Mạng Lưới Xã Hội Của Phụ Nữ Trong Gia Đình Làm Nghề Biển Tại Thành Phố Quy Nhơn

Nghiên cứu mạng lưới xã hội của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển tại Quy Nhơn, Bình Định, khám phá vai trò và ảnh hưởng của họ.

Trường đại học

Học Viện Khoa Học Xã Hội

Chuyên ngành

Xã Hội Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2018

205
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

1.2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

1.3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án

1.4. Phƣơng pháp luận của luận án

1.5. Đóng góp mới về khoa học của luận án

1.6. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận án

1.7. Cấu trúc của luận án

2. CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

2.1. Những chủ đề nghiên cứu về mạng lƣới xã hội

2.2. Những chủ đề nghiên cứu mạng lƣới xã hội của phụ nữ

3. CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

3.1. Các khái niệm đƣợc sử dụng trong luận án

3.2. Một số lý thuyết đƣợc sử dụng trong luận án

3.3. Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu và khung phân tích vấn đề của luận án

3.4. Khái quát địa bàn nghiên cứu

4. CHƢƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM MẠNG LƢỚI XÃ HỘI CỦA PHỤ NỮ TRONG GIA ĐÌNH LÀM NGHỀ BIỂN Ở THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

4.1. Quy mô mạng lƣới xã hội của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển

4.2. MLXH của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển thông qua các mối quan hệ. Mức độ quan trọng của mạng lƣới xã hội và cách thức phát triển mạng lƣới xã hội của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển

5. CHƢƠNG 4: VAI TRÒ CỦA MẠNG LƢỚI XÃ HỘI ĐỐI VỚI PHỤ NỮ TRONG GIA ĐÌNH LÀM NGHỀ BIỂN Ở THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN MẠNG LƢỚI XÃ HỘI

5.1. Vai trò của mạng lƣới xã hội đối với phụ nữ trong gia đình làm nghề biển

5.2. Tác động tiêu cực của mạng lƣới xã hội đối với phụ nữ trong gia đình làm nghề biển

5.3. Các yếu tố ảnh hƣởng đến mạng lƣới xã hội của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Mạng Lưới Xã Hội Phụ Nữ Nghề Biển Quy Nhơn

Mạng lưới xã hội (MLXH) ngày càng được chú ý trong phát triển kinh tế xã hội và con người. Các mối quan hệ, tương tác giữa cá nhân, nhóm, cộng đồng đóng vai trò quan trọng. MLXH giúp cải thiện cuộc sống, tạo dựng gia đình và sinh kế bền vững, đặc biệt với phụ nữ làm nghề biển. MLXH thúc đẩy cơ hội thành công. Phụ nữ nghề biển phụ thuộc vào tài nguyên ven biển. Việc làm của họ dựa vào khai thác tài nguyên ven bờ, thường là thời vụ, không ổn định, thu nhập bấp bênh và rủi ro cao. Điều này khiến họ dễ rơi vào nghèo khổ và trở thành nhóm dễ bị tổn thương. Cần phát huy vai trò của MLXH để hỗ trợ sinh kế bền vững cho họ.

1.1. Tầm quan trọng của mạng lưới hỗ trợ phụ nữ ngành biển

Phụ nữ trong gia đình làm nghề biển thường gánh vác nhiều công việc. Họ thay người đi biển chăm sóc gia đình, nuôi dạy con cái, lo việc dòng họ và cộng đồng. Duy trì MLXH với các mối gắn kết cá nhân, gia đình, cộng đồng là rất cần thiết. Nó tạo cơ hội cho phụ nữ nhận hỗ trợ, giải quyết khó khăn, thực hiện tốt vai trò trong gia đình và cộng đồng. Các thành viên trong MLXH như gia đình, họ hàng, hàng xóm, bạn bè, các tổ chức xã hội có thể chung tay giúp sức. Tiếp cận các chính sách xã hội cũng là nguồn hỗ trợ lớn về vật chất, tinh thần và sinh kế.

1.2. Rủi ro và thách thức đối với phụ nữ làm nghề biển

Vùng ven biển thường gặp nhiều rủi ro liên quan đến thời tiết, môi trường. Quy Nhơn hứng chịu nhiều bão lớn, gây tổn thất nghiêm trọng đến tính mạng và tài sản. Mất mát về người là tổn thất lớn nhất. Rủi ro này có tác động lâu dài đến cuộc sống khó khăn của phụ nữ. Cần có sự chung tay giúp sức từ các thành viên trong MLXH để họ sớm ổn định cuộc sống. Nghiên cứu về MLXH là rất cần thiết ở Việt Nam, cả về lý luận và thực tiễn. Cần bổ sung những mô tả chi tiết về đặc điểm của MLXH và phân tích chuyên sâu về vai trò của nó.

II. Thách Thức và Cơ Hội Phát Triển Mạng Lưới Phụ Nữ Quy Nhơn

Nghiên cứu về MLXH đã có hệ thống lý luận rõ ràng, nhưng cần bổ sung nghiên cứu thực nghiệm. Cần có những mô tả chi tiết về đặc điểm của MLXH. Phân tích chuyên sâu về vai trò của MLXH trên tất cả các mặt của đời sống cá nhân, cũng như chỉ ra các tác động tiêu cực của mạng lưới đến cá nhân. Tìm ra những nhân tố tác động đến MLXH (cả yếu tố cá nhân và các yếu tố bên ngoài) là vô cùng quan trọng. Qua đó có thể thấy MLXH là một yếu tố động có thể bị tác động bởi nhiều yếu tố khác nhau và dẫn đến sự biến đổi trong mạng lưới.

2.1. Nghiên cứu thực nghiệm về mạng lưới xã hội phụ nữ

Để khắc phục những khoảng trống nghiên cứu thực nghiệm về MLXH, cần thực hiện đề tài “MLXH của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển: nghiên cứu trường hợp tại thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định”. Đề tài này sẽ mô tả chi tiết đặc điểm của MLXH, chỉ rõ cách phát triển MLXH cùng những cơ hội, thách thức bộc lộ. Phân tích MLXH và những tác động của nó trên thực tế đối với phụ nữ. Những tác động tiêu cực từ MLXH đối với phụ nữ. Những nhân tố tác động đến MLXH của phụ nữ. Việc làm rõ những vấn đề trên về MLXH chính là cơ sở khoa học chứng minh sự cần thiết trong việc tìm hiểu các chiều cạnh về MLXH của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển ở thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định hiện nay.

2.2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu mạng lưới phụ nữ ngành biển

Luận án tập trung phân tích MLXH của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển và các yếu tố ảnh hưởng qua nghiên cứu trường hợp ở thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Từ đó cung cấp luận cứ khoa học nhằm hỗ trợ phát triển sinh kế bền vững cho phụ nữ trong gia đình làm nghề biển. Nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm: Tổng quan tình hình nghiên cứu về MLXH. Xây dựng cơ sở lý luận nghiên cứu về MLXH: tìm hiểu và phân tích các lý thuyết có liên quan đến luận án, trong đó tập trung vào ba lý thuyết cơ bản: Lý thuyết mạng lưới xã hội, lý thuyết vốn xã hội và lý thuyết tương tác biểu trưng. Làm rõ khái niệm MLXH và các khái niệm liên quan như vốn xã hội, phụ nữ trong gia đình làm nghề biển, sinh kế.

III. Đặc Điểm Mạng Lưới Xã Hội Của Phụ Nữ Nghề Biển Quy Nhơn

Luận án tập trung nghiên cứu MLXH của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển ở các khía cạnh: đặc điểm của MLXH, vai trò của MLXH; các yếu tố ảnh hưởng đến MLXH. Phạm vi nghiên cứu giới hạn về khách thể nghiên cứu chính là 400 phụ nữ đại diện hộ gia đình làm nghề biển. Luận án được phân tích trên cơ sở của 400 mẫu khảo sát này, do vậy các đặc điểm MLXH của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển chính là đặc điểm của người được hỏi mà chưa phải là toàn bộ phụ nữ (bà, mẹ, con gái, cháu gái...) trong các gia đình làm nghề biển tại thành phố Quy Nhơn.

3.1. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu mạng lưới phụ nữ

Khách thể bổ trợ của luận án: Các thành viên trong gia đình, họ hàng, hàng xóm, bạn bè và các tổ chức xã hội chính thức, các tổ chức xã hội tự nguyện, các doanh nghiệp, công ty ở địa bàn nghiên cứu. Giới hạn về thời gian nghiên cứu Luận án được nghiên cứu trong khoảng thời gian từ tháng 8 năm 2014 đến tháng 8 năm 2016. Giới hạn về địa bàn nghiên cứu Luận án tiến hành nghiên cứu tại các khu vực dân cư ven biển trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Cụ thể: hai phường trong nội thành là Đống Đa và Hải Cảng; hai xã ngoại thành là Nhơn Hải và Nhơn Lý.

3.2. Phương pháp phân tích và thu thập thông tin

Để thực hiện tốt phương pháp nghiên cứu này, đề tài đã tiến hành tra cứu các nguồn tư liệu, bao gồm hệ thống các tài liệu công trình nghiên cứu từ các lĩnh vực khoa học xã hội có liên quan đến đề tài ở trong và ngoài nước từ các nguồn như sách; luận án; luận văn; bài viết trên các tạp chí: Xã hội học, Nghiên cứu Gia đình và Giới; Khoa học Xã hội.Ngoài ra các tư liệu sẵn có thu thập tại địa bàn nghiên cứu sẽ được tổng quan, khái quát và đối sánh với kết quả nghiên cứu của đề tài. Luận án sử dụng bảng hỏi định lượng nhằm tiến hành phỏng vấn trực tiếp 400 phụ nữ trong các gia đình làm nghề biển.

IV. Vai Trò Của Mạng Lưới Xã Hội Với Phụ Nữ Nghề Biển

Luận án sử dụng bảng hỏi định lượng nhằm tiến hành phỏng vấn trực tiếp 400 phụ nữ trong các gia đình làm nghề biển. Bảng hỏi gồm tất cả 77 câu hỏi, trong đó có 56 câu hỏi đóng, 8 câu hỏi mở, 13 câu hỏi vừa đóng vừa mở. Bảng hỏi được chia làm 5 phần: Phần 1 có 7 câu hỏi về đặc điểm nhân khẩu - xã hội của phụ nữ dùng để mô tả đặc điểm phụ nữ trong gia đình làm nghề biển, đồng thời cũng là những phân tổ chính khi xử lý thông tin định lượng; Phần 2 có 49 câu hỏi về các thành phần của MLXH dùng để mô tả đặc điểm về MLXH của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển, đồng thời cũng là những phân tổ chính khi xử lý thông tin định lượng; Phần 3 có 14 câu hỏi về sự hỗ trợ của MLXH dùng để phân tích vai trò của MLXH; Phần 4 có 4 câu hỏi về chính sách xã hội dùng để phân tích các yếu tố tác động đến MLXH và phần 5 có 3 câu hỏi về tầm quan trọng của MLXH dùng để phân tích quá trình phát triển MLXH

4.1. Đặc điểm mẫu nghiên cứu về mạng lưới xã hội

Độ tuổi trung bình của phụ nữ trong mẫu khảo sát là 45,6 (người có tuổi nhỏ nhất là 24 và người cao tuổi nhất là 68). Đại đa số phụ nữ ở độ tuổi từ 45-59 chiếm 48%, tiếp theo là nhóm phụ nữ độ tuổi từ 35-44 chiếm 29%. Nhóm phụ nữ thuộc nhóm thanh niên từ 24-34 tuổi chỉ chiếm 15,3%; Nhóm phụ nữ thuộc lớp người cao tuổi từ 60-68 chỉ chiếm 7,8% trong tổng số mẫu nghiên cứu. Phần lớn phụ nữ trong mẫu khảo sát có trình độ học vấn ở mức phổ cập: tiểu học (TH) chiếm 38,8%, trung học cơ sở (THCS) chiếm 41,5%, trung học phổ thông (THPT) chiếm 5,8%.

4.2. Thu nhập và tình trạng hôn nhân của phụ nữ

Tỷ lệ phụ nữ có trình độ trung cấp (TC) - nghề và cao đẳng, đại học (CĐ-ĐH) thấp, chỉ chiếm lần lượt là 0,3% và 0,5%. Có đến 10% chỉ mới đạt trình độ học vấn là biết đọc, biết viết, thậm chí có 3,3% phụ nữ là mù chữ. Phụ nữ trong mẫu khảo sát chủ yếu làm ngư nghiệp (chiếm 63,5%); có 9% phụ nữ kinh doanh, buôn bán; Có 7,5% phụ nữ làm lao động tự do; Có 7% phụ nữ làm công nhân trong các công ty, doanh nghiệp; Có 2,3% phụ nữ là công chức, viên chức; Có 0,5% phụ nữ làm nông nghiệp và có đến 10,3% phụ nữ không có việc làm. Phụ nữ trong mẫu khảo sát có mức thu nhập trung bình so với mặt bằng thu nhập chung (từ 2 triệu - dưới 5 triệu đồng/ tháng chiếm 39,2%).

V. Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Mạng Lưới Phụ Nữ Nghề Biển Quy Nhơn

Một số phụ nữ có thu nhập thấp hơn (dưới 500 ngàn đồng/ tháng chiếm 7% và không có thu nhập chiếm 11%). Chỉ có 5,8% phụ nữ có thu nhập trên 5 triệu đồng/ tháng. Phụ nữ trong mẫu khảo sát phần lớn họ đã kết hôn. Có 93,5% đang sống cùng với chồng; phụ nữ đã ly hôn chiếm 1%; phụ nữ đã góa bụa chiếm 5%; và phụ nữ chưa kết hôn chiếm 0,5%. Tuổi kết hôn trung bình của phụ nữ là 23,8 (trong đó người có thời gian kết hôn ít nhất là 1 năm và dài nhất là 57 năm). Cụ thể: độ tuổi kết hôn từ 21-30 năm chiếm 33,2%, từ 11-20 năm chiếm 27,6%; từ 31-40 năm chiếm 21,6%, từ 1-10 năm chiếm 12,3%, từ 40 năm trở lên chiếm 5,3%.

5.1. Nhập và làm sạch số liệu nghiên cứu

Toàn bộ phiếu điều tra được tổng hợp, làm sạch, mã hóa và được nhập bằng phần mềm SPSS phiên bản 21.0 nhằm xử lý các thông tin thu được, đồng thời kiểm định tính khách quan, độ tin cậy của các kết quả nghiên cứu. Luận án sử dụng ba phương pháp thu thập thông tin định tính là phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm tập trung và quan sát. Tiến hành phỏng vấn sâu 52 trường hợp tại 4 địa bàn khảo sát. Trong đó, mỗi phường/ xã là 13 phỏng vấn sâu. Mẫu phỏng vấn sâu bao gồm: 16 người phụ nữ; 8 thành viên gia đình (4 trường hợp là người con trong gia đình; 4 trường hợp là người làm cha mẹ); 8 người trong dòng họ (họ hàng ruột có 4 trường hợp; họ hàng khác có 4 trường hợp).

5.2. Các phương pháp thu thập thông tin định tính

Ngoài ra, mẫu phỏng vấn sâu còn bao gồm 8 người hàng xóm, 4 người bạn bè, 4 người là đại diện các tổ chức xã hội chính thức, 4 người là đại diện các tổ chức xã hội tự nguyện và 4 người là đại diện các doanh nghiệp, công ty. Luận án sử dụng phương pháp thảo luận nhóm tập trung để thu thập thông tin định tính. Tổ chức 8 cuộc thảo luận nhóm tập trung tại 4 địa bàn nghiên cứu. Mỗi địa bàn tổ chức 2 cuộc thảo luận nhóm. Mỗi cuộc thảo luận nhóm có từ 8-12 người tham gia. Thành phần tham gia thảo luận nhóm là phụ nữ trong gia đình làm nghề biển.

VI. Giải Pháp Phát Triển Mạng Lưới Xã Hội Phụ Nữ Quy Nhơn

Luận án sử dụng phương pháp quan sát để thu thập thông tin định tính. Quan sát được thực hiện tại các địa điểm công cộng như chợ, bến cá, khu dân cư, các hoạt động văn hóa, xã hội của địa phương. Quan sát được thực hiện trong suốt quá trình nghiên cứu để thu thập thông tin về các hoạt động của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển, các mối quan hệ của họ với những người xung quanh, và các yếu tố ảnh hưởng đến MLXH của họ. Các thông tin định tính thu thập được từ phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm tập trung và quan sát được sử dụng để bổ sung, giải thích và làm sâu sắc hơn các kết quả nghiên cứu định lượng.

6.1. Xử lý và phân tích dữ liệu định lượng

Dữ liệu định lượng thu thập được từ bảng hỏi được xử lý bằng phần mềm SPSS 21.0. Các phương pháp thống kê mô tả được sử dụng để mô tả đặc điểm của mẫu nghiên cứu và các biến số liên quan đến MLXH của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển. Các phương pháp thống kê suy luận như kiểm định Chi-square, phân tích phương sai (ANOVA) và phân tích hồi quy được sử dụng để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu về vai trò của MLXH và các yếu tố ảnh hưởng đến MLXH của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển.

6.2. Phân tích dữ liệu định tính và kết hợp

Dữ liệu định tính thu thập được từ phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm tập trung và quan sát được mã hóa và phân tích theo phương pháp phân tích nội dung. Các chủ đề chính và các mối quan hệ giữa các chủ đề được xác định. Các trích dẫn từ phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm tập trung được sử dụng để minh họa các kết quả nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu định lượng và định tính được kết hợp để đưa ra những kết luận toàn diện và sâu sắc về MLXH của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển ở thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

05/06/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu Nội dung: Bao gồm có 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu Chƣơng 2. Cơ sở lý luận và thực tiễn Chƣơng 3: Đặc điểm MLXH của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển Chƣơng 4: Vai trò của MLXH đối với phụ nữ trong gia đình làm nghề biển và các yếu tố ảnh hƣởng đến MLXH. Kết luận và khuyến nghị. 9 NỘI DUNG CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.

Những chủ đề nghiên cứu về mạng lƣới xã hội 1. Phương pháp nghiên cứu mạng lưới xã hội Trên thế giới: Theo S. Faust (1994) thì phƣơng pháp phân tích MLXH chỉ thực sự ra đời cùng với xuất hiện của phƣơng pháp “trắc lƣợng xã hội” (socialmetry) của nhà tâm lý học ngƣời Mỹ gốc Romania là J. Trong tác phẩm này, ông đã đƣa ra các nguyên tắc và công cụ của phƣơng pháp trắc lƣợng xã hội.

Theo ông, phƣơng pháp này gồm có hai công cụ cơ bản là “sociometric test” và “lƣợc đồ xã hội” (sociogram). Với công cụ này, nhà nghiên cứu sẽ khám phá đƣợc các cấu trúc xã hội trong nhóm, trong tổ chức thông qua việc làm sáng tỏ các lực hút (attractions) và các lực đẩy (repulsions) giữa các thành viên trong một nhóm, một tổ chức (chẳng hạn hỏi từng thành viên xem họ thích và không thích ai trong mạng lƣới) thông qua bảng ma trận. Sau đó nhà nghiên cứu sẽ dùng đến những công cụ “lƣợc đồ xã hội” để thể hiện trên mặt phẳng những lực hút và lực đẩy giữa các thành viên trong nhóm/ tổ chức đó. Trong lƣợc đồ xã hội, các điểm thể hiện các chủ thể và các đƣờng nối thể hiện các mối liên kết giữa các chủ thể trong nhóm/ tổ chức.

Với việc thể hiện trên mặt phẳng, chúng ta sẽ nhìn thấy “hình ảnh” cụ thể của cấu trúc xã hội. Tuy không khẳng định nhƣ S. Faust, nhƣng nhiều nhà nghiên cứu cũng đã thống nhất rằng phƣơng pháp trắc lƣợng xã hội của J. Moreno là công cụ phân tích đầu tiên của phƣơng pháp phân tích MLXH [dẫn theo Lê Minh Tiến 2006:70].

Simmel đƣợc xem nhƣ là ngƣời khởi xƣớng cách tiếp cận cấu trúc (nghiên cứu tính hợp thức và các đặc trƣng cấu trúc của mạng lƣới) trong phân tích MLXH. Hƣớng tiếp cận mang tính hình thức chú trọng đến hình thức của các tƣơng tác mà bỏ qua nội dung của các tƣơng tác. Để lý giải cho việc nghiên cứu ƣu tiên các hình thức tƣơng tác này, những ngƣời ủng hộ hƣớng tiếp cận này dựa trên một định đề mà theo đó, các hình thức quan hệ đƣợc quan sát "thể hiện một tính thƣờng xuyên đều đặn nhất định và tính ổn định nhất định" (Merkle 2004: 15). Vậy là bằng cách nghiên cứu các dạng thức của các quan hệ, ngƣời ta có thể tìm thấy tính thƣờng xuyên và không biến đổi của nó.

Việc nghiên cứu tính thƣờng xuyên liên tục của những lựa chọn quan hệ cũng hàm ẩn sự tồn tại của các (cách thức) tổ chức ít nhiều nằm ngoài ý thức của các nhân tố xã hội mà ở đó các nhân tố này có thể vi phạm (Lemieux, Ouimet 2004:10). 10 Công việc của nhà nghiên cứu ở đây là thông qua mạng lƣới nắm bắt đƣợc các nguyên tắc nằm ngoài ý thức nhƣng lại tham gia vào việc tổ chức xã hội. Hƣớng tiếp cận này đi theo những bƣớc nhƣ sau: hình thức của mạng lƣới cho phép nghiên cứu tính thƣờng xuyên liên tục của các hình thức quan hệ dẫn đến những nguyên tắc ngầm giữ vai trò tổ chức các nhóm. Hạn chế của hƣớng phân tích cấu trúc ở chỗ nó quá nghiêng về lý thuyết dựa trên thực địa.

Nó tập trung vào việc triển khai các "quy định" chung về khuôn mẫu xã hội, về những quy luật ích lợi về mặt lý thuyết nhƣng thƣờng xuyên tách rời khỏi thực tiễn các quan sát kinh nghiệm. Hơn nữa, phân tích cấu trúc quá ƣu tiên các cấu trúc mà xem nhẹ cá nhân cũng nhƣ nêu các cấu trúc mà không nghiên cứu tìm hiểu các cấu trúc đó bắt nguồn từ đâu, cơ chế của chúng thế nào, biến đổi ra sao. Chính vì những hạn chế của lối tiếp cận cấu trúc nên nhiều nhà nghiên cứu MLXH đã lựa chọn hƣớng phân tích khác, đó là hƣớng phân tích phi cấu trúc. Cách tiếp cận này coi các tác nhân xã hội là trung tâm và nó quan sát những biến đổi đa dạng của các thực tiễn hoạt động và các biểu hiện của nó.

Các nhà nghiên cứu tiến hành phân tích dựa trên việc so sánh mạng lƣới cá nhân, có nghĩa là một cá nhân là trung tâm của mạng lƣới và họ sẽ tìm hiểu tổng thể các mối quan hệ trong mạng lƣới đó, các tiếp xúc có ý nghĩa đối với các tác nhân và đối với các quan hệ mà anh/ chị ta thực hiện rất cụ thể trong đời sống. Các bƣớc thực hiện ở đây là: (1) xuất phát từ một cá nhân đƣợc lựa chọn theo tiêu chí chuyên biệt của việc điều tra hay vấn đề đặt ra, (2) thống kê các mối quan hệ thƣờng ngày mà cá nhân thực hiện và duy trì; (3) thống kê các mối quan hệ quan trọng mà cá nhân có thể có hoặc đã có nhƣng không bắt buộc phải là các hoạt động thƣờng ngày sau đó; (4) tiến hành chuỗi các trao đổi phỏng vấn với nhân tố đó bằng các câu hỏi và các tiếp xúc của anh/ chị ta. Lợi ích và những hạn chế của cách tiếp cận phi cấu trúc ở chỗ, mạng lƣới cá nhân thể hiện đầy đủ những phạm vi mang tính nhận thức và cá nhân của các xử sự trong quan hệ. Cách tiếp cận này cho phép nắm bắt các động thái, các vận động và các đặc trƣng thay vì tìm kiếm tính thƣờng xuyên và các hình thức cố định.

Tuy nhiên, cách tiếp cận này tập trung vào khía cạnh mang tính cá nhân của các hiện tƣợng xã hội và không chú trọng tới phân tích tổng thể [dẫn theo Emmanuel Pannier 2008:110]. Ở Việt Nam: Những nghiên cứu MLXH cũng áp dụng các phƣơng pháp nghiên cứu trên thế giới, đó là phân tích cấu trúc và phi cấu trúc. Lê Minh Tiến (2006) xác định phƣơng pháp phân tích MLXH nhƣ là một tập hợp các phƣơng thức chọn mẫu, thu thập và xử lý dữ kiện, các khái niệm, các lý thuyết nhằm mô tả và phân tích mối 11 quan hệ giữa các actor trong mạng lƣới, các quy luật hình thành và chuyển biến của những mối quan hệ đó, và nhất là làm sáng tỏ những ảnh hƣởng của các mối quan hệ xã hội (hay cấu trúc của mạng lƣới) đối với hành vi của các actor. Có thể nhận thấy phƣơng pháp phân tích MLXH khác với lối phân tích theo biến số truyền thống.

Theo đó, phân tích theo biến số thƣờng dùng trong nghiên cứu thực nghiệm xã hội học chú trọng đến các đặc trƣng dân số học và kinh tế - xã hội của các tác nhân nhƣ tuổi tác, giới tính, học vấn.và xem hành vi của cá nhân bị quy định bởi những đặc trƣng đó. Trong khi lối phân tích MLXH nhấn mạnh đến quan hệ xã hội giữa các tác nhân, coi đó là yếu tố quyết định đến hành vi chứ không phải là các đặc trƣng của các tác nhân. Đồng thời, sự khác biệt của các tác nhân không do các đặc trƣng quyết định mà là cấu trúc của các quan hệ xã hội quyết định [58]. Vũ Quang Hà (2001) cho rằng điểm trọng tâm trong phân tích MLXH là nghiên cứu các quan hệ nối kết của các thành viên (cá thể và tập thể) mà "không đƣợc ràng buộc đầy đủ và không đan bện chặt chẽ để có thể gọi là nhóm".

Các nhà xã hội học có xu hƣớng tập trung vào mọi ngƣời có mối quan hệ mạnh trong các nhóm xã hội, xem các mối quan hệ mạnh là cái cơ bản trong khi các mối quan hệ yếu không có ý nghĩa quan trọng về mặt xã hội học [17:440]. Nhƣ vậy, về mặt phƣơng pháp nghiên cứu MLXH, hiện nay phƣơng pháp phân tích MLXH theo hƣớng cấu trúc và phi cấu trúc vẫn đƣợc sử dụng nhiều nhất trong các nghiên cứu ở trên thế giới. Ở Việt Nam các nhà nghiên cứu cũng sử dụng cả hai phƣơng pháp nghiên cứu này tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu của họ, nhƣng chủ yếu phân tích làm rõ các mối quan hệ xã hội giữa các tác nhân trong MLXH. Từ kết quả tổng quan các phƣơng pháp nghiên cứu về MLXH, luận án đã sử dụng cách tiếp cận phi cấu trúc để nghiên cứu MLXH của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển, trong đó tập trung phân tích mối quan hệ của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển - đƣợc xác định là trung tâm của mạng lƣới với tổng thể các mối quan hệ trong mạng lƣới mà ngƣời phụ nữ có tiếp xúc, trao đổi (bao gồm quan hệ gia đình, họ hàng, bạn bè, hàng xóm và các tổ chức xã hội) để xem các mối quan hệ nào là mạnh và các mối quan hệ nào là yếu trong MLXH.

Các lý thuyết nghiên cứu mạng lưới xã hội Trên thế giới: Có nhiều lý thuyết nghiên cứu MLXH đƣợc đƣa ra bởi các nhà nghiên cứu về MLXH. Có thể nêu ra một số lý thuyết nhƣ sau: Heider nghiên cứu nhận thức xã hội và thái độ của nhóm và đƣa ra "lý thuyết về sự cân bằng nhận thức". Trọng tâm của lý thuyết mô tả những liên hệ tình cảm (tích cực hoặc tiêu cực) giữa các điểm (là các cá nhân hay nhóm) trong một mạng lƣới bằng 12 cách xem xét những tác động phức hợp trong mỗi nhóm cặp ba hợp thành, nhóm này đƣợc coi là cân bằng nếu kết quả của những liên hệ đó là tích cực và không cân bằng trong trƣờng hợp ngƣợc lại. Luận đề cân bằng này chứng minh rằng nếu tất cả nhóm cặp ba đều cân bằng thì hệ thống sẽ bị phân chia thành hai nhóm đối lập [8: 283].

Grannovetter (1973) đã đƣa ra lý thuyết “Sức mạnh của các mối quan hệ yếu” khi nghiên cứu MLXH. Lý thuyết cho rằng, khi nói về sức mạnh trong các mối quan hệ xã hội ta thƣờng nghĩ đến tần suất thời gian (gặp gỡ), mức độ tình cảm, tính thân mật và sự hỗ tƣơng. Giữa các yếu tố này có thể độc lập hoặc tƣơng quan với nhau. Theo ông, những kết nối mạnh chính là mức độ hiểu biết giữa các chủ thể với nhau và mối liên hệ chặt chẽ, gắn bó giữa các thành viên trong cộng đồng.

Đối lập với các kết nối mạnh là kết nối yếu, ám chỉ đến mối quan hệ lỏng lẻo giữa các thành viên trong cộng đồng và thay thế vào đó là những kết nối bên ngoài cộng đồng [95].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Mạng Lưới Xã Hội Của Phụ Nữ Làm Nghề Biển Tại Quy Nhơn" khám phá vai trò quan trọng của mạng lưới xã hội trong việc hỗ trợ và phát triển nghề nghiệp của phụ nữ trong ngành đánh bắt hải sản tại Quy Nhơn. Tài liệu nhấn mạnh cách mà các mối quan hệ xã hội giúp phụ nữ chia sẻ kinh nghiệm, kiến thức và nguồn lực, từ đó nâng cao khả năng sinh kế và cải thiện chất lượng cuộc sống. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về cách thức mà mạng lưới này hoạt động, cũng như những lợi ích mà nó mang lại cho cộng đồng.

Để mở rộng thêm kiến thức về các khía cạnh liên quan đến mạng lưới xã hội, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của vốn xã hội đến việc làm của sinh viên tốt nghiệp trường đại học kinh tế quốc dân, nơi phân tích tác động của vốn xã hội đến cơ hội việc làm. Ngoài ra, tài liệu Luận văn mạng lưới xã hội của các tiểu thương ở một chợ vùng biên nghiên cứu trường hợp chợ cốc lếu tỉnh lào cai cũng cung cấp cái nhìn sâu sắc về mạng lưới xã hội trong bối cảnh thương mại, giúp bạn hiểu rõ hơn về sự tương tác trong các cộng đồng khác nhau. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về vai trò của mạng lưới xã hội trong các lĩnh vực khác nhau.