bị hoàn chỉnh đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn về độ chính xác định vị, kích thước nhỏ gọn và độ tin cậy vận hành. Trong lĩnh vực giao thông vận tải, module được lắp đặt trên các phương tiện đường bộ, đường thủy và đường hàng không để quản lý lộ trình. Hệ thống truyền dẫn dữ liệu tọa độ thời gian thực về trung tâm điều hành giúp ngăn ngừa tai nạn và tối ưu hóa tuyến đường. Trong công tác cứu hộ cứu nạn, module hỗ trợ xác định chính xác vị trí nạn nhân tại những địa hình hiểm trở. Nền tảng vi điều khiển AVR kết hợp module GPS còn đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng các thiết bị đo đạc bản đồ số và nông nghiệp chính xác. Giải pháp này khẳng định tiềm năng phát triển mạnh mẽ của công nghệ định vị nhúng.

4.1. Ứng dụng giám sát hành trình phương tiện giao thông

Module định vị tích hợp là thành phần cốt lõi trong các hộp đen giám sát hành trình xe ô tô và tàu thuyền. Thiết bị liên tục cập nhật tọa độ, vận tốc và hướng di chuyển của phương tiện. Dữ liệu này được kết hợp với module truyền thông GSM/GPRS để gửi thông tin về máy chủ quản lý đội xe theo thời gian thực. Doanh nghiệp vận tải có thể kiểm soát tốc độ xe, cảnh báo vi phạm giới hạn và nâng cao an toàn giao thông. Khi xảy ra sự cố, hệ thống tự động phát tín hiệu khẩn cấp kèm vị trí chi tiết để phục vụ công tác cứu hộ kịp thời.

4.2. Triển vọng tích hợp công nghệ đa hệ thống vệ tinh GNSS

Xu hướng phát triển hiện nay hướng tới việc tích hợp đa hệ thống vệ tinh GNSS trên cùng một module phần cứng. Thiết bị thế hệ mới có thể thu nhận đồng thời tín hiệu từ GPS, GLONASS, Galileo và BeiDou. Khả năng theo dõi nhiều chòm sao vệ tinh giúp tăng đáng kể số lượng vệ tinh khả dụng tại một thời điểm. Độ chính xác định vị được cải thiện từ mức vài mét xuống mức centimet khi kết hợp công nghệ hiệu chỉnh vi sai DGPS hoặc RTK. Module đa vệ tinh mở ra tiềm năng lớn cho thiết bị bay không người lái UAV và xe tự hành thông minh.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

05/06/2026
Thiết kế module tích hợp đa chức năng thễng tin vệ tinh hệ thống định vị toàn cầu

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ HỆ THỐNG ĐỊNH VỊ TOÀN CẦU I.Định nghĩa về hệ thống định vị toàn cầu I. Định nghĩa Hệ thống định vị toàn cầu ( Global Positioning System - GPS) là hệ thống xác định vị trí dựa trên vị trí của các vệ tinh nhân tạo. Trong cùng một thời điểm, ở một vị trí trên mặt đất nếu xác định được khoảng cách đến ba vệ tinh (tối thiểu) thì sẽ tính được tọa độ của vị trí đó.Các thành phần chính của GPS Hệ thống định vị toàn cầu bao gồm 3 bộ phận: bộ phận người sử dụng, bộ phận không gian và bộ phận điều khiển Hình 1. Các thành phần chính của GPS Giáo viên hướng dẫn : TS Vũ Văn Yêm Đồ án tốt nghiệp 1.Bộ phận người sử dụng Bộ phận người sử dụng là người sử dụng và GPS ghi nhận.

GPS ghi nhận là một máy thu tín hiệu sóng vô tuyến đặc biệt. Nó được thiết kế để nghe tín hiệu sóng vô tuyến được truyền từ các vệ tinh và tính toán vị trí dựa trên thông tin đó. GPS ghi nhận có nhiều kích cỡ khác nhau, hình dáng và giá cả khác nhau. Tính chất và giá cả của GPS ghi nhận nói chung lệ thuộc vào chức năng mà bộ phận thu nhận có ý định.

Bộ phận thu nhận dùng cho ngành hàng hải và hàng không thường sử dụng cho tính năng giao diện với thẻ nhớ chứa bản đồ đi biển. Bộ phận thu nhận dùng cho bản đồ khả năng chính xác rất cao và có giao diện người sử dụng cho phép ghi nhận dữ liệu nhanh chóng.Bộ phận không gian Bộ phận không gian gồm các vệ tinh GPS mà nó truyền thời gian và vị trí tới người sử dụng. Tập hợp tất cả các vệ tinh này được gọi là “chòm sao”. -Hệ thống NAVSTAR (Mỹ) - Hệ thống GLONASS (Nga) 3.Bộ phận điều khiển Bộ phận điều khiển gồm toàn bộ thiết bị trên mặt đất được sử dụng để giám sát và điều khiển các vệ tinh.

Bộ phận này thường người sử dụng không nhìn thấy, nhưng đây là bộ phận quan trọng của hệ thống. Bộ phận điều khiển NAVSTAR, được gọi là hệ thống điều khiển hoạt động (operational control system (OCS)) gồm các trạm giám sát, một trạm điều khiển chính (master control station (MCS)) và anten quay. Các trạm giám thụ động không nhiều hơn GPS nhận mà đường bay của các vệ tinh được nhìn thấy và do đó phạm vi tích luỹ dữ liệu từ tín hiệu vệ tinh. Có 5 trạm Sinh viên: Nguyễn Đức Long – Lớp SPKT Điện Tử -K50 3 giám sát thụ động, toạ lạc ở Colorado Springs, Hawaii, đảo Ascencion, Diego Garcia và Kwajalein.

Các trạm giám sát gởi dữ liệu thô về trạm MSC để xử lý. Trạm MCS dược toạ lạc ở Falcon Air Force Base, cách 12 dặm về phía đông của Colorado Springs, Colorado và được Mỹ quản lý. Air Force's 2nd Space Operations Squadron (2nd SOPS). Trạm MCS nhận dữ liệu từ trạm giám sát trong thời gian 24 giờ/ngày và sử dụng thông tin này để xác định nếu các vệ tinh đang khoá hoặc lịch thiên văn thay đổi và để phát hiện thiết bi trục trặc.

Thông tin về tàu thuỷ di chuyển và lịch thiên văn được tính toán từ tín hiệu giám sát và chuyển đến vệ tinh một lần hoặc hai lần/ngày. Thông tin tính toán bởi trạm MCS, cùng với các mệnh lệnh duy trì thường xuyên được truyền bởi anten xoay trên mặt đất. Anten này toạ lạc tại đảo Ascencion, Diego Garcia và Kwajalein. Anten có đủ phương tiện để truyền đến vệ tinh theo đường liên kết sóng vô tuyến band S.

Thêm vào đó chức năng chính của trạm MCS duy trì 24 giờ hệ thống bản tin điện tử với tình trạng và tin tức hệ thống sau cùng. Công dân liên lạc cho vấn đề này với The United States Coast Guard's (USCG) Navigation Center (NAVCEN). Giới thiệu các hệ thống định vị toàn cầu II.Hệ thống định vị toàn cầu của Mỹ 1.Quá trình xây dựng: -Vệ tinh GPS đầu tiên được phóng năm 1978. - Hoàn chỉnh đầy đủ 24 vệ tinh vào năm 1994.

- Mỗi vệ tinh được làm để hoạt động tối đa là 10 năm. - Vệ tinh GPS có trọng lượng khoảng 1500 kg và dài khoảng 5m với các tấm năng lượng Mặt Trời mở rộng 7 m². * Công suất phát bằng hoặc dưới 50 watts.Sự hoạt động Hệ thống NAVSTAR gồm 24 vệ tinh với 6 quỹ đạo bay. Các vệ tinh này hoạt động ở quỹ đạo có độ cao 20.200 km (10,900 nm) ở góc nghiêng 55 độ và với thời Giáo viên hướng dẫn : TS Vũ Văn Yêm Đồ án tốt nghiệp gian 12 giờ/quỹ đạo.

Quỹ đạo bay không gian của các vệ tinh được sắp xếp để tối thiểu 5 vệ tinh sẽ được người sử dụng nhìn thấy bao phủ toàn cầu, với vị trí chính xác hoàn toàn (position dilution of precision PDOP) của 6 vệ tinh hoặc ít hơn. Mỗi vệ tinh truyền trên 2 band tần số L, L1 có tần số 1575.42 MHz và L2 có tần số 1227. Mỗi vệ tinh truyền trên cùng tần số xác định; tuy nhiên, tín hiệu mỗi vệ tinh thì thay đổi theo thời gian đến người sử dụng. Thông tin dữ liệu hàng hải được thêm các mã này.

Thông tin dữ liệu hàng hải giống nhau được mang cả 2 band tần số. Mã P thì thường được mã hoá vì thế chỉ mã C/A thì có sẵn đến người sử dụng bình thường; tuy nhiên, một vài thông tin có thể nhận được từ mã P. Khi mã hoá, mã P được hiểu như mã Y. Mỗi vệ tinh có 2 số nhận dạng.

Đầu tiên là số NAVSTAR với nhận dạng trên thiết bị vệ tinh đặc biệt. Thứ hai là số sv (the space vehicle (sv) number). Số này được ấn định để ra lệch phóng vệ tinh. Thứ ba là số mã tiếng âm thanh (the pseudo-random noise-PRN).

Đây chỉ là số nguyên mà nó được sử dụng để mã tín hiệu từ các vệ tinh đó. Một vài máy ghi nhận nhận biết vệ tinh mà chúng đang ghi nhận từ mã SV, hoặc mã khác từ mã PRN. hành trình, quãng cách tới điểm đến, thời gian Mặt Trời mọc, lặn và nhiều thứ khác nữa. Sinh viên: Nguyễn Đức Long – Lớp SPKT Điện Tử -K50 5 Độ phủ sóng của NAVSTAR Hình 1.

Độ phủ sóng của NAVSTAR II.Hệ thống định vị toàn cầu của Nga 1.Quá trình xây dựng: -Vệ tinh GPS đầu tiên được phóng năm 1982 - Được đưa vào sử dụng vào năm 1993 2.Sự hoạt động Hệ thống GLONASS gồm 24 vệ tinh, 8 vệ tinh cho một quỹ đạo bay gồm 3 quỹ đạo. Các vệ tinh hoạt động với quỹ đạo có độ cao 19,100 km orbits ở góc nghiêng 64.8 độ và 11 giờ 15 phút/ quỹ đạo. Mỗi vệ tinh truyền trên 2 nhóm tần số L (two L frequency groups). Nhóm L1 là tâm ở tần số 1609 MHz trong khi nhóm L2 được đăng ký ở tần số 1251MHz.

Mỗi vệ tinh truyền trên một cặp tần số duy nhất. Tín hiệu GLONASS mang cả mã P (precise (P) code) và mã C/A (coarse/acquisition (C/A) code). Mã P được mã hoá cho quân đội sử dụng trong khi đó mã C/A thì có sẵn cho công dân sử dụng. Giáo viên hướng dẫn : TS Vũ Văn Yêm Đồ án tốt nghiệp Độ phủ sóng của GLONASS Hình 1.

Độ phủ sóng của GLONASS II.Hệ thống định vị toàn cầu của Châu Âu tương lai Hệ thống định vị Galileo là một hệ thống vệ tinh định vị toàn cầu (GNSS) được xây dựng bởi Liên minh châu Âu. Galileo khác với GPS của Hoa Kỳ và GLONASS của Liên bang Nga ở chỗ nó là một hệ thống định vị được điều hành và quản lý bởi các tổ chức dân dụng, phi quân sự. Galileo theo kế hoạch sẽ chính thức hoạt động vào năm 2011-12, muộn 3-4 năm so với kế hoạch ban đầu. Hệ thống định vị Galileo được đặt theo tên của nhà thiên văn học người Ý Galileo Galilei nhằm tưởng nhớ những đóng góp của ông.Thông số của hệ thống 1.Vệ tinh - 30 vệ tinh (27 vệ tinh hoạt động chính và 3 vệ tinh dự phòng) - Độ cao quỹ đạo: 23.Dịch vụ cung cấp Bốn dịch vụ về định vị sẽ được cung cấp bởi Galileo: - Dịch vụ mở (open service): miễn phí với mọi đối tượng.

Người dùng có thể sử dụng 2 tần số L1 và E5A. Độ chính xác đối với máy thu 2 tần số là 4 m cho phương ngang và 8 m cho chiều thẳng đứng. Đối với máy thu 1 tần số (L1), độ chính xác là 15 m và 35 m, tương đương vớiGPS hiện thời. - Dịch vụ trả tiền (commercial service): giành cho các đối tượng cần có độ chính xác < 1 m với một khoản phí nhất định.

Dịch vụ này sẽ được cung cấp thông qua tần số thứ 3 (E6). - Dịch vụ cứu hộ (safety of life service): giành riêng cho cứu hộ, độ bảo mật cao, chống gây nhiễu sóng. - Dịch vụ công cộng (public regulated service): giành riêng cho chính phủ và quân đội của các nước Liên minh châu Âu. Đặc biệt bảo mật, độ tin cậy cao.

Các giai đoạn của dự án 2.Lên kế hoạch và thử nghiệm Cơ quan Vũ trụ châu Âu (ESA) đã chi khoảng 100 triệu euro cho việc lên kế hoạch, thành lập dự án. Với tổng chi phí khoảng 1,5 tỉ euro từ EUvà ESA dành cho việc phóng và đưa vào hoạt động thử nghiệm hai vệ tinh cùng với trạm thu vào tháng 1, 2006. Vệ tinh thử nghiệm 1 Giáo viên hướng dẫn : TS Vũ Văn Yêm Đồ án tốt nghiệp - Kí hiệu: GIOVE-A (tiếng Ý: Jupiter, Galileo In-Orbit Validation Element), hay GSTB-V2A (Galileo System Test Bed) - Mang theo: máy phát tín hiệu, đồng hồ nguyên tử Rubidium - Khối lượng: 600 kg - Công suất: 700 W - Kích cỡ: 1,3 m × 1,8 m × 1,65 m - Ngày phóng: 28.2005 - Tên lửa phóng: Soyus Vệ tinh thử nghiệm 2 - Kí hiệu: GIOVE-B hay GSTB-V2B - Mang theo: máy phát tín hiệu, đồng hồ nguyên tử Rubidium và Hiđrô - Khối lượng: 523 kg - Công suất: 943 W - Kích cỡ: 0,955 m × 0,955 m × 2,4 m - Ngày phóng: cuối năm 2007 - Tên lửa phóng: Soyus Trạm thu thử nghiệm - Kí hiệu: GSTB-V1 2.Hoàn thành và đưa vào hoạt động Đến năm 2010 toàn bộ hệ thống sẽ được hoàn thành: 30 vệ tinh Galileo và các trung tâm điều khiển tại mặt đất, 2 trung tâm chính tạiOberpfaffenhofen (Đức) và Fucino (Ý), 1 dự bị tại Tây Ban Nha. Chi phí cho giai đoạn này khoảng 3 tỉ euro.Các nước tham gia Ngoài các nước thuộc khối Liên minh châu Âu (EU), còn có sự tham gia của các nước khác từ nhiều châu lục như Trung Quốc, Ấn Độ, Israel, Na Uy, Brasil, Chile, Úc,.

Ứng dụng của hệ thống định vị toàn cầu III.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ