CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THÔNG TIN KẾ TOÁN, BCTC KHU VỰC CÔNG VÀ VẤN ĐỀ MINH BẠCH THÔNG TIN KẾ TOÁN KHU VỰC CÔNG 1.1 Tổng quan về thông tin kế toán Kế toán là nghệ thuật thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin về toàn bộ tài sản và sự vận động của tài sản (hay là toàn bộ thông tin về tài sản và các hoạt động kinh tế tài chính) trong đơn vị. Kế toán được phân loại gồm kế toán tài chính và kế toán quản trị. Tuy nhiên, trong giới hạn phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả chỉ tập trung vào kế toán tài chính. Do đó, thông tin kế toán được hiểu là những thông tin xảy ra trong quá khứ được kế toán ghi nhận sao cho đảm bảo tính khách quan và có thể kiểm tra được.
Thông tin kế toán chỉ được theo dõi dưới hình thái giá trị (Cao Xuân Hợp, 2015). Để cung cấp thông tin thật sự hữu dụng và liên quan đến việc quản lý tài chính trên quy mô toàn đơn vị, cần có một số công cụ theo dõi những hoạt động hàng ngày của đơn vị, trên cơ sở đó tổng hợp các kết quả thành các bản báo cáo kế toán. Thông tin kế toán được cung cấp, dựa trên việc tôn trọng các nguyên tắc kế toán được thừa nhận và được sử dụng phổ biến trong quá trình thu thập và xử lý. Nói cách khác kế toán phải đảm bảo tính thống nhất theo các nguyên tắc và chuẩn mực kế toán nhất định để mọi người có cách hiểu giống nhau về thông tin kế toán đặc biệt là báo cáo tài chính.
Đồng thời phải tuân thủ các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là những yêu cầu quản lý tài chính và các yêu cầu của xã hội thông qua việc công bố những số liệu mang tính bắt buộc (Gelinas, Sutton & Oram, 1999).2 Tổng quan về báo cáo tài chính khu vực công 1.1 Khái niệm về báo cáo tài chính khu vực công Theo International Public Sector Accounting Standards Board (IPSASB) (2013), BCTC của khu vực công là một trình bày có cấu trúc về tình hình tài chính và hoạt động của một đơn vị. Mục tiêu của báo cáo tài chính dành cho khu vực công 123doc 16 là cung cấp thông tin về tình hình tài chính, hoạt động tài chính, lưu chuyển tiền của một tổ chức cho một loạt người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định và đánh giá phân bổ nguồn lực. Theo IPSASs phân biệt 2 loại BCTC khu vực công, đó là: BCTC cho mục đích chung và BCTC cho mục đích đặc biệt.1 Bảng so sánh BCTC cho mục đích chung và BCTC cho mục đích đặc biệt Nội dung BCTC cho mục đích chung BCTC cho mục đích đặc biệt so sánh Tất cả những đối tượng có nhu cầu sử Tất cả những đối tượng có khả dụng thông tin mà không có khả năng năng hoặc quyền lực yêu cầu Đối hoặc quyền lực yêu cầu đơn vị công đơn vị công cung cấp thông tin tượng sử cung cấp thông tin. Người sử dụng có nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng dụng thể là: công dân, đại diện dân cử, các thông tin riêng, như: cơ quan thông tin đối tượng công chúng khác.
thuế, cơ quan quản lý NSNN, đơn vị cấp trên, kiểm toán, ngân hàng, … Cung cấp thông tin hữu ích cho việc Cung cấp thông tin hữu ích Mục tiêu ra quyết định và giải trình. cho các mục đích riêng. Tùy BCTC theo từng đối tượng sẽ có mục đích khác nhau. Thông BCTC cung cấp các thông tin sau: Thông tin cung cấp trên BCTC tin cung Tình hình hoạt động, Tình hình tài không theo khuôn mẫu định cấp & số chính, Sự thay đổi tài sản thuần, sẵn.
Tùy theo nhu cầu của lượng Dòng tiền, Thông tin giải trình và người sử dụng BCTC sẽ cung BCTC thuyết minh bổ sung. cấp thông tin phù hợp. 123doc 17 Các thông tin này được trình bày trên 5 báo cáo: Báo cáo kết quả hoạt động, Báo cáo tình hình tài chính, Báo cáo sự thay đổi của tài sản thuần, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, Bảng thuyết minh BCTC. Sự tuân Bắt buộc tuân thủ chuẩn mực nghề Tùy theo quy định mỗi quốc thủ nghiệp và nguyên tắc kế toán.
Nhưng xu hướng không chuẩn IPSASs và hầu hết các chuẩn mực kế bắt buộc tuân thủ toàn bộ. mực & toán công tại các quốc gia trên thế nguyên giới ban hành để phục vụ cho việc tắc kế cung cấp thông tin BCTC mục đích toán chung. Mức độ Bắt buộc công bố công khai rộng rãi, Không bắt buộc công khai công minh bạch cho các đối tượng sử rộng rãi. Chỉ cung cấp cho khai dụng.
đúng đối tượng yêu cầu. BCTC Nguồn: Nguyễn Thị Thu Hiền (2015) Theo nghiên cứu “Hoàn thiện BCTC khu vực công Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền (2015), tại Việt Nam hiện nay các đơn vị công, trong đó có các trường Đại học công lập chưa phân biệt BCTC mục đích chung và BCTC cho mục đích đặc biệt. BCTC công hiện nay vừa cung cấp thông tin cho mục đích chung và vừa cung cấp cho mục đích đặc biệt. Tuy nhiên, phần lớn các thông tin phục vụ cho việc quyết toán ngân sách mà không công bố rộng rãi cho công chúng.
Vậy có thể hiểu BCTC công ở Việt Nam là BCTC cho mục đích đặc biệt.2 Mục đích của BCTC cho mục đích chung của khu vực công Theo IPSASs (2015), mục tiêu của BCTC cho mục đích chung của khu vực công là cung cấp thông tin hữu ích cho việc đưa ra quyết định và để minh chứng cho trách nhiệm của đơn vị cho các nguồn lực được giao phó bằng cách: - Cung cấp thông tin về các nguồn, phân bổ và việc sử dụng nguồn lực tài chính. - Cung cấp thông tin về cách thức tổ chức tài trợ các hoạt động của mình và đáp ứng yêu cầu tiền mặt. - Cung cấp thông tin hữu ích trong việc đánh giá khả năng tài chính hoạt động của mình để đáp ứng nợ và cam kết. - Cung cấp thông tin về tình trạng tài chính của đơn vị và những thay đổi.
- Cung cấp thông tin tổng hợp hữu ích trong việc đánh giá hiệu suất của đơn vị về chi phí dịch vụ, hiệu quả và thành tựu. Báo cáo tài chính cũng giữ vai trò dự báo, cung cấp thông tin hữu ích trong việc dự đoán nguồn lực cần thiết để tiếp tục hoạt động và những rủi ro , sự không chắc chắn có liên quan. Báo cáo tài chính cung cấp cho người sử dụng các thông tin: + Cho biết thu và sử dụng nguồn lực có phù hợp với quy định ngân sách? + Cho biết liệu các nguồn lực có được sử dụng phù hợp với các yêu cầu pháp lý và hợp đồng bao gồm giới hạn tài chính được thiết lập bởi các cơ quan lập pháp. + Để đạt được những mục tiêu trên, báo cáo tài chính phải cung cấp thông tin về tài sản, nợ phải trả, tài sản thuần, thu nhập, chi phí, thay đổi trong tài sản thuần, vốn chủ sở hữu và lưu chuyển tiền tệ.
Theo IFAC (2014), sự thiếu minh bạch và trách nhiệm giải trình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiệu quả thị trường vốn, ổn định tài chính toàn cầu và tính bền vững lâu dài. Vì vậy IFAC liên tục thúc đẩy sự cần thiết phải tăng cường tính 123doc 19 minh bạch và trách nhiệm giải trình trong khu vực công của các quốc gia trên thế giới và các quốc gia đang phát triển (Nguyễn Thị Thu Hiền, 2015).3 Những vấn đề chung về báo cáo tài chính công 1.1 Cấu trúc của một BCTC công Theo International Public Sector Accounting Standards Board (2015), BCTC khu vực công gồm các biểu mẫu: 1.1 Báo cáo tình hình tài chính của các đơn vị Theo IPSAS 1 – Trình bày BCTC (Presentation of Financial Statements), bộ BCTC gồm: Báo cáo tình hình tài chính (Statement of Financial position), Báo cáo kết quả hoạt động (Statement of Financial performance), Báo cáo thay đổi tài sản thuần (Statement of Changes in Net Asset/Equity), Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (Cash Flow Statement), Thuyết minh (Notes) và Đối chiếu giữa Ngân sách và Khoản trích trước, khi ngân sách được phê duyệt (When the entity makes it approved budget publicly available, a comparison of budget and accrual amounts). Báo cáo tình hình tài chính của đơn vị được quy định trong IPSAS 1 bao gồm các khoản mục: Tài sản: trong đó có tài sản ngắn hạn và dài hạn. Tài sản ngắn hạn bao gồm tiền và các khoản tương đương tiền, khoản phải thu, hàng tồn kho, khoản trả trước, tài sản ngắn hạn khác.
Tài sản dài hạn gồm: các khoản phải thu, các khoản đầu tư vào vào đơn vị liên kết, tài sản tài chính khác, cơ sở hạ tầng, nhà máy và thiết bị, đất đai và tài sản vô hình, tài sản phi tài chính khác. Nợ phải trả: gồm nợ ngắn hạn và các khoản nợ không phải ngắn hạn. Nợ ngắn hạn gồm các khoản mục phải trả ngắn hạn, vay ngắn hạn, khoản nợ đến hạn của khoản vay dài hạn, dự phòng ngắn hạn, nợ người lao động, lương hưu. Các khoản nợ không phải ngắn hạn gồm các khoản phải trả dài hạn, vay dài hạn, dự phòng dài hạn, nợ người lao động dài hạn.
123doc 20 Tài sản thuần: gồm các khoản mục vốn góp từ các cơ quan Chính phủ khác, dự trữ thặng dư (thâm hụt) tích lũy, lợi ích cổ đông thiểu số. Theo IPSAS 1, Báo cáo tình hình tài chính này trình bày nội dung cho 2 năm liên tiếp. Vì vậy có được sự so sánh, đối chiếu giữa các năm. Có thể thấy rằng, có sự tương đồng giữa báo cáo tình hình tài chính của khu vực công theo IPSASB và của doanh nghiệp.2 Báo cáo hoạt động tài chính của đơn vị a.
Báo cáo hoạt động tài chính phân loại theo chức năng của chi phí Báo cáo ghi nhận doanh thu gồm các khoản thu: thuế, phí, khoản phạt, thu nhập về hoạt động ngoại tệ, các nguồn vốn được chuyển từ các đơn vị khác,. Chi phí được ghi nhận gồm: chi cho hoạt động của đơn vị, chi quốc phòng và an ninh của đơn vị, chi cho giải trí, văn hóa,. Ngoài ra còn bao gồm phần chia chi phí, thặng dư và thâm hụt cho đơn vị liên kết và phân bổ cho chủ sở hữu của đơn vị kiểm soát, lợi ích của cổ đông thiểu số (Trần Minh Dạ Hạnh, 2014). Báo cáo hoạt đông tài chính phân loại theo bản chất của chi phí Báo cáo này ghi nhận các khoản doanh thu tương tự như báo cáo theo chức năng chi phí.
Riêng chi phí được phân loại gồm: chi phí về lương, lợi ích của người lao động, tiền thưởng và các khoản chuyển giao, khấu hao,.