CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TRUYỀN THÔNG MARKETING DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN BUÔN 1.1 Khái quát về truyền thông marketing 1.1 Khái niệm truyền thông marketing Truyền thông là hoạt động thường xuyên trong đời sống xã hội, trong mọi thời đại khác nhau, trong mọi lĩnh vực khác nhau. Đây là một trong những phương thức chính tạo ra mối liên kết giữa các cá nhân, giữa các nhóm, các tổ chức trong mọi xã hội. Phương thức này là một trong những phương thức quan trọng, có ý nghĩa lớn và vai trò quyết định thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của mọi hoạt động xã hội. Khi thế giới ngày càng phát triển, khoa học công nghệ bùng nổ thì hoạt động truyền thông ngày càng trở nên quan trọng và không còn xa lạ với mọi người.
Có thể nói truyền thông là một quy trình truyền các thông tin có ý nghĩa từ một cá nhân hoặc một tổ chức, thông qua các ký hiệu quy ước giữa giữa hai bên tham gia truyền thông bao gồm quy ước về ngôn ngữ, các giao thức quy ước với nhau. Trong đó, phía gửi tin sử dụng những quy ước này đề thể hiện ý tưởng truyền đi của mình, đồng thời cũng để cho phía nhận tin tiếp nhận ý tưởng được truyền đến, hiểu được mong muốn mà phía gửi tin muốn truyền tải. Truyền thông marketing là các hoạt động truyền thông tin một cách gián tiếp hay trực tiếp về sản phẩm và bản thân doanh nghiệp tới khách hàng nhằm thuyết phục họ tin tưởng vào doanh nghiệp cũng như sản phẩm, và mua sản phẩm của doanh nghiệp (Quản trị marketing – Philip Kotler) Có thể thấy truyền thông marketing có những mục đích cơ bản là thông báo cho khách hàng biết về sự có mặt của doanh nghiệp hay sản phẩm dịch vụ trên thị trường, thuyết phục người tiếp nhận tin về tính nổi trội, khác biệt của sản 9 phẩm dịch vụ của doanh nghiệp mình, từ đó tin dùng và nhắc nhở họ nhớ đến doanh nghiệp, nhớ đến sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp.2 Mô hình truyền thông marketing của doanh nghiệp a. Mô hình truyền thông Quá trình truyền thông là một quy trình khép kín gồm ba thành phần quan trọng là: nguồn phát thông tin (phía gửi tin), kênh truyền tin và nguồn nhận thông tin (phía nhận tin).
Quy trình truyền thông được diễn ra theo mô hình như sau: Kênh truyền Mã thông điệp Mã thông điệp Thông điệp Mã hóa Giải mã Thông điệp Nhiễu Ý tưởng Thông tin thực Người gửi Người nhận (nguồn phát) (nguồn thu) Thông tin phản hổi Hình 1.1 Mô hình truyền thông căn bản Nguồn: Đàm Gia Mạnh, (2008), Giáo trình truyền thông kinh doanh, NXB Thống kê, trang 19 Theo quy trình này: - Phía gửi tin có một ý tưởng cần truyền đi, tiến hành diễn tả ý tưởng đó thành một thông điệp. Thông điệp được truyền đi theo một kênh truyền nào đó tới phía 10 nhận tin. Khi tin truyền trên kênh truyền, mã truyền trước hết, thường được biến đổi thành tín hiệu truyền (quá trình này gọi là tín hiệu hóa), sau đó, tín hiệu truyền được truyền theo đường truyền (và được biến đổi trở lại thành mã thông điệp ở phía nhận tin). Phía nhận tin khi nhận được tín hiệu truyền dưới dạng mã thông điệp thì tiến hành giải mã để rút ra thông tin đích thực (thông điệp) từ mã thông điệp nhận được.
- Một quy trình truyền thông được coi là thành công nếu các thông tin truyền đi được hiểu đúng nghĩa, phía nhận tin hiểu đúng được ý tưởng của phía gửi tin - Nhiễu: trong quá trình truyền thông các thông tin có thể bị nhiễu. Nhiễu là những tác động từ môi trường truyền thông hoặc từ ngay trong hệ thống truyền thông (kênh truyền, thiết bị truyền…) làm sai lệch thông tin đi. Các nguyên nhân chính gây nhiễu là: sai lệch từ nguồn phát tin, sai lệch do các thiết bị truyền thông gây ra, sai lệch do kênh truyền tin gây ra ( tiếng nói không chuẩn,…) thiết bị nhận tin không đáp ứng được yêu cầu, thiết bị hiểu sai ngữ nghĩa. - Mã hóa: là phương thức chuyển đổi thông điệp thành một dạng khác gọi là mã thông điệp.
Mục đích của mã hóa là để đảm bảo tính bảo mật cảu thông điệp trên kênh truyền. Độ bảo mật càng cao thì mã hóa càng phức tạp, nhằm mục đích chỉ người gửi và người nhận mới hiểu được thông điệp đó. - Giải mã: Có thể coi mã thông điệp là không có ý nghĩa đối với những người không liên quan đến thông điệp nhận được. mã thông điệp chỉ có ý nghĩa khi nó được giải mã.
Giải mã là quá trình rút ra thông tin đích thực từ mã thông điệp nhận được dưới dạng đã mã hóa. Việc này được tiến hành nhờ khóa mã. - Kênh truyền thông: là môi trường vật chất để truyền thông tin, quyết định sự thành công của việc truyền thông. Mỗi một kênh truyền thông tin có mực độ truyền tải thông tin khác nhau, có những ưu điểm, nhược điểm riêng.
Do đó, tùy 11 vào điều kiện tiềm lực mỗi doanh nghiệp mà đưa ra lựa chọn sử dụng kênh truyền thông phù hợp. Công cụ truyền thông marketing Để nâng cao hiệu quả truyền thông đến khách hàng, các doanh nghiệp cần sử dụng hỗn hợp các công cụ truyền thông bao gồm: quảng cáo, marketing trực tiếp, khuyến mãi, quan hệ công chúng, bán hàng trực tiếp. Khách hàng có thể nhận được nội dung các thông điệp truy ền thông marketing từ hai nguồn chính là các nguồn bên trong và các nguồn bên ngoài. Nguồn bên ngoài bao gồm các lời khuyên truyền miệng từ bạn bè, từ báo chí.
Nguồn từ bên trong doanh nghiệp bao gồm các thông điệp từ các chức năng marketing truyền thống (từ các kênh truyền thông hai chiều giữa nhân viên bán hàng và khách hàng, và các kênh truyền thông một chiều là quảng cáo). Như vậy, để truyền các thông điệp marketing đến thị trường mục tiêu, doanh nghiệp phải sử dụng kết hợp các công cụ truyền thông khác nhau. - Quảng cáo: bao gồm các hình thức giới thiệu gián tiếp thông qua các phương tiện như đài truyền hình, truyền thanh, báo chí, quảng cáo ngoài trời,… được thực hiện và trả công theo yêu cầu của chủ doanh nghiệp - Marketing trực tiếp: thông qua các phương tiện như điện thoại, fax, mail để thông tin cho khách hàng tiềm năng. - Khuyến mãi: bao gồm nhiều biện pháp để khi doanh nghiệp triển khai sẽ thu hút được nhiều khách hàng sử dụng dịch vụ như giảm giá, tặng quà,… - Quan hệ công chúng: bao gồm tập hợp mọi hoạt động của doanh nghiệp bao gồm bảng tin, hoạt động từ thiện, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hàng năm… nhằm mục đích tạo ấn tượng và thiện cảm từ công chúng 12 Từ quá trình truyền thông căn bản và những công cụ sử dụng trong truyền thông marketing có thể hình dung hệ thống truyền thông marketing của doanh nghiệp như sau: Quảng cáo Quảng cáo Công Giới Người Truyền Doanh Khuyến mại Khuyến mại Trung Tiêu thụ Mi ệng chúng nghiệp Tuyên truyền gian Tuyên truyền Bán hàng Bán hàng Hình 1.
Hệ thống truyền thông marketing Nguồn: Đại học Đà Nẵng (2013)Giáo trình quản trị marketing.3 Quy trình thực hiện mục tiêu truyền thông Để thực hiện bất kỳ mục tiêu nào, doanh nghiệp cũng cần xây dựng và thực hiện một quy trình, truyền thông cũng vậy, thông thường các bước trong quy trình truyền thông bao gồm: a. Xác định phương pháp truyền thông Bước đầu của quy trình là xác định phương pháp truyền thông. Việc xác định phương pháp nào hợp lý cần phải dựa vào sự xem xét kỹ lưỡng bối cảnh truyền thông thông qua việc phân tích thông tin về: 13 - Người gửi thông điệp (nguồn phát tin): là cá nhận hoặc tổ chức, những người có ảnh hưởng đến xã hội, là người công chúng, chính trị gia,… - Người nhận thông điệp (nguồn nhận tin): là người trực tiếp quyết định có sử dụng sản phẩm dịch vụ hay không hoặc những người tác động đến quá trình này. - Mục đích của việc truyền thông: ý định của người truyền thông, mục đích tổng quát, mục tiêu cụ thể là 3 điều luôn có trong mỗi cuộc truyền thông.
Trong đó mục đích tổng quát là cơ bản và bao trùm mục tiêu cụ thể, cũng là kế hoạch dài hạn của người truyền thông. - Thời điểm thực hiện truyền thông: đây cũng là điểm rất quan trọng khi truyền thông, bởi nếu truyền thông không đúng thời điểm có thể khiến thông điệp truyền thông hiểu sai lệch hoặc gây sự không thoải mái đến người nhận tin. Lựa chọn phương tiện truyền thông Có nhiều phương tiện truyền thông để lựa chọn sử dụng đối với mỗi chiến dịch, chương trình. Do đó, biết những ưu điểm, nhược điểm của mỗi phương tiện sẽ giúp doanh nghiệp lựa chọn quyết định phù hợp, từ đó mà đạt kết quả cao.
Có thể căn cứ một số tiêu chí làm cơ sở cho việc quyết định lựa chọn phương tiện, ví dụ như: - Tính cấp thiết của việc truyền thông: phương tiện truyền thông khác nhau có tốc độ truyền tải thông tin khác nhau, chẳng hạn như truyền tin qua các trang báo sẽ khác tốc độ truyền tin qua truyền hình, do vậy tùy tính cấp thiết của việc truyền thông để lựa chọn phương tiện tối ưu nhất. - Vị trí địa lý giữa người nhận tin, người phát tin cũng có liên quan đến việc lựa chọn phương tiện truyền tin. - Kinh phí cho việc tổ chức truyền thông: trên thực tế có những phương tiện truyền thông khá tốn kém,chẳng hạn phát quảng cáo qua truyền hình vào khung 14 giờ vàng sẽ có giá cao hơn việc lựa chọn truyền thông qua báo giấy. Do đó người làm truyền thông cần tính tóa để cân đối với kinh phí dành cho việc tổ chức truyền thông.
- Thói quen: đối với mỗi đối tượng tham gia truyền thông, sử dụng phương tiện nào thường xuyên cũng có ảnh hưởng. Ví dụ như thói quen của đối tượng là thanh niên sẽ khác người già khi sử dụng phương tiện truyền thông, do vậy đây cũng là tiêu chí để người truyền thông cân nhắc lựa chọn phương tiện phù hợp. Tiến hành truyền thông Đây là bước được thực hiện sau khi người làm truyền thông đã có quyết định về phương pháp và phương tiện truyền thông. Lúc này, việc cần làm là chọn lọc và sắp xếp các thông tin cần truyền, áp dụng phương tiện đã chọn để tiến hành truyền thông, bên cạnh đó là thu thập được các phản hồi để biết việc truyền thông có hiệu quả hay không.
Kiểm định mục tiêu truyền thông: Công việc truyền thông có đạt hiệu quả như mong đợi hay không cần đánh giá qua những thông tin phản hồi của đối tượng khách hàng doanh nghiệp hướng đến.