phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về việc sử dung lƣợc đồ tƣ duy trong dạy học bài luyện tập Chƣơng 2: Sử dụng lƣợc đồ tƣ duy thiết kế hoạt động học tập của học sinh trong các bài luyện tập phần hoá học vô cơ lớp 9 Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC SỬ DỤNG LƢỢC ĐỒ TƢ DUY TRONG DẠY HỌC BÀI LUYỆN TẬP 1. Tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh trong dạy học hoá học 1. Khái niệm về tính tích cực trong học tập Học tập là hoạt động chủ đạo ở lứa tuổi đi học. Thông qua quá trình học tập, con ngƣời nhận thức đƣợc, lĩnh hội đƣợc những tri thức loài ngƣời đã tích luỹ đƣợc, đồng thời có thể nghiên cứu và tìm ra những tri thức mới cho khoa học.
Tính tích cực trong hoạt động học tập về thực chất là tính tích cực nhận thức, đặc trƣng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức. Trong hoạt động học tập, nó diễn ra ở nhiều phƣơng diện khác nhau: tri giác tài liệu, thông hiểu tài liệu, ghi nhớ, luyện tập, vận dụng, … và đƣợc thể hiện ở nhiều hình thức đa dạng, phong phú. Các hình thức biểu hiện đó là: - Xúc cảm học tập: Thể hiện ở niềm vui, sốt sắng thực hiện yêu cầu của giáo viên, hăng hái trả lời các câu hỏi của giáo viên; thích phát biểu ý kiến của mình trƣớc vấn đề nêu ra. Hay thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề chƣa đủ rõ.
- Chú ý: Thể hiện ở việc tập trung chú ý học tập, lắng nghe, theo dõi mọi hành động của giáo viên. - Sự nỗ lực của ý chí: Thể hiện ở sự kiên trì, nhẫn nại, vƣợt khó khăn khi giải quyết nhiệm vụ nhận thức. Kiên trì hoàn thành các bài tập, không nản lòng trƣớc những tình huống khó khăn. Có quyết tâm, có ý chí vƣơn lên trong học tập.
- Hành vi: Hăng hái tham gia vào mọi hình thức của hoạt động học tập, chẳng hạn nhƣ hay giơ tay phát biểu ý kiến, bổ sung các câu trả lời của bạn; ghi chép cẩn thận, đầy đủ, cử chỉ khẩn trƣơng khi thực hiện các hành động tƣ duy. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Kết quả lĩnh hội: Nhanh, đúng, tái hiện đƣợc khi cần, chủ động vận dụng đƣợc kiến thức, kỹ năng khi gặp tình huống mới để nhận thức những vấn đề mới. Đặc biệt, tính tích cực học tập có mối liên hệ nhân quả với các phẩm chất nhân cách của ngƣời học nhƣ: + Tính tự giác: Đó là sự tự nhận thức đƣợc nhu cầu học tập của mình và có giá trị thúc đẩy hoạt động có kết quả. + Tính độc lập tƣ duy: Đó là sự tự phân tích, tìm hiểu, giải quyết các nhiệm vụ nhận thức.
Đây là biểu hiện cao của tính tích cực. + Tính chủ động: Thể hiện ở việc làm chủ các hành động trong toàn bộ hoặc trong từng giai đoạn của quá trình nhận thức nhƣ đặt ra nhiệm vụ, lập kế hoạch thực hiện nhiệm vụ đó, tự đọc thêm, làm thêm các bài tập, tự kiểm tra… Lúc này, tính tích cực đóng vai trò nhƣ một tiền đề cần thiết để tiến hành các hoạt động học tập của ngƣời học. + Tính sáng tạo: Thể hiện khi chủ thể nhận thức tìm ra cái mới, cách giải quyết mới, không bị phụ thuộc vào cái đã có. Đây là mức độ biểu hiện cao nhất của tính tích cực.
Nói về tính tích cực, ngƣời ta thƣờng đánh giá nó ở cấp độ cá nhân ngƣời học trong quá trình thực hiện mục đích dạy học chung. Các cấp độ của tính tích cực G. Sukina đã chia tính tích cực ra làm ba cấp độ. Tính tích cực bắt chước, tái hiện Xuất hiện do tác động kích thích bên ngoài (yêu cầu của giáo viên), nhằm chuyển đối tƣợng từ ngoài vào trong theo cơ chế “hoạt động bên ngoài và bên trong có cùng cấu trúc”.
Nhờ đó, kinh nghiệm hoạt động đƣợc tích luỹ thông qua kinh nghiệm của ngƣời khác. Tái hiện và bắt chƣớc là tính tích cực ở mức độ thấp. Có thể giáo viên thay đổi một chút dữ kiện là học sinh lúng túng không làm đƣợc. Nhƣng nó lại là tiền đề cơ bản giúp các em nắm đƣợc nội dung bài giảng để có điều kiện nâng tính tích cực lên mức cao hơn.
8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Tính tích cực tìm tòi Xuất hiện cùng với quá trình hình thành khái niệm, giải quyết các tình huống nhận thức, tìm tòi các phƣơng thức hành động trên cơ sở có tính tự giác, có sự tham gia của động cơ, nhu cầu, hứng thú và ý chí của học sinh. Loại này xuất hiện không chỉ do yêu cầu của giáo viên mà còn hoàn toàn tự phát trong quá trình nhận thức. Nó tồn tại không chỉ ở dạng trạng thái, cảm xúc mà còn ở dạng thuộc tính bền vững của hoạt động.
Ở mức độ này, tính độc lập cao hơn mức trên, cho phép học sinh tiếp nhận nhiệm vụ và tự tìm cho mình phƣơng tiện thực hiện. Ý thức tìm tòi giúp các em say mê đi tìm kiến thức mới, khai thác kiến thức đã học theo nhiều hƣớng khác nhau, kiểm tra lại những kiến thức đã học trƣớc đó. Ý thức tìm tòi là phẩm chất của trí tuệ. Đó là sự độc lập trong tƣ duy, tự mình phát hiện ra vấn đề, tự mình xác định phƣơng hƣớng và tìm cách giải đáp, tự mình kiểm tra, thử lại, đánh giá kết quả đạt đƣợc.
Đây cũng là tiền đề cơ bản của tính tích cực sáng tạo. Tính tích cực sáng tạo Thể hiện khi chủ thể nhận thức tự tìm tòi kiến thức mới, tự tìm ra phƣơng thức hành động riêng và trở thành phẩm chất bền vững của cá nhân. Đây là mức độ biểu hiện tính tích cực cao nhất. Học sinh có tính tích cực sáng tạo sẽ có thể tìm đƣợc các kiến thức mới không nhờ vào sự gợi ý của ngƣời khác, thực hiện tốt các yêu cầu do giáo viên đƣa ra và có tính sáng tạo trong phƣơng pháp.
Ở mức này, học sinh đã có khả năng tƣ duy phân tích, tổng hợp, khái quát hoá, tƣơng tự … để tìm tòi phát hiện kiến thức mới. Một số khía cạnh cơ bản của tư tưởng tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh Dạy học nhằm tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh dựa trên nguyên tắc “Phát huy tính tích cực, tự giác và sáng tạo của học sinh”. Thực chất, đó là quá trình tổ chức, hƣớng dẫn học sinh tìm hiểu, phát hiện vấn đề và 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com giải quyết vấn đề trên cơ sở tự giác và đƣợc tự do, đƣợc tạo khả năng và điều kiện để chủ động trong hoạt động học tập của học. Sau đây là một số khía cạnh cơ bản của tƣ tƣởng đó: 1.
Đề cao tính nhân văn trong giáo dục - Giáo dục phục vụ cho mọi ngƣời với những nhu cầu về các lĩnh vực khác nhau (Một ngƣời không chỉ giới hạn hiểu biết ở một lĩnh vực mà có nhu cầu hiểu biết nhiều lĩnh vực khác nhau, làm nhiều nghề khác nhau. Theo đó, giáo dục cung cấp cho họ những kiến thức, kỹ năng cần thiết, với những khoảng thời gian linh hoạt, phù hợp, tôn trọng nhu cầu của mọi ngƣời. - Con ngƣời vốn có sẵn tiềm năng, giáo dục có thể khai thác tối đa tiềm năng đó, đặc biệt là tiềm năng sáng tạo. Vì vậy có thể nói học tập là sáng tạo, giáo dục giúp con ngƣời qua học tập trở thành con ngƣời có tri thức và kỹ năng, tạo điều kiện cho con ngƣời thể hiện mình trên các lĩnh vực.
Trên cơ sở hiểu biết, con ngƣời sống tốt hơn, có ích hơn cho bản thân và cộng đồng. - Giáo dục tạo ra cho ngƣời học một môi trƣờng - là tổ hợp của nhiều thành tố, để họ có thể tự giác, tự do (trong suy nghĩ, trong việc làm, trong tranh luận hƣớng tới mục đích mà họ tự giác chấp nhận), tự khám phá. Các thành tố đó gồm: hình thức học tập đa dạng; nội dung học tập phù hợp với khả năng và mong muốn của ngƣời học; quan hệ thầy, trò là bè bạn, hợp tác, dân chủ, bình đẳng… Tuy nhiên, sự tự giác, tự do, tự khám phá đó phải nằm trong khuôn khổ có sự kết hợp hài hoà giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội, giữa nhu cầu ngƣời học với nhu cầu phát triển quốc gia; giữa hiệu quả tác động của giáo viên với mục tiêu xã hội. Đề cao tính hoạt động Tối đa hoá sự tham gia hoạt động của ngƣời học với phƣơng thức chỉ đạo là tự nhận thức, tự phát triển, tự thực hiện, tự kiểm tra, tự đánh giá.
Qua đó hình thành và phát triển tƣ duy độc lập, sáng tạo của mỗi học sinh. Bốn yêu cầu đối với khía cạnh trên là: 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Xác lập vị trí chủ thể của ngƣời học, bảo đảm tính tự giác, tích cực, sáng tạo của hoạt động học tập. - Dạy học phải dựa trên sự nghiên cứu tác động của những quan niệm và kiến thức sẵn có của ngƣời học, nhằm khai thác những mặt thuận lợi, hạn chế mặt khó khăn, nghiên cứu những chƣớng ngại hoặc sai lầm có thể có của những kiến thức đó trong quá trình học tập của học sinh. - Dạy học không chỉ nhằm mục đích là tri thức và kỹ năng bộ môn, mà quan trọng hơn cả là dạy việc học, dạy cách học cho học sinh.
- Quá trình dạy học phải bao hàm cả việc dạy cách tự học thông qua việc để học sinh tự hoạt động nhằm đáp ứng các nhu cầu của bản thân và của xã hội. Đề cao vai trò thúc đẩy (theo nghĩa kích thích, tạo điều kiện cho sự phát triển) tiềm năng ở mỗi học sinh của giáo viên Cụ thể hoá ở các nhiệm vụ sau: - Thiết kế: Thầy giáo xác định, hoạch định toàn bộ kế hoạch giảng dạy (mục đích, nội dung, phƣơng pháp, phƣơng tiện, hình thức tổ chức…). - Uỷ thác: Thầy giáo biến đƣợc ý đồ dạy của mình thành nhiệm vụ nhận thức tự nguyện, tự giác của học sinh đảm nhiệm quá trình hoạt động để kiến tạo tri thức. - Điều khiển: Thầy hƣớng dẫn, tổ chức quá trình học tập sao cho học sinh tự tìm tòi, tự phát hiện và tự giải quyết nhiệm vụ đó.