Đặt vấn đề Quá trình đầu tư dự án công trình TTĐ tại TP.HCM cũng tuân theo quy trình tương tự như các dự án XD khác. Theo Khoản 1, Điều 50 của Luật XD năm 2014, quá trình này được chia thành ba giai đoạn theo vòng đời của dự án bao gồm: giai đoạn chuẩn bị dự án, giai đoạn thực hiện dự án và giai đoạn kết thúc XD đưa công trình của dự án vào khai thác sử dụng (trừ trường hợp XD nhà ở riêng lẻ). [4] Các vấn đề RR ảnh hưởng lớn đến TĐ thực hiện dự án trong ba giai đoạn trên luôn luôn hiện diện trong mỗi dự án và gây khó khăn cho tất cả các bên liên quan. Việc xác định và đánh giá tầm quan trọng của những nguyên nhân chủ yếu làm chậm TĐ trong việc thực hiện các công trình TTĐ của thành phố là rất quan trọng để giải quyết và rút kinh nghiệm cho tương lai.
Các công trình XD tại Việt Nam nói chung và các công trình TTĐ trên địa bàn TP.HCM nói riêng luôn gặp phải những RR gây chậm trễ. Đề tài NC này sẽ tìm ra và đánh giá mức độ quan trọng của những nhân tố gây RR chậm trễ tiến thực hiện dự án. Từ đó, đề xuất giải pháp giải quyết và khắc phục những nhân tố nêu trên quá trình thực hiện dự án TTĐ tại TP.3 Mục tiêu NC Đề tài NC này nhằm giải quyết các mục tiêu quan trọng sau đây: - Xác định các nhóm nhân tố và nhân tố chính tác động lớn đến TĐ thực hiện dự án các công trình TTĐ. - Xếp hạng nhóm nhân tố chính theo mức độ tác động đến TĐ thực hiện dự án.
HVTH: NGUYỄN LÊ HY - 1970710 Trang 3 LUẬN VĂN THẠC SĨ GVHD: PGS. LƯƠNG ĐỨC LONG - XD mô hình AHP để đánh giá mức độ tác động của các nhân tố đến TĐ hoàn thành dự án công trình TTĐ tại TP. - Đề xuất các giải pháp tối ưu và hiệu quả nhằm giải quyết các nhân tố ảnh hưởng quan trọng đến TĐ thực hiện dự án.4 Phạm vi NC - Không gian NC: NC này tập trung vào nhóm dự án công trình TTĐ tại TP. - Đối tượng NC: Các cá nhân có vai trò trực tiếp trong quá trình tham gia thực hiện các dự án XD công trình TTĐ tại TP.HCM, bao gồm: cán bộ phụ trách các Ban QLDA, nhà thầu, CĐT, TVTK, TVGS.5 Ý nghĩa học thuật và thực tiễn của đề tài 1.1 Về học thuật - Tổng hợp và xác nhận kết quả của các NC trước đây về việc sử dụng mô hình AHP để phân tích những yếu tố có tác động đến TĐ thực hiện dự án TTĐ tại TP.
- Đưa ra minh chứng về tính phù hợp của mô hình AHP để áp dụng vào việc giải quyết những yếu tố ảnh hưởng đến TĐ trong suốt vòng đời dự án.2 Về thực tiễn - Đề tài NC nhằm cung cấp cho các nhà quản lý XD một cái nhìn toàn diện về những yếu tố quan trọng có tác động đến TĐ thực hiện dự án TTĐ tại TP. - Đề xuất những giải pháp cải thiện hiệu quả trong công tác quản lý TĐ dự án, nhằm giảm thiểu rủi rỏ trong quá trình triển khai và đảm bảo đúng TĐ của các dự án. HVTH: NGUYỄN LÊ HY - 1970710 Trang 4 LUẬN VĂN THẠC SĨ GVHD: PGS. LƯƠNG ĐỨC LONG CHƯƠNG 2.1 Các khái niệm, lý thuyết 2.1 TĐ thực hiện dự án đầu tư XD - Dự án đầu tư XD là một tập hợp các đề xuất liên quan đến việc sử dụng nguồn vốn để thực hiện các hoạt động XD mới, sửa chữa hoặc cải tạo công trình XD nhằm phát triển, duy trì và nâng cao chất lượng của công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời hạn và mức chi phí xác định.
[5] - TĐ thực hiện dự án XD được đo bằng thời gian thực tế hoàn thành một dự án đầu tư XD, tính từ thời điểm có chủ trương đầu tư cho đến khi quá trình nghiệm thu và bàn giao được hoàn tất, và công trình được đưa vào sử dụng. Đây là một thước đo quan trọng để đánh giá hiệu quả và thành công của dự án XD. - Thời gian thực tế hoàn thành dự án XD được tính dựa trên các hoạt động và công việc được thực hiện trong quá trình triển khai dự án. Nó bao gồm các công đoạn từ khâu chuẩn bị, thiết kế, thi công, kiểm tra và nghiệm thu, cho đến giai đoạn bàn giao và đưa vào sử dụng công trình.
Quá trình này thường được theo dõi và ghi nhận thông qua hệ thống quản lý TĐ, bao gồm lịch trình, biểu đồ Gantt, và các công cụ khác để theo dõi tiến trình thực hiện và điều chỉnh cần thiết. - Thời gian thực tế hoàn thành dự án XD có thể được ước tính và so sánh với TĐ kế hoạch ban đầu để đánh giá hiệu quả và tình hình thực hiện dự án. Nếu thời gian thực tế vượt quá kế hoạch, có thể cần thực hiện các biện pháp để điều chỉnh và tái cân nhắc lịch trình và quy trình thực hiện dự án, nhằm đảm bảo TĐ được duy trì và hoàn thành dự án một cách hiệu quả. - Trên thế giới, việc chậm trễ TĐ trong các dự án XD gây ra những tác động tiêu cực đến vấn đề tài chính và gây tranh chấp trách nhiệm giữa các bên tham gia.
Để giải quyết vấn đề này, nhiều kỹ thuật phân về sự chậm trễ TĐ đã được áp dụng, bao gồm phân tích chậm trễ thực tế, chậm trễ đồng thời, tăng thời gian hoàn thành, phân bổ nguồn lực và giảm năng suất lao động. Tuy nhiên, không có kỹ thuật nào tối ưu có thể áp dụng cho mọi dự án XD phức tạp và được chấp thuận vởi các bên liên quan. Do đó, NC tập trung vào ứng dụng các kỹ thuật phân tích chậm trễ TĐ hiện có vào 1 dự án XD cụ thể, nhằm xác định kỹ thuật phân tích lý tưởng để đạt được KQ đáng tin cậy và chính xác trong giải quyết các xung đột. KQ của NC cho thấy rằng các kỹ HVTH: NGUYỄN LÊ HY - 1970710 Trang 5 LUẬN VĂN THẠC SĨ GVHD: PGS.
LƯƠNG ĐỨC LONG thuật phân tích chậm trễ TĐ hiện nay cần được cải tiến để vượt qua hạn chế của nó. Đồng thời, các NC trong tương lai cần tìm ra và phát triển kỹ thuật hiệu quả hơn, với sự hỗ trợ của máy tính để giải quyết các vấn đề liên quan đến chậm trễ TĐ một cách toàn diện.2 Trình tự đầu tư XD Tại Điều 4 của Nghị định 15/2021/NĐ-CP được quy định như sau: Trình tự thực hiện đầu tư XD theo quy định tại Khoản 1 Điều 50 của Luật XD năm 2014 được quy định cụ thể như sau: - Giai đoạn chuẩn bị dự án gồm các công việc: Tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi (nếu có); lập, thẩm định, phê duyệt Báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư XD để xem xét, quyết định đầu tư XD và thực hiện các công việc cần thiết khác liên quan đến chuẩn bị dự án; - Giai đoạn thực hiện dự án gồm các công việc: Thực hiện việc giao đất hoặc thuê đất (nếu có); chuẩn bị mặt bằng XD, rà phá bom mìn (nếu có); khảo sát XD; lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán XD; cấp giấy phép XD (đối với công trình theo quy định phải có giấy phép XD); tổ chức lựa chọn nhà thầu và ký kết hợp đồng XD; thi công XD công trình; giám sát thi công XD; tạm ứng, thanh toán khối lượng hoàn thành; nghiệm thu công trình XD hoàn thành; bàn giao công trình hoàn thành đưa vào sử dụng; vận hành, chạy thử và thực hiện các công việc cần thiết khác; - Giai đoạn kết thúc XD đưa công trình của dự án vào khai thác sử dụng gồm các công việc: Quyết toán hợp đồng XD, bảo hành công trình XD.3 RR trong lĩnh vực XD Lĩnh vực XD là lĩnh vực chứa đựng nhiều RR chỉ xảy ra với xác suất một lần nhưng ảnh hưởng rất lớn, có những RR xảy ra lặp đi lặp lại nhiều lần với nhiều dự án khác nhau. Nhìn nhận, đánh giá và chủ động quản lý ảnh hưởng của RR sẽ đảm bảo sự thành công của dự án XD. Trong quá trình nghiên cứu về RR, khái niệm RR đang được phân ra thành hai trường phái quan tâm tới nguồn gốc, tần suất xuất hiện các RR.
Trong khi đó một trường phái quan tâm tới các kết quả RR gây ra. Dẫu vậy, dù quan tâm tới nguồn gốc hay kết quả RR gây ra thì bản chất RR cũng không có gì thay đổi. Việc quyết định HVTH: NGUYỄN LÊ HY - 1970710 Trang 6 LUẬN VĂN THẠC SĨ GVHD: PGS. LƯƠNG ĐỨC LONG tới các nội dung khi xem xét về RR phụ thuộc vào quan điểm của nhà khoa học về RR.
Trong lĩnh vực XD, có thể tổng kết ba quan điểm nghiên cứu về RR được hình thành từ khi xuất hiện thuật ngữ RR cho đến nay gồm: Quan điểm truyền thống, quan điểm trung lập và quan điểm mở rộng. (1) Quan điểm truyền thống: Theo quan điểm này, RR được nhấn mạnh tới mặt tiêu cực. RR có đặc điểm: RR là các mối nguy hiểm gây ra các thiệt hại, mất mát, suy giảm; RR gắn với các những điều không chắc chắn; RR là sự kết hợp giữa khả năng xuất hiện và hậu quả tác động của một sự kiện, một hiểm họa. (2) Quan điểm trung lập: Quan điểm này nhấn mạnh tới tính chất làm thay đổi mục tiêu của dự án.
RR có các đặc điểm: RR là sự kiện, điều kiện không chắc chắn tác động làm thay đổi các mục tiêu của dự án. Sự thay đổi mục tiêu có thể tiêu cực hoặc tích cực; RR là sự kết hợp giữa các xác suất xuất hiện một sự kiện và hậu quả ảnh hưởng của nó đến mục tiêu dự án. (3) Quan điểm mở rộng: Quan điểm này nhấn mạnh đến kết quả tích cực (các cơ hội) hoặc tiêu cực (các khó khăn) khi xuất hiện RR. Đặc điểm của RR: RR có cả 2 mặt tích cực và tiêu cực; RR có thể tính bằng xác suất, tần suất xuất hiện RR nhân với mức độ tổn thất, thiệt hại hoặc lợi ích đạt được do RR gây nên; RR là một sự kiện hoặc một tình huống không chắc chắn.
Ngày nay, khi xem xét một vấn đề, không riêng gì RR, các nhà nghiên cứu và các nhà quản lý có xu hướng xem xét trên cả hai mặt tích cực và tiêu cực. Điều này cho thấy cái nhìn lạc quan trong khoa học quản lý. [7] HVTH: NGUYỄN LÊ HY - 1970710 Trang 7 LUẬN VĂN THẠC SĨ GVHD: PGS. LƯƠNG ĐỨC LONG 2.