CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT VÒNG ĐỜI SẢN PHẨM VÀ CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI HÓA KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CÔNG NGHỆ 1. Cơ sở ra đời lý thuyết vòng đời sản phẩm 1. Hoàn cảnh ra đời lý thuyết vòng đời sản phẩm Lịch sử loài người trải qua 3 cuộc Cách mạng Công nghiệp và đang bước vào cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ 4 hay còn gọi là Cách mạng công nghiệp 4. Cuộc cách mạng lần thứ nhất bắt đầu ở Anh vào cuối thế kỷ 18 với sự ra đời của máy hơi nước nhằm đáp ứng nhu cầu dệt may.
Kỹ thuật luyện kim được cải thiện, nhu cầu sử dụng than cho động cơ hơi nước tăng cao kéo theo sự biến đổi toàn diện về kinh tế, kỹ thuật, văn hóa. Hàng loạt hệ thống đường sắt được xây dựng, con người có thể đi được xa hơn và liên lạc tốt hơn bằng hệ thống điện tín. Nông nghiệp phát triển mạnh nhờ các nghiên cứu về canh tác, sinh học. Đời sống người dân ngày càng được cải thiện, dân số tăng trưởng nhanh và nước Anh cũng như vùng Tây Âu bắt đầu giành lấy vị thế thống trị trên toàn cầu.
Ngay sau cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, cuộc cách mạng lần thứ 2 tiếp diễn sau đó từ nửa cuối thế kỷ 19 nhờ dầu mỏ và động cơ đốt trong. Thời kỳ này, điện năng được sử dụng phổ biến và công nghệ phát triển vượt bậc. Điện thoại, tivi, đài phát thanh.làm thay đổi văn hóa xã hội. Trong khi đó, các ngành sản xuất cũng biến chuyển nhanh chóng với hàng loạt dây chuyền sản xuất, tiêu chuẩn chất lượng, tự động hóa.
Xu thế đô thị hóa tăng nhanh gây ra những hệ quả nhất định. Tại các vùng nông thôn, sự phát triển của phân hóa học, các nghiên cứu về sinh học, nông nghiệp thúc đẩy tăng năng suất. Sản lượng công nghiệp như kim loại, cao su. tăng nhanh đã thúc đẩy các ngành kinh tế.
Nhờ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 2 thế giới được hưởng tiêu chuẩn sống hiện đại và chất lượng chưa từng có trong khi dân số tăng trưởng nhanh. Mỹ và các nước Tây Âu thời kỳ này là những quốc gia có vị thế dẫn đầu. Tiếp đến, những cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 3 bắt đầu từ khoảng năm 1969 khi nhiều cơ sở hạ tầng điện tử, số hóa và máy tính được phát triển 7 mạnh. Vào những năm 1960s, chất bán dẫn và các siêu máy tính được xây dựng, đến thập niên 70-80 máy tính cá nhân ra đời và Internet bắt đầu được biết đến nhiều trong thập niên 90.
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 3 được thúc đẩy nhờ cách mạng khoa học công nghệ hiện đại. Mỹ dẫn đầu trong phát minh công nghệ. Đây là thời điểm lý thuyết vòng đời sản phẩm hình thành và phát triển. Khi sản phẩm đến giai đoạn trưởng thành, địa điểm sản xuất và địa điểm bán hàng đều thay đổi, và điều này dẫn đến luồng thương mại giữa các quốc gia cũng thay đổi.
Nói cách khác, các sản phẩm đều phải trải qua các giai đoạn của vòng đời, mỗi giai đoạn đều được bán và sản xuất ở những nơi khác nhau. Lý thuyết chủ yếu tập trung vào hàng hóa được sản xuất bởi các công ty Mỹ. Trong suốt thế kỷ XX một tỷ lệ lớn các sản phẩm mới của thế giới được phát triển bởi các công ty Hoa Kỳ và được tiêu thụ ban đầu tại thị trường Hoa Kỳ (như máy thu hình, máy ảnh chụp lấy ngay, máy photocopy, máy tính cá nhân, và các vi mạch bán dẫn). Để giải thích thực tế này, Raymond Vernon lập luận sự thịnh vượng và quy mô thị trường Hoa Kỳ mang lại cho các công ty Hoa Kỳ động lực rất lớn đề phát triển các sản phẩm mới.
Thêm vào đó, chi phí nhân công cao ở Hoa Kỳ cũng khiến cho các công ty Hoa Kỳ có lý do để sáng chế ra các quy trình công nghệ tiết kiệm chi phí sản xuất. Nếu chỉ vì lý do các sản phẩm được phát triển bởi một công ty của Hoa Kỳ và được bán lần đầu tiên ở Hoa Kỳ mà suy ra sản phẩm đó bắt buộc phải được sản xuất tại Hoa Kỳ thì chưa thuyết phục. Sản phẩm đó hoàn toàn có thể được sản xuất ở nước ngoài, những nơi có chi phí sản xuất thấp hơn và sau đó xuất khẩu trở lại Hoa Kỳ. Tuy nhiên, Raymond Vernon lập luận không phải tất cả mà hầu hết các sản phẩm mới của thế giới ban đầu được phát triển tại Hoa Kỳ.
Các công ty tiên phong, trên cơ sở cân nhắc biến động và rủi ro gắn liền với việc giới thiệu một sản phẩm mới, luôn tin tưởng tình hình sẽ tốt hơn nếu nơi sản xuất ở gần với nơi tiêu thụ cũng như gần với trụ sở chính, nơi đưa ra các quyết định của các công ty. Hơn nữa, nhu cầu đối với hầu hết sản phẩm mới thường không phụ thuộc vào yếu tố giá cả mà phụ thuộc vào các yếu tố phi giá cả như kiểu dáng, mẫu mã, tính năng, sự tiện dụng, v. Do vậy, công ty phát minh có thể tính giá thành bán ra khá cao đối với sản 8 phẩm mới, và yếu tố này khiến cho nhu cầu tìm nơi sản xuất chi phí thấp ở nước khác không cần thiết. Do sức ép chi phí tăng cao, Hoa Kỳ bị mất lợi thế vào các nước phát triển khác trong khi các nước đang phát triển (ví dụ như Thái Lan) bắt đầu có lợi thế sản xuất so với các nước phát triển.
Cuối cùng, quá trình sản xuất dịch chuyển hoàn toàn sang các nước đang phát triển để tận dụng hoàn toàn lợi thế lao động giá rẻ, Hoa Kỳ trở thành nước nhập khẩu trong cả giai đoạn này. Do vậy, chu kỳ của sản xuất toàn cầu sẽ theo trật tự: bắt đầu từ Hoa Kỳ chuyển sang các nước phát triển khác và tiếp đó là từ những nước này chuyển sang các nước đang phát triển. Theo thời gian, kết quả của xu hướng này đối với các mô hình trao đổi thương mại thế giới là nước xuất khẩu sản phẩm trở thành một nước nhập khẩu khi sản xuất tập trung ở nước có chi phí sản xuất thấp hơn. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến chính sách thương mại hóa kết quả nghiên cứu công nghệ.
Quá trình phát triển của lý thuyết vòng đời sản phẩm Lý thuyết vòng đời sản phẩm được phát triển trải qua 2 giai đoạn: Ban đầu là lý thuyết khoảng cách công nghệ được Posner đưa vào năm 1961 và đến năm 1966 được Raymond Vernon phát triển thành lý thuyết vòng đời sản phẩm. Lý thuyết khoảng cách công nghệ Theo Posner sự thay đổi công nghệ mang tính liên tục, có độ trễ về thời gian giữa việc phát minh và áp dụng công nghệ mới ở một quốc gia so với việc áp dụng công nghệ này ở các quốc gia khác (độ trễ trong mô phỏng công nghệ), giữa việc phát triển một sản phẩm mới với sự xuất hiện và gia tăng nhu cầu về sản phẩm đó ở các quốc gia khác (độ trễ nhu cầu). Công nghệ mới đầu tiên được phát minh và ứng dụng ở các nước công nghiệp phát triển nhất và những nước này có lợi thế so sánh trong sản xuất những sản phẩm ứng dụng công nghệ này và trở thành nước xuất khẩu ròng những sản phẩm đó. Sau một thời gian, công nghệ này lan toả ra các nước khác và được mô phỏng ở những nước đang phát triển, những nước phát minh công nghệ mất dần lợi thế và có thể trở thành nước nhập khẩu ròng các sản phẩm ứng dụng kết quả nghiên cứu công nghệ đó.
Độ dài của quá trình này phụ thuộc vào độ trễ mô phỏng công nghệ và độ trễ nhu cầu. 9 Nó dựa trên ý tưởng công nghệ luôn được thay đổi dưới hình thức ra đời các phát minh, sáng chế. Điều này có tác động đến xuất khẩu của quốc gia. Khi một phát minh ra đời, nó có lợi thể tuyệt đối tạm thời.
Quốc gia phát minh giữ vị trí độc quyền trong nội địa. Sau một thời gian, nhu cầu ở nước ngoài xuất hiện và sản phẩm được xuất khẩu. Nhà sản xuất nước ngoài bắt chước công nghệ và sản phẩm được sản xuất hiệu quả ngay tại nước ngoài. Lợi thế so sánh sản phẩm này thuộc về quốc gia khác.
Ở quốc gia phát minh, sản phẩm mới khác được ra đời và qui trình trên được lặp lại. Các phát minh có thể ra đời ở các nước giàu, nhưng điều đó không có nghĩa là quá trình sản xuất sẽ chỉ có thể thực hiện ở những nước đó. Lý thuyết khoảng cách công nghệ chưa trả lời được câu hỏi là phải chăng các hãng phát minh tiến hành sản xuất tại những nước có điều kiện thích hợp nhất (tài nguyên, các yếu tố sản xuất) đối với mặt hàng mới. Câu hỏi đặt ra là: Tại sao một số sản phẩm từng được sản xuất tại 1 quốc gia sau đó lại nhập khẩu từ các quốc gia khác, đặc biệt từ các quốc gia kém phát triển hơn? Trong một số trường hợp, lý thuyết vòng đời sản phẩm của Vernon giải thích rõ hơn cho câu hỏi này.Vernon (1966), các nhân tố cần để sản xuất sản phẩm mới thay đổi theo vòng đời sản phẩm.
Lý thuyết vòng đời sản phẩm Vernon lập luận các nhân tố cần để sản xuất một hàng hóa, sản phẩm sẽ thay đổi theo vòng đời của nó. Phát minh một sản phẩm mới là công việc tốn kém và nhiều rủi ro, cần công nhân có trình độ chuyên môn cao và chỉ có những người thu nhập cao mới có khả năng tiêu thụ nên việc sản xuất sản phẩm trong giai đoạn đầu tập trung tại các nước giàu và phát triển. Khi sản phẩm và quy trình sản xuất được chuẩn hóa, thời hạn của các bằng phát minh sáng chế hết hiệu lực các nước khác bắt đầu tham gia thị trường nếu có lợi thế cao hơn trong sản xuất sản phẩm này so với nước sản xuất đầu tiên, như về chi phí. Khi công nghệ sản xuất hoàn toàn được chuẩn hóa, có thể sử dụng lao động phổ thông thì địa điểm sản xuất được chuyển sang các nước đang phát triển có lợi thế về nhân công dồi dào, giá rẻ.
Nội dung và điều kiện áp dụng lý thuyết vòng đời sản phẩm 1. Nội dung lý thuyết vòng đời sản phẩm Lý thuyết về vòng đời sản phẩm của Vernon liên quan đến các giai đoạn sản xuất của sản phẩm với những bí quyết sản xuất mới. Sản phẩm được sản xuất đầu tiên tại công ty mẹ, sau đó là tại công ty con và cuối cùng là ở nơi nào đó trên thế giới có chi phí thấp nhất.