mở đầu sự nghiệp khoa học của ông bằng việc biến thái dương hệ vĩnh viễn và bất biến của Newtơn,- sau khi đã có cái hích đầu tiên nổi tiếng kia,- thành một quá trình lịch sử: đó là quá trình xuất hiện mặt trời và tất cả mọi hành tinh từ khối tinh vân đang xoay chuyển. Từ đó, ông đã rút ra được cái kết luận là sự nảy sinh của thái dương hệ cũng giả định sự tiêu vong tất yếu của nó trong tương lai”[18, tr. Cantơ đã nhận ra vai trò hết sức quan trọng của nhận thức lý tính với đặc trưng cơ bản là quá trình tổng hợp. Còn người bắt tay vào giải đáp vấn đề đó với một quy mô, tầm vóc hết sức to lớn chính là Hêghen.
Mặc dù trên cơ sở duy tâm, nhưng triết TIEU LUAN MOI download : 19skknchat@gmail.com học Hêghen đã đem lại một bức tranh nhận thức lý luận biện chứng rất hoành tráng về thế giới. Sự chuẩn bị của ông đã chín đến mức là chỉ cần “lật ngược” phép biện chứng là có ngay quan điểm biện chứng khoa học về thế giới, và nhiệm vụ này đã được Mác, Ăngghen hoàn thành xuất sắc.2 Sự hình thành những quan điểm về nhận thức của Mác và Ăngghen (giai đoạn 1843- 1846) Cuộc cách mạng do Mác và Ăngghen thực hiện trong triết học và việc các ông cải tạo có phê phán những thành tựu trước kia của tư tưởng loài người không phải là những nhiệm vụ khác nhau, bài trừ lẫn nhau. Trái lại, như Lênin đã nhấn mạnh: “Tất cả thiên tài của Mác chính là ở chỗ ông đã giải đáp những vấn đề mà tư tưởng tiên tiến của loài người đã đặt ra”[46, tr.3] Bắt đầu từ năm 1839, Mác say sưa đi vào lĩnh vực lịch sử triết học cổ đại. Tập bút ký của ông về lịch sử triết học phái Êpiquya, phái khắc kỷ và phái hoài nghi chứng tỏ điều đó.
Ông có ý định viết một công trình nghiên cứu chuyên về ba trào lưu triết học ấy, những trào lưu triết học đã phát triển trong thời kỳ tan rã của xã hội cổ đại. Nhưng về sau Mác chỉ hạn chế trong phạm vi hẹp hơn của những vấn đề dùng làm chủ đề cho Luận án tiến sỹ của ông- “ Sự khác nhau giữa triết học tự nhiên của Đêmôcrít và triết học tự nhiên của Êpiquya”, và đây cũng chính là xuất phát điểm cho quá trình hình thành nhận thức luận của Mác. Ngay từ “Tập bút ký” đầu tay cũng như “Bản luận án” Mác đã để tâm vào giải quyết vấn đề làm ông băn khoăn là vấn đề quan hệ của triết học với hoạt động thực tiễn, vấn đề vai trò của triết học trong sự phát triển của xã hội, trong việc thực hiện công cuộc cải tạo xã hội. Mặc dù thời điểm này tầm ảnh hưởng của quan điểm duy tâm vẫn còn rất lớn, nhưng ngay việc lựa chọn chủ đề của luận án cũng đã nói lên sự phân kỳ đã bắt đầu giữa ông và Hêghen, một người có thái độ miệt thị đối với các nhà duy vật cổ đại Hylạp, đặc biệt là đối với Êpiquya.
Song điều quan trọng là trong bản luận án, ông bộc lộ rõ sự cố gắng vượt ra ngoài giới hạn quan niệm một bên là của Hêghen và một bên TIEU LUAN MOI download : 20skknchat@gmail.com là của phái Hêghen trẻ về vấn đề quan hệ của tư duy đối với hiện thực xung quanh bên ngoài. Nếu Hêghen quả quyết rằng tư duy phù hợp với tồn tại vì nó có ý thức đầy đủ về bản chất sáng tạo của bản thân nó “cái gì hợp lý thì hiện thực và cái gì hiện thực thì hợp lý”, thì Mác đại diện cho phái Hêghen trẻ đã đem lý tính phê phán đối lập với thế giới “chưa được phê phán”, cho rằng mâu thuẫn giữa ý thức có tính chất phê phán và tồn tại, xét đến cùng, là biến đổi tồn tại một cách hợp lý, nâng tồn tại lên trình độ yêu cầu của lý tính. Sự thống nhất của ý thức về hiện thực bên ngoài theo Mác cần phải trải qua những trình độ khác nhau: sự hòa hợp; kết quả của sự phát triển của sự tự ý thức được thay thế bằng một cuộc xung đột rất sâu sắc, cuộc xung đột này không thể giải quyết bằng con đường lý luận (con đường phê phán) mà phải bằng thực tiễn. Những lập luận này của Mác còn xa với quan niệm duy vật về ý thức và sự tự ý thức với tính cách là những quan hệ nhất định của chủ thể đối với hiện thực khách quan.
Nhưng ở đây đã chứa đựng mầm mống của quan niệm sâu sắc về mối tương quan biện chứng giữa hoạt động có ý thức của con người với những tiền đề khách quan và kết quả của hoạt động đó, hay nói cách khác mầm mống về mối tương quan giữa lý luận và thực tiễn, một trong những nội dung của lý luận nhận thức duy vật biện chứng đã xuất hiện. Mùa xuân năm 1843 “Báo sông Ranh” bị chính phủ Phổ đóng cửa vì tuyên truyền tư tưởng cách mạng. Mác rời Côlônhơ đi Cơraixơnắc. Ở đây ông chuyên chú nghiên cứu lịch sử hiện đại nhất là lịch sử cách mạng tư sản Pháp 1789-1794, đọc tác phẩm của các nhà duy vật Pháp như Rútxô, Môngtexkiơ và chẳng bao lâu tiến tới chỗ xét lại triết học pháp quyền của Hêghen một cách có phê phán.
Nhờ công tác ở “Báo sông Ranh” ông thấy rõ ràng là cần phải xét lại triết học đó. Kết quả của hoạt động đó của Mác được thể hiện trong tác phẩm lớn đầu tay của Mác là “Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen” và “Lời nói đầu” của nó. Với tác phẩm này Mác bước đầu xác lập nguyên tắc duy vật cơ bản đầu tiên cho lý luận nhận thức mácxít. TIEU LUAN MOI download : 21skknchat@gmail.com Nếu Hêghen coi cơ sở của xã hội là nhà nước và cái xuyên qua, quy định mọi hiện tượng, quan hệ xã hội là “ý niệm hiện thực của nó” vì vậy, “lẽ ra phải chỉ rõ nhà nước là hiện thực cao nhất của con người, là hiện thực xã hội cao nhất của con người”, thì “Hêghen lại suy tôn con người kinh nghiệm đơn nhất, con người kinh nghiệm, lên thành hiện thực cao nhất của nhà nước.363-364] Còn theo Mác, con người có phẩm chất xã hội đó chính là con người hiện thực, nhân dân hiện thực, là những con người mà trong hoạt động sống của mình đã tạo nên, quyết định những lĩnh vực sinh hoạt xã hội khác, trong đó có nhà nước, chế độ chính trị của xã hội, khẳng định bản chất con người hiện thực “Con người bao giờ cũng vẫn là bản chất của tất cả những tổ chức xã hội ấy, nhưng những tổ chức này lại cũng thể hiện ra là tính phổ biến hiện thực của con người, do đó cũng là cái chung của mọi người”[29, tr.
Nhận thức này của Mác đã phơi bày nguồn gốc sai lầm của triết học pháp quyền Hêghen và đồng thời chỉ ra, hiểu biết của Mác sẽ dẫn ông gần đến quan niệm duy vật về đời sống xã hội. Tuy những tư tưởng này chỉ mang tính chất sơ khai, chưa thật rõ ràng thông qua việc phê phán “triết học pháp quyền của Hêghen” nhưng những quan niệm duy vật về đời sống xã hội là bước đệm quan trọng để từ lĩnh vực xã hội Mác bước vào lĩnh vực hoạt động tinh thần, xây dựng một quan điểm duy vật chắc chắn cho hoạt động nhận thức, phản ánh thế giới với tư cách là một chỉnh thể thống nhất và toàn vẹn. Trong việc đề xuất những tư tưởng đầu tiên về nhận thức Mác đã khẳng định vai trò của lý luận triết học mà cụ thể là lý luận cách mạng trong “Lời nói đầu của Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen”. Với tác phẩm này nguyên tắc căn bản của lý luận nhận thức đã thể hiện rõ nội dung là một trong những nguyên tắc cơ bản của lý luận khoa học, đòi hỏi lý luận phải được xây dựng phù hợp với yêu cầu của cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản.
Ông viết “Giống như triết học thấy giai cấp vô sản là vũ khí vật chất của mình, giai cấp vô sản cũng thấy triết học là vũ khí tinh thần của TIEU LUAN MOI download : 22skknchat@gmail.com mình, và chỉ cần sấm sét của tư tưởng đánh một cách triệt để vào mảnh đất nhân dân còn nguyên vẹn ấy là việc giải phóng người Đức thành con người sẽ hoàn thành”; “ sự giải phóng người Đức là sự giải phóng con người. Đầu não của sự giải phóng ấy là triết học, trái tim của nó là giai cấp vô sản. Triết học không thể trở thành hiện thực nếu không xóa bỏ bản thân mình, nếu không làm cho triết học biến thành hiện thực”[30, tr.589-590] Đối với ông, lý luận không chỉ có nhiệm vụ nhận thức ra yêu cầu, địa vị lịch sử của quần chúng nhân dân, mà còn phải có khả năng thâm nhập vào quần chúng và trở thành lực lượng vật chất. Cần phải thấy rằng, với luận điểm trên Mác đã nói cụ thể đến sự thống nhất giữa lý luận cách mạng và thực tiễn cách mạng của giai cấp vô sản, chứ không phải đề cập đến sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn nói chung.
Dĩ nhiên, việc xác lập nguyên tắc này không những nhằm định hướng cho sự đề xuất những tư tưởng triết học trong tác phẩm mà còn là cho cả quá trình sáng tạo triết học Mác, chủ nghĩa Mác. Sau những tác phẩm đầu tiên có ý nghĩa quan trọng, quan điểm cơ bản đầu tiên để xây dựng lý luận nhận thức mácxít tiếp tục được C.Ăngghen xác lập chắc chắn và rõ ràng trong “Bản thảo kinh tế triết học- 1844”, “Gia đình thần thánh hay là phê phán sự phê phán có tính phê phán chống Bru-nô Bauơ và đồng bọn” qua việc đưa ra tư tưởng về lao động để phê phán toàn diện phép biện chứng duy tâm của Hêghen, chuyển sự phê phán này thành sự phê phán chủ nghĩa duy tâm nói chung một cách hoàn bị nhất và có hệ thống nhất.