phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 2 chương, 6 tiết. 8 Footer Page 12 of 107. Header Page 13 of 107. Chƣơng 1 ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TƢ TƢỞNG THIỀN CỦA TRẦN THÁI TÔNG 1.
Điều kiện về kinh tế, chính trị xã hội khi xuất hiện nhà Trần Tƣ tƣởng Thiền của Trần Thái Tông đƣợc hình thành trong những điều kiện kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa, tƣ tƣởng nhất định của Đại Việt thời nhà Trần. Tiền đề về kinh tế xã hội, chính trị Về kinh tế xã hội, Cuối triều Lý, bƣớc sang thế kỉ XIII đất nước rơi vào cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội trầm trọng. Cùng với sự suy sụp của chính quyền trung ương các lãnh chúa phong kiến địa phương nổi dậy cát cứ, cuộc sống người nông dân và những người lao động tự do ngày càng tồi tệ. Họ bị quan lại bóc lột nặng nề, sưu cao, thuế nặng, lại thêm thiên tai bất thường, mất mùa liên miên.
Nạn đói khủng khiếp năm 1181 làm cho quá nửa dân số chết đói. Để trốn tránh tô thuế và nghĩa vụ lao động, nhiều người đã rời bỏ quê hương, sống tha phương cầu thực. Sự bất bình trong dân chúng ngày càng tăng. Đã xuất hiện những cuộc khởi nghĩa, trong đó cuộc khởi nghĩa lớn nhất là của Thanh Lôi (1140 -1141), Lê Văn (1180 -1182), Phí Lăng (1202 -1215).
Đất nước trong những năm 20 của thế kỷ XIII bị hỗn loạn bởi những cuộc chiến tranh tương tàn giữa các nhóm phong kiến cát cứ khi đó. Nhóm có ảnh hưởng lớn nhất là nhà Trần ở Hải Ấp (Thái Bình), Đoàn Thương ở Hoàng Châu (Hải Hưng), Nguyễn Tư ở Quốc Oai (Hà Tây), Nguyễn Nộn ở Bắc Giang (Hà Bắc). Thủ đô Thăng Long nhiều lần bị đánh phá. Các vua Lý bất lực và phải khi thì dựa vào nhóm này, khi thì dựa vào nhóm khác.
Nhân dân vô cùng đau khổ vì những cuộc chiến tranh nội bộ này. Trong quá trình hỗn lọan đó, họ Trần dần dần thâu tóm được lực lượng và cuối cùng thâu phục được tất cả các lực lượng cát cứ khác. Vua cuối cùng của nhà Lý là Lý Huệ Tông bị bệnh, và do không có con trai nên buộc phải 9 Footer Page 13 of 107. Header Page 14 of 107.
nhường ngôi cho con gái bẩy tuổi là Lý Chiếu Hoàng, song Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh. Trần Cảnh lên ngôi sáng lập ra triều Trần (1226 -1400) [14, tr. Về k t , sang triều nhà Trần, lực lượng sản xuất bắt đầu khởi sắc lại và được phục hồi và phát triển. Nhà Trần rất chú ý đến chính sách trọng nông, khuyến khích nông nghiệp, lo khuếch trương diện tích canh tác.
Các vị vua đầu tiên của nhà Trần có chính sách cho quân lính và thường dân khai khẩn đồn điền, đặt hẳn ở mỗi lộ hai chức Đồn điền chánh phó sứ để đôn đốc việc ấy [2, tr. Năm 1236, Trần Khoán hạ chiếu cho các vương hầu, công chúa, phò mã, cung tần sai nô tỳ khai khẩn đất hoang đề làm biệt trang. Cùng với chính sách “Ngụ binh ư nông” kết hợp kinh tế với quốc phòng, nhà Trần đã lập ra Ty Khuyến nông, đặt các chức quan Hà đê chánh phó sứ. Năm 1248, cho đắp đê dọc theo Nhị Hà từ đầu nguồn đến bờ biển, đoạn chảy qua kinh thành Thăng Long gọi là đê Đỉnh Nhĩ (Quai vạc).
Hàng năm, mọi người đều có nghĩa vụ lao động tu sửa đê, học sinh Quốc Tử Giám cũng không được miễn trừ. Các vua Trần cũng thường xuyên đi thăm việc đắp đê, sửa đê. Hành khiển Trần Khắc Chung thì lập luận về trách nhiệm của nhà vua đối với thiên tai giáng xuống người dân rằng “Khi dân nạn lụt, người làm vua phải cứu giúp tai họa khẩn cấp đó, sửa đức chính không gì lớn hơn việc ấy”. Để đảm bảo nguồn quốc khố, công dân các làng xã đã phải chịu nghĩa vụ tô thuế và lao dịch.
Tô chủ yếu đánh vào ruộng công tính bằng thóc, theo diện tích ruộng đất, hàm ý cày ruộng của nhà vua. Thuế chủ yếu đánh vào ruộng tư, tính bằng tiền theo đầu người, hàm ý đó là nghĩa vụ của người có ruộng. Năm 1378, nhà Trần bắt đầu thu thuế thân, đồng loạt mỗi hộ đinh nam 3 quan tiền [27, tr. Do vậy nền kinh tế quốc dân cũng dần mạnh lên.
Bắt đầu có phân biệt hình thức thủ công nghiệp Nhà nước và thủ công nghiệp nhân dân. Nhà Trần còn xây dựng quân xưởng thủ công nghiệp Nhà nước, với nhiều ngành nghề khác nhau như nghề sản xuất các đồ gốm, nghề dệt, xưởng chế tạo vũ khí. được coi là thành phần kinh tế quan trọng. Thủ 10 Footer Page 14 of 107.
Header Page 15 of 107. công nghiệp nhân dân là bộ phân quan trọng gắn liền với tiểu thủ công nghiệp, của các tiểu nông. Chợ, phố, lị, sở và các phủ lộ và kinh đô Thăng Long là thị trường trao đổi sản phẩm, với các sản phẩm thiết yếu như gốm, đồ sắt, đồ đồng, giấy và bản khắc in, đồ mộc, xây dựng, và cả khai khoáng… [38, tr. Như vậy, mạng lưới thương nghiệp gắn kết các thành thị đã tạo nên một hệ thống giao thông thủy bộ trong cả nước.
Đây cũng là một trong những điều quan tâm từ đầu của nhà Trần. Năm 1244, Thái Tông lập Ti Thủy lộ đề hình nhằm mục đích mở rộng các đường sông và đường bộ từ Thăng Long về các phủ, lộ, chủ yếu là ở vùng đồng bằng Bắc bộ và Thanh Nghệ. Hệ thống giao thông giữa các sông, và song với biển và kết hợp với giao thông trên bộ thời Trần không chỉ phục vụ cho yêu cầu quân sự mà cũng có nhiều tác dụng tốt cho thương nghiệp nói chung, thúc đầy nền kinh tế cả nước cùng phát triển. Tiền được dùng như là phương tiện lưu thông hàng hóa phổ biến lúc đó.
Các vua thời Trần đều cho đúc tiền. Trên thị trường còn sử dụng nhiều tiền Trung Quốc. Nhà Trần đã khuyến khích mở rộng việc mua bán đất bằng tiền, hay nộp tiền đề lấy quan chức. Nhà Trần có phân chức Quan xưởng đảm nhiệm việc đúc tiền.
Đơn vị tiền lúc đó là mỗi quan tiền bằng 10 tiền, mỗi tiền là 70 đồng [38, tr. Đồng tiền góp phần thúc đẩy mạng lưới nội thương phát triển nhanh, như là hệ thống chợ ở đồng bằng sông Hồng, chợ phố. Các trung tâm phủ lị bên sông lớn đều là các đầu mối giao thông đường thủy. Trung tâm lớn hơn là phố.
Đô thành Thăng Long là trung tâm chính trị, văn hóa đồng thời là một trung tâm kinh tế lớn nhất của Đại Việt bấy giờ. Vào thời Trần, An phủ sứ Thiên Trường cũng gần ngang với Đại An phủ sứ Thăng Long. Tuyến đường biển giao thông với các nước láng giềng thời Trần cũng góp phần tích cực thúc đẩy ngoại thương phát triển. Thuyền các nước như Giava (Diệp Điều), Miến Điện (Thiện), Ấn Độ (Thiên Trúc) cũng từng cập bến trên các hải cảng nước ta.
Bấy giờ đã có những khách ngoại quốc đến 11 Footer Page 15 of 107. Header Page 16 of 107. buôn bán, nhiều nhất có lẽ là người Trung Quốc. Tại biên giới Việt Trung vẫn có những sở bạc, tức là những nơi buôn bán quốc tế có từ thời Lý.
Các thương cảng như Vân Đồn, Cửa Cờn, Cửa Vạn đều thịnh vượng như thời trước. Nhưng về sau, (năm 1349) nhà Trần đặt trấn giữ một số cửa biển, chỉ cho các thuyền buôn ngoại quốc chỉ tụ tập ở Vân Đồn, nên hải cảng này trở thành trung tâm mậu dịch đối ngoại quan trọng duy nhất. Vân Đồn còn là là địa điểm chiến lược xung yếu. Sau này, trong cuộc tập kích của Trần Khánh Dư đã tiêu diệt hạm đội vận lương của quân Nguyên trong năm 1287.
Quan hệ Phật giáo với nhà nước trong thời Trần khá chặt chẽ. “Đất của vua, chùa của làng” là câu nói cho thấy quan niệm xác nhận sự tồn tại tự nhiên của Phật giáo bởi nhà nước Việt Nam. Nhà Trần cũng đã có chế độ tô thuế cho loại ruộng công của làng xã và ruộng tư của cá nhân (năm 1242) “Nhân đinh có ruộng đất thì nộp tiền thóc, có 1-2 mẫu thì nộp tiền 1 quan, có 3 - 4 mẫu thì nộp 2 quan tiền, từ 5 mẫu trờ lên thì nộp 3 quan tiền. Tô ruộng mỗi mẫu nộp 100 thăng thóc”.
193] Có thể nói bắt đầu có sự tích tụ ruộng đất trong giới quý tộc nhà Trần và theo đó Phật giáo cũng phát triển theo. Trong bối cảnh kinh tế như vậy, chính trị-xã hội thời Trần cũng diễn ra sự phân hóa giai tầng xã hội mạnh mẽ. Nhìn chung xã hội thời Trần đã hình thành và tồn tại ba đẳng cấp chính: quý tộc, tôn thất; những người bình dân; nô tỳ. Đối với đẳng cấp thứ nhất - giai cấp quý tộc vương hầu, tôn thất nhà Trần - có vị trí và quyền lực cao nhất trong xã hội phong kiến lúc đó.
Đẳng cấp thứ hai gồm chủ yếu là dân lao động làng xã gồm nông dân, thợ thủ công, thương nhân và điạ chủ nhỏ. Trong đó, những người lao động làng xã chiếm đại đa số trong xã hội và là lực lượng chủ sản xuất yếu. Họ cũng là lực lượng gánh vác nhiều nghĩa vụ xã hội nhất, một trong những nghĩa vụ đó là đóng thuế cho triều đình. 12 Footer Page 16 of 107.
Header Page 17 of 107. Đối với đẳng cấp thứ ba- nô tỳ, họ bị coi là những người thấp kém nhất trong xã hội. Họ xuất thân từ nhiều nguồn gốc, có thể là dân nghèo bị bán làm nô lệ, có thể là tội nhân bị sung làm nô hay tù binh. Họ thường làm nhiều việc khác nhau: trong nhà quý tộc, quan lại thì gọi là “gia nô”; Làm trong đồn điền hay ruộng công và các công việc khác gắn với của Nhà nước thì gọi là nô lệ của Nhà nước.
Địa vị xã hội của nô tỳ rất thấp hèn và có thể bị mua bán. Họ cũng trở thành tài sản có thể tích lũy của giai cấp cao nhất và của công quyền. 84] Luật pháp nhà Trần vừa hàm chứa những quan điểm thân dân vừa tỏ ra hà khắc đối với một số trọng tội. Năm 1230, Trần Thái Tông đã cho xét các luật lệ đời trước, sửa đổi san định thể lệ cho làm ra sách Quố tr ều T ô gồm 20 quyển.
Năm 1341, triều đình đã cử Trương Hán Siêu và Nguyễn Trung Ngạn biên soạn bộ H tr ều ển và khảo đính bộ Hì T để ban hành. Cơ quan chuyên trách việc kiện tụng lúc đầu là Đô Vệ phủ, sau đổi Tam ty viện.