Giáo trình mô đun Đất trồng - Phân bón nghề Bảo vệ thực vật tại Trường Cao đẳng Gia Lai

Tài liệu mô đun đất trồng và phân bón nghề bảo vệ thực vật trình độ cao đẳng trung cấp ban hành theo Quyết định 943/QĐ-TCGDNN chuẩn đào tạo.

Trường đại học

Trường Cao đẳng Gia Lai

Chuyên ngành

Bảo vệ thực vật

Thể loại

Giáo trình

2022

55
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về giáo trình Đất trồng Phân bón Cao đẳng Gia Lai

Giáo trình Đất trồng - Phân bón là mô đun đào tạo cốt lõi thuộc chương trình cử nhân và trung cấp nghề Bảo vệ thực vật tại Trường Cao đẳng Gia Lai. Tài liệu kết hợp sâu sắc hai lĩnh vực khoa học cơ bản gồm Thổ nhưỡng học và Nông hóa học. Nội dung tài liệu làm rõ mối liên hệ hữu cơ giữa môi trường đất, nguồn dinh dưỡng phân bón và sinh trưởng của cây trồng. Đất giữ vai trò tư liệu sản xuất đặc biệt trong nông nghiệp. Đất cung cấp giá thể sinh trưởng vững chắc, nước tưới cùng khoáng chất thiết yếu cho mọi loại cây. Nghiên cứu đất trồng giúp người học nhận diện chính xác từng loại mẫu chất và nguồn gốc đá mẹ. Giáo trình phân tích cụ thể các loại đất điển hình tại Tây Nguyên như đất đỏ bazan và đất phù sa. Nắm vững bản chất đất tạo tiền đề xây dựng biện pháp bảo vệ mùa màng hiệu quả. Môn học định hình tư duy thực hành kỹ thuật bài bản cho kỹ thuật viên tương lai. Quy trình sử dụng phân bón được tiếp cận dưới góc độ hóa sinh nghiêm ngặt. Năng suất cây trồng tăng cao gắn liền với việc giữ gìn môi trường sinh thái nông nghiệp dài lâu. Tài liệu đáp ứng trọn vẹn yêu cầu chuẩn đầu ra nghề nghiệp.

1.1. Nguồn gốc đá mẹ và quá trình hình thành đất

Đất được hình thành từ quá trình phong hóa lâu đời của các loại đá mẹ tự nhiên. Các yếu tố lý học, hóa học và sinh học liên tục phá hủy khối đá rắn thành mẫu chất vụn rời. Mẫu chất chứa nguyên tố khoáng ban đầu nhưng thiếu nước, đạm cùng chất hữu cơ. Sự xuất hiện của sinh vật và vi sinh vật thúc đẩy tích lũy vật chất hữu cơ theo thời gian. Khi độ phì nhiêu xuất hiện, thực vật thượng đẳng bắt đầu cư trú và sinh sôi. Vùng đất Gia Lai nổi bật với đất nâu đỏ phát triển mạnh trên nền đá bazan cổ. Mỗi loại đá mẹ quyết định tính chất cơ lý riêng biệt của từng tầng đất trồng trọt.

1.2. Mối quan hệ giữa đất trồng phân bón và cây trồng

Cây trồng cần năm yếu tố sinh trưởng gồm ánh sáng, nhiệt độ, không khí, nước và dinh dưỡng khoáng. Đất đóng vai trò cung cấp trực tiếp độ ẩm và các ion khoáng qua hệ rễ. Phân bón bổ sung lượng dưỡng chất thiếu hụt sau mỗi chu kỳ thu hoạch mùa màng. Môn học Thổ nhưỡng kết hợp Nông hóa học chỉ dẫn cách tác động khoa học lên đất canh tác. Bón phân đúng phương pháp nâng cao sức đề kháng tự nhiên cho quần thể thực vật. Ngược lại, lạm dụng phân hóa học làm chua đất và tiêu diệt hệ vi sinh vật có ích. Sự phối hợp cân đối ba yếu tố bảo đảm hiệu quả kinh tế lâu dài cho nhà nông.

II. Vấn đề suy thoái đất trong giáo trình Đất trồng Cao đẳng Gia Lai

Canh tác nông nghiệp liên tục thường đối mặt với nguy cơ suy thoái cấu trúc đất nghiêm trọng. Quá trình làm đất không đúng kỹ thuật khiến kết cấu hạt đất bị nghiền nát vụn. Khi đất quá khô hoặc quá ẩm, cày bừa sẽ hình thành các tảng đất lớn và chai cứng. Máy móc cơ giới nặng di chuyển nhiều lần trên đồng ruộng gây nén dẽ tầng đất mặt. Tình trạng này làm giảm độ xốp, cản trở rễ cây hô hấp và hấp thu dinh dưỡng. Đất mất dần lượng mùn hữu cơ do rửa trôi bề mặt vào mùa mưa lũ kéo dài. Đồng thời, việc sử dụng đơn điệu phân vô cơ kích thích phản ứng chua hóa đất nhanh chóng. Lượng lân cố định trong đất gia tăng nhưng cây trồng không thể đồng hóa trực tiếp. Nấm bệnh hại rễ phát sinh mạnh trong điều kiện đất yếm khí ngập úng. Kết quả là cây trồng vàng lá, còi cọc và giảm khả năng chống chịu sâu bệnh hại. Giáo trình nhận định việc mất kết cấu đoàn lạp là thảm họa đối với sản xuất nông nghiệp. Năng suất sụt giảm kéo theo chi phí đầu tư phân bón ngày càng tăng cao.

2.1. Tác hại của việc phá hủy kết cấu đoàn lạp đất trồng

Kết cấu đoàn lạp quyết định trực tiếp chế độ nước và chế độ khí trong đất. Đất mất kết cấu sẽ bị đóng váng mặt sau các trận mưa rào lớn. Nước mưa không thể thấm sâu mà chảy tràn gây xói mòn lớp đất màu mỡ. Khi thời tiết nắng gắt, đất bị co ngót và nứt nẻ làm đứt hệ thống lông hút của rễ. Không khí không thể lưu thông khiến các vi sinh vật hiếu khí bị ức chế nghiêm trọng. Quá trình khử hóa học diễn ra mạnh, sinh ra các chất độc như hydro sunfua làm thối rễ. Cây trồng sinh trưởng còi cọc và dễ bị nấm bệnh tấn công hàng loạt.

2.2. Nguy cơ từ việc mất cân đối dinh dưỡng và chua hóa

Lạm dụng phân đạm và supe lân đơn trong thời gian dài khiến đất bị chua hóa trầm trọng. Nồng độ ion nhôm và sắt tự do trong dung dịch đất tăng cao gây ngộ độc rễ cây. Canxi và magie hòa tan bị rửa trôi xuống các tầng đất sâu vượt tầm rễ. Cây trồng thiếu dưỡng chất trung vi lượng dẫn đến rối loạn quá trình quang hợp sinh học. Đất chua làm giảm hoạt tính của vi khuẩn cố định đạm tự do và cộng sinh. Các loại nấm hại như Fusarium phát triển nhanh chóng gây bệnh thối rễ diện rộng. Nông sản giảm sút nghiêm trọng cả về năng suất lẫn chất lượng thương phẩm xuất khẩu.

III. Phương pháp bón phân cân đối trong nghề Bảo vệ thực vật Gia Lai

Giáo trình Đất trồng - Phân bón đề xuất hệ thống giải pháp kỹ thuật canh tác khoa học và bền vững. Biện pháp đầu tiên là làm đất hợp lý khi đất đạt độ ẩm đồng ruộng từ 60 đến 80 phần trăm. Độ ẩm chuẩn giúp các hạt đất tơi xốp thành hạt kết kích thước tối ưu từ 5 đến 10 milimét. Nhà nông cần áp dụng kỹ thuật làm đất tối thiểu để hạn chế đè nén mặt đất. Tăng cường hàm lượng mùn bằng cách bón nhiều phân chuồng ủ hoai và phân xanh mục. Nuôi thả bèo hoa dâu trên ruộng lúa nước bổ sung nguồn đạm tự nhiên dồi dào. Cải thiện thành phần cơ giới qua việc bón cát cho đất nặng hoặc bổ sung bùn ao cho đất nhẹ. Chế độ luân canh cây họ đậu giúp phục hồi độ phì và cắt đứt mầm mống sâu bệnh hại. Việc phối trộn phân lân nung chảy kiềm tính giúp khử chua và bổ sung canxi, magie cho đất dốc. Sự kết hợp hài hòa giữa cơ giới hóa và phân bón hữu cơ tạo môi trường đệm ổn định. Cây trồng sinh trưởng khỏe mạnh, tăng sức kháng dịch bệnh tự nhiên.

3.1. Kỹ thuật cải tạo kết cấu đất và tăng cường mùn

Duy trì kết cấu đất đòi hỏi tuân thủ thời điểm cày bừa khi đất vừa chín tới. Kỹ thuật xới xáo phá váng mặt ruộng sau mưa giữ cho tầng đất mặt luôn thông thoáng. Bón phân hữu cơ định kỳ là giải pháp cốt lõi để nâng cao tỷ lệ mùn trong đất. Nông dân có thể vùi gốc rạ hoặc gieo trồng các giống cây họ đậu làm phân xanh cải tạo. Đất quá nhẹ cần bổ sung bùn ao và đất phù sa màu mỡ để tăng khả năng giữ nước. Đất quá nặng được xử lý bằng cách bón cát kết hợp làm ải triệt để. Đất giàu mùn sẽ giữ ẩm tốt và kích thích vi sinh vật có lợi phát triển.

3.2. Lựa chọn và sử dụng phân lân phù hợp với từng chất đất

Giáo trình phân tích rõ đặc tính kỹ thuật giữa supe lân và phân lân nung chảy. Supe lân đơn chứa từ 12 đến 18 phần trăm anhydrit photphoric dễ tan, phù hợp đất kiềm nhẹ. Phân lân nung chảy Tecmo photphat có tính kiềm, chứa nhiều canxi, magie cùng silic hữu ích. Loại phân này ít tan trong nước nhưng tan tốt trong axit yếu do đầu rễ tiết ra. Vì vậy phân nung chảy phát huy hiệu lực cao nhất trên đất chua trũng và đất đồi dốc bazan. Phân bón không bị rửa trôi giúp cây trồng hấp thu từ từ trong suốt chu kỳ sinh trưởng. Sử dụng đúng loại lân giúp hạ độc phèn và tối ưu chi phí phân bón.

IV. Ứng dụng giáo trình Đất trồng Phân bón vào thực tiễn sản xuất

Môn học Đất trồng - Phân bón mang lại giá trị thực tiễn to lớn cho học sinh sinh viên Cao đẳng Gia Lai. Kiến thức bài bản hỗ trợ kỹ thuật viên chẩn đoán chính xác sức khỏe đất canh tác tại địa phương. Việc thiết kế chế độ luân canh xen canh hợp lý giúp nâng cao năng suất cây trồng vượt trội. Theo kết quả từ Viện Lúa Quốc tế, việc luân canh lúa màu làm tăng sản lượng thu hoạch rõ rệt. Sinh viên tốt nghiệp nghề Bảo vệ thực vật có khả năng hướng dẫn nông dân sử dụng phân bón tiết kiệm. Điều này trực tiếp hạn chế ô nhiễm môi trường đất và nguồn nước ngầm nông thôn. Quá trình kiểm soát độ phì nhiêu tạo môi trường bất lợi cho sâu hại và nấm khuẩn lưu tồn. Sản phẩm nông sản thu hoạch đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn an toàn sinh học VietGAP. Kiến thức nông hóa học hiện đại thúc đẩy chuyển đổi nền nông nghiệp sang hướng hữu cơ tuần hoàn. Giáo trình khẳng định vai trò tiên quyết của khoa học đất đối với an ninh lương thực. Đây là cẩm nang nghề nghiệp then chốt cho sự phát triển nông nghiệp Tây Nguyên.

4.1. Nâng cao năng lực chuyên môn nghề Bảo vệ thực vật

Người học được trang bị tư duy liên ngành giữa dinh dưỡng đất và dịch tễ học cây trồng. Việc thấu hiểu tình trạng thiếu hụt hay dư thừa khoáng chất giúp chẩn đoán bệnh phi ký sinh chuẩn xác. Cán bộ kỹ thuật dễ dàng phân biệt hiện tượng vàng lá do thiếu đạm với triệu chứng do virus gây ra. Kỹ năng phân tích chất đất hỗ trợ xây dựng phác đồ bón phân cân đối cho từng giai đoạn sinh trưởng. Sinh viên sau khi ra trường tự tin vận hành các dự án trang trại công nghệ cao tại Gia Lai. Năng lực thực nghiệm vững vàng đáp ứng tiêu chuẩn tuyển dụng khắt khe của doanh nghiệp nông nghiệp.

4.2. Phát triển nền nông nghiệp sinh thái bền vững tại Gia Lai

Ứng dụng nguyên lý nông hóa học góp phần giải quyết bài toán suy thoái đất đỏ bazan vùng Tây Nguyên. Các biện pháp phủ xanh đất trống bằng cây phân xanh giảm thiểu tối đa hiện tượng xói mòn rửa trôi. Tận dụng phụ phẩm nông nghiệp ủ phân vi sinh giúp cắt giảm chi phí phân hóa học nhập khẩu đắt đỏ. Hệ sinh thái vi sinh vật bản địa được phục hồi giúp ức chế tự nhiên các loài nấm bệnh nguy hiểm trong đất. Nông sản địa phương như cà phê, hồ tiêu và chè nâng cao chất lượng hạt thương phẩm. Mô hình nông nghiệp tuần hoàn đem lại giá trị kinh tế bền vững cho toàn vùng.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

22/10/2026
Mo dun dat trong phan bon nghe bao ve thuc vat trinh do cao dangtrung cap ban hành kèm theo quyết dinh sé 943od tcdgl ngay 25 thang 10 nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI TRƢỜNG CAO ĐẲNG GIA LAI GIÁO TRÌNH MÔ ĐUN: ĐẤT TRỒNG – PHÂN BÓN NGHỀ: BẢO VỆ THỰC VẬT TRÌNH ĐỘ: CAO ĐẲNG/TRUNG CẤP (Ban hành kèm theo Quyết định số 943/QĐ-TCĐGL ngày 25 tháng 10 năm 2022 của Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Gia Lai) TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN Gia Lai, năm 2022 1 TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN Tài liệu này thuộc loại sách giáo trình nên các nguồn thông tin có thể được phép dùng nguyên bản hoặc trích dùng cho các mục đích về đào tạo và tham khảo. Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích kinh doanh thiếu lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm. 2 LỜI NÓI ĐẦU Môn học Đất và Phân bón là môn học nghiên cứu về đất trồng, phân bón và mối quan hệ của chúng với cây trồng nhằm mục đích, trồng trọt luôn đạt được năng suất, chất lượng nông sản và hiệu quả sản xuất cao đồng thời ổn định môi trường nông nghiệp. Đây là môn học tổng hợp các kiến thức của hai chuyên ngành khoa học:Thổ nhưỡng học là khoa học nghiên cứu về đất trồng và Nông hoá học là khoa học nghiên cứu mối quan hệ giữa cây trồng, đất và phân bón về phương diện hoá học.

Vì vậy các kiến thức được trình bày trong môn học này chỉ là những kiến thức thiết yếu nhất về Thổ nhưỡng học và Nông hoá học, trực tiếp liên quan đến hai đối tượng chính của môn học là đất và phân bón. 3 Bài 1: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH ĐẤT 1. Khái niệm về đất 1. Khái niệm Trên mặt địa cầu có nơi là một khối rắn chắc, có nơi là bãi cát mênh mông hoang mạc, có nơi cây cối mọc xanh tươi bát ngát.

Loài người gọi vùng thứ nhất là đá (nham thạch), vùng thứ hai là sa mạc và vùng thứ ba là thổ nhưỡng. Như vậy thổ nhưỡng là đất mặt tơi xốp của vỏ lục địa, có độ dầy khác nhau, có thể sản xuất ra những sản phẩm của cây trồng. Nguồn gốc của đất là từ các loại "đá mẹ ”nằm trong thiên nhiên lâu đời bị phá huỷ dần dần dưới tác dụng của yếu tố lý học, hoá học và sinh học. Tiêu chuẩn cơ bản để phân biệt giữa "đá mẹ" và đất là độ phì nhiêu, nếu chưa có độ phì nhiêu, thực vật thượng đẳng chưa sống được thì chưa gọi là thổ nhưỡng.

Nguồn gốc và thành phần cơ bản của đất Các loại đá nằm trong thiên nhiên chịu tác dụng lý học, hoá học và sinh học dần dần bị phá huỷ thành một sản phẩm được gọi là mẫu chất. Trong mẫu chất mới chi có các nguyên tố hoá học chứa trong đá mẹ sinh ra nó, còn thiếu một số thành phần quan trọng như chất hữu cơ, đạm, nước. vì thế thực vật thượng đẳng chưa sống được. Trải qua một thòi gian dài nhờ tác dụng của sinh vật tích luỹ được chất hữu cơ và đạm, thực vật thượng đẳng sống được, có nghĩa là đã hình thành thổ nhưỡng.

Như vậy có thể nói nguồn gốc ban đầu của đất là từ đá mẹ. Thí dụ ở nước ta có đất nâu đỏ trên đá bazan, đất nâu đỏ trên đá vôi, đất vàng đỏ trên phìến thạch sét. Đất là cơ sở sinh sống và phát triển thực vật, là tƣ liệu sản xuất cơ bản của nông nghiệp Đặc điểm cơ bản của sản xuất nông nghiệp là tạo ra chất hữu cơ trong đó có sản xuất thực vật. Trong cuộc sống thực vật cần có đủ 5 yếu tố là ánh sáng (quang năng), nhiệt lượng (nhiệt năng), không khí (02 và C02), nước và thức ăn khoáng.

Trong đó 3 yếu tố đầu do thiên nhiên cung cấp (yếu tố vũ trụ), nước vừa do thiên nhiên vừa do đất cung cấp, còn thức ăn khoáng gồm rất nhiều nguyên tố như N, P, K, S, Ca, Mg và các nguyên tố vi lượng là do đất cung cấp. Như vậy những năm thòi tiết khí hậu bình thường, trong điều kiện cùng một loại giống và trình độ canh tác tương tự thì năng suất cây trồng trên các loại đất cao hay thấp nói chung phụ thuộc 4 vào khả năng cung cấp thức ăn của đất. Ngoài ra đất còn là nơi để cho cây cắm rễ, "bám trụ" không bị nghiêng ngả khi mưa to gió lớn. Sản xuất nông nghiệp bao gồm 2 nội dung lớn là: sản xuất thực vật (trồng trọt) và sản xuất động vật (chăn nuôi).

Chúng ta biết rằng nếu không có thực vật hút thức ăn trong đất qua tác dụng quang hợp biến thành chất hữu cơ thực vật thì động vật không thể có nguồn năng lượng cần thiết để duy trì cuộc sống của chúng. Bởi vậy đất không những là cơ sở sản xuất thực vật mà còn là cơ sở để sản xuất động vật. Trồng trọt phát triển thì chăn nuôi cũng phát triển. Khái niệm về quá trình hình thành đất Sự hình thành đất là những quá trình biến đổi phức tạp của vật chất diễn ra ở lớp ngoài cùng của vỏ Trái Đất do sự tác động của các yếu tố tự nhiên và nhân tạo.

Sự tác động của các yếu tố làm cho khoáng vật và đá bị phá huỷ tạo thành mẫu chất. Sinh vật tác động lên mẫu chất làm cho mẫu chất được tích luỹ chất hữu cơ, dần dần biến đổi tạo nên thể vật chất gọi là đất. Đất là một sản phẩm đặc biệt được hình thành do sự tác động của khí quyển, thuỷ quyển, sinh quyển, năng lượng bức xạ mặt trời lên bề mặt thạch quyển (vỏ Trái Đất) 2. Quá trình phong hoá đá Quá trình phong hoá đá là quá trình phá huỷ đá và các khoáng vật chứa trong đá dưới tác động của các yếu tố ngoại cảnh, tạo ra các sản phẩm phong hoá hay còn gọi là vỏ phong hoá.

Xét trên khía cạnh quá trình phong hoá vỏ trái đất, từ trên xuống sâu sẽ có các lớp sau: đất - mẫu chất - sản phẩm phong hoá của đá - đá mẹ. Dựa vào tính chất của quá trình phong hoá, người ta phân ra ba loại phong hoá đá là: phong hoá lý học, phong hoá hoá học và phong hoá sinh học. Các quá trình phong hoá Dưới sự tác động của nước, các chất khí như 02, C02. và nguồn năng lượng bức xạ mặt trời, các khoáng vật và đá lộ ra ở phía ngoài cùng của vỏ Trái Đất.

Quá trình phá huỷ khoáng vật và đá được gọi là quá trình phong hoá. Có 3 loại phong hoá đá và khoáng vật là phong hoá vật lý, phong hoá hoá học và phong hoá sinh học. Sự phân chia các loại phong hoá chi là tương đối vì trong thực tế các yếu tố ngoại cảnh đồng thời tác động lên đá và khoáng vật, do vậy 3 loại phong hoá đồng thời cùng diễn ra. Các quá trình phong hoá liên quan mật thiết và hỗ trợ cho nhau, tuỳ điều kiện cụ thể mà một trong 3 quá trình xảy ra mạnh hơn.

Phong hoá vật lý Phong hoá vật lý là sự vỡ vụn của các loại đá thành các hạt cơ giới có kích thước khác nhau nhưng chưa có sự thay đổi về thành phần khoáng vật, thành phần hoá học của các đá ban đầu. 5 Nguyên nhân gây nên việc phá vỡ khoáng vật và đá là do sự thay đổi của nhiệt độ, áp suất và sự tác động của các hoạt động địa chất ngoại lực nhu nuớc chảy, gió thổi xảy ra trên bề mặt vỏ Trái Đất. Sự thay đổi nhiệt độ làm cho các khoáng vật có trong đá bị giãn nở không đều dẫn đến kết quả đá bị vỡ ra. Các mảnh vụn sinh ra có thể di chuyển đi noi khác theo dòng nuớc chảy hoặc gió thổi sẽ phá huỷ các đá trên đuờng di chuyển của chúng.

Phong hoá vật lý có tính chất tiên phong, tạo điều kiện thuận lợi cho phong hoá hoá học và sinh học. Phong hoá hoá học Do sự tác động của H2O, O2, CO2. các khoáng vật và đá bị phá huỷ, thay đổi về hình dạng, kích thuớc, thành phần và tính chất hoá học. Có thể nói, phong hoá hoá học chính là các phản ứng hoá học diễn ra do sự tác động của H2O, O2, CO2 lến đá và khoáng vật.

Phong hoá hoá học đuợc chia thành 4 quá trình chính là: Ôxy hoá, hyđrat hoá, hoà tan và sét hoá. + Quá trình ôxy hoá: Quá trình này phụ thuộc chặt chẽ vào sự xâm nhập của ôxy tự do trong không khí và 02 hoà tan trong nuớc. Quá trình ôxy hoá làm cho khoáng vật và đá bị biến đổi, bị thay đổi về thành phần hoá học. + Quả trình hyđrat hoá: Là quá trình nuớc tham gia vào mạng luới tinh thể của khoáng vật, thực chất đây là quá trình nuớc kết hợp với khoáng vật làm thay đổi thành phần hoá học của khoáng vật.

+ Quá trình hoà tan: Là quá trình các khoáng vật và đá bị hoà tan trong nuớc. Hầu nhu tất cả các khoáng vật và đá bị hoà tan trong nuớc, nhưng mạnh nhất là các khoáng vật của lớp cácbônát và lớp muối mỏ. + Qủa trình sét hoá Các khoáng vật silicat, nhôm silicat do tác động của H20, C02 sẽ bị biến đổi tạo thành các khoáng sét (keo sét). Các chất kiềm và kiềm thổ trong khoáng vật bị H chiếm chỗ trong mạng lưới tinh thể được tách ra dưới dạng hoà tan.

Như vậy thực chất của quá trình sét hoá là các quá trình hoà tan, hyđrát hoá chuyển các khoáng vật silicát, nhôm silicat thành các khoáng vật thứ sinh, các muối và oxýt. Phong hoá sinh học 6 Hoạt động của sinh vật bậc thấp, bậc cao cũng tham gia phá huỷ các khoáng vật và đá. Rễ cây xuyên vào các khe nứt hút nước và các chất khoáng, theo thời gian, rễ to dần phá vỡ đá. Mặt khác rễ cây tiết H20 và C02 tạo H2C03 để hoà tan đá và khoáng vật.

Khi chết xác sinh vật bị phân huỷ sinh ra các axit hữu cơ góp phần hoà tan các khoáng vật và đá. Do vậy, bản chất của phong hoá sinh học là phong hoá vật lý và hoá học do sự tác động của sinh vật lên khoáng vật và đá. Cũng trong quá trình này mẫu chất được tích luỹ chất hữu cơ do xác sinh vật để lại sau khi chết, làm cho mẫu chất xuất hiện những thuộc tính mới được gọi chung là độ phì và mẫu chất biến đổi thành đất. Các yếu tố tác động đến quá trình hình thành đất Năm 1883, nhà bác học người Nga V.Docuchaev cho rằng đất được hình thành do sự tác động tổng hợp của 5 yếu tố: Đá mẹ, sinh vật, khí hậu, địa hình và thời gian.

Sự tác động của các yếu tố trên quyết định và chi phối các quá trình hình thành và biến đổi diễn ra trong đất để hình thành nên các loại đất khác nhau.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ