CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH – KHỦNG HOẢNG NỢ I. Khủng hoảng tài chính. Khủng hoảng tài chính là gì? Sự phát triển của hệ thống tài chính toàn cầu bờn cạnh việc mang lại những cơ hội lớn cho mỗi quốc gia, mỗi dõn tộc thì đồng thời cũng tiềm ẩn những nguy cơ khủng hoảng. Khủng hoảng kinh tế là sự suy giảm của hoạt động kinh tế kéo dài và trầm trọng hơn cả suy thoái trong chu kỳ kinh tế.
Khủng hoảng kinh tế lên đến đỉnh điểm là nguyên nhân xảy ra khủng hoảng tài chính; vì khủng hoảng kinh tế bị suy thoái, khủng hoảng sản xuất thừa sẽ làm gia tăng nhu cầu sử dụng tiền cho mục đích tiêu dùng hàng hóa. Khủng hoảng tài chính xảy ra khi nhu cầu tiền vượt quá nguồn cung của xã hội. Nhu cầu về tiền của nhân dân hay của các nhà đầu tư trong và ngoài nước đã gây ra sức ép cho hệ thống ngân hàng và tổ chức tài chính khiến cho ngân hàng và các tổ chức tài chính có thể sụp đổ. Khủng hoảng tài chính chỉ là một phần của khủng hoảng kinh tế nhưng khủng hoảng tài chính lại gây ra thiệt hại lớn nhất vỡ cỏc nước có tự do thương mại, nguồn vốn được di chuyển qua những nước khác nhau nên khủng hoảng tài chính là yếu tố lây lan còn khủng hoảng kinh tế nó không có yếu tố trực tiếp lây lan.
Như vậy có thể nói, khủng hoảng tài chính có một lịch sử khá dài gắn liền với sự ra đời và phát triển của hệ thống tài chính trong nền kinh tế thế giới. Mặc dự có những điểm giống nhau, nhưng các cuộc khủng hoảng những năm vừa qua khác với các cuộc khủng hoảng trước đõy trờn nhiều khía cạnh quan trọng, đặc biệt là ở tác động quá mức và khả năng lõy lan của khủng hoảng dường như rất lớn và vượt quỏ khả năng kiểm soát. Khủng hoảng tài chính (Financial Crisis) là tình trạng tài chính (quỹ) mất cõn đối nghiêm trọng có thể dẫn đến sụp đổ quỹ. Đặc trưng của mỗi quỹ (fund) cấu thành 4 nên hệ thống tài chính là các dũng tiền vào/ra (input/output), nhận/thanh toỏn (receipt/payment), hình thành tài sản có/tài sản nợ (assets/liabilities).
Khi xảy ra hiện tượng mất cân đối nghiêm trọng giữa tài sản có và nghĩa vụ phải thanh toán về số lượng, thời hạn, c h ủ n g loại tiền thì có thể xảy ra khủng hoảng tài chính. Như vậy, khủng hoảng tài chính là khái niệm bao trùm được sử dụng chung cho mọi loại khủng hoảng gắn với mất cân đối về tài chính và thường là gắn với nghĩa vụ phải thanh toán lớn hơn nhiều phương tiện dùng để thanh toán tại một thời điểm nào đó. Chính vì vậy, khủng hoảng tài chính có đ ặ c điểm của khủng hoảng “thiếu” chứ không giống khoảng “thừa” diễn ra trong nền kinh tế thị trường từ nhiều năm n a y. Nói một cách cụ thể ra thì khủng hoảng tài chính là sự đổ vỡ trầm trọng các bộ phận của thị trường tài chính kéo theo sự vỡ nợ của hàng loạt ngân hàng và tổ chức tài chính, khiến chúng không thể thực hiện được hai chức năng cơ bản nhất: Thứ nhất, ổn định giá trị đồng tiền hoặc các tài sản tài chính như một phương tiện giao dịch, cất trữ tài sản.
Thứ hai, là trung gian chuyển vốn tiết kiệm vào những dự án đầu tư có hiệu quả nhất. Hệ quả của khủng hoảng tài chính là nền kinh tế bị đẩy ra khỏi quỹ đạo tăng trưởng tiềm năng, gây nên sự sụt giảm mạnh về sản lượng, việc làm, đi kèm với lạm phát, hoặc gây nguy cơ bùng nổ lạm phát. Có thể sơ bộ chia ra 3 quan điểm chính về khủng hoảng tài chính: Nhóm thứ nhất là những người theo chủ thuyết tiền tệ (Monetarists View), dẫn đầu là Friedman và Schwartz (1963). Họ cho rằng: Khủng hoảng tài chính là do sự hoảng loạn của hệ thống ngân hàng (banking panics), gây nên sự co hẹp cung tiền tệ, dẫn đến sự suy thoái trong tổng cầu tiêu dùng và đầu tư.
Họ bỏ qua những nguyên nhân thực như: sự sụt giảm hiệu quả của nền kinh tế, sự suy sụp của nhiều doanh nghiệp. Vì vậy, theo họ, sự can thiệp của Chính phủ là không cần thiết, thậm chí có hại, bởi vì những doanh nghiệp bị phá sản lại được cứu vớt, gây nên sự gia tăng quá mức về cung tiền tệ và dẫn tới lạm phát. 5 Nhóm thứ hai là nhóm đối lập nhóm theo chủ thuyết tiền tệ là Keynesian View, dẫn đầu là Kindleberger (1978) và Misky (1972). Họ có quan niệm rộng hơn về khủng hoảng tài chính và tiền tệ, bao gồm sự sụt giảm hầu hết giá trị cổ phiếu, sự vỡ nợ của nhiều công ty tài chính và phi tài chính, nạn giảm phát đi kèm với sự rối loạn của thị trường ngoại hối.
Những yếu tố này gây nên sự sụt giảm mạnh về tổng cầu đầu tư và tiêu dùng, vì thế cần phải có sự can thiệp của Nhà nước. Điều đáng nói là họ không đưa ra một đặc trưng rõ ràng về nguồn gốc của khủng hoảng, để làm tiền đề cho một chính sách kích thích có hiệu quả. Vì vậy, sự can thiệp của Chính phủ rất dễ dẫn đến lạm phát và trì trệ, như những người theo chủ thuyết tiền tệ đã lưu ý. Nhóm thứ ba nhấn mạnh tới bản chất rủi ro của hoạt động tài chính, dẫn đầu là Stiglitz và Weiss (1981).
Theo họ, hoạt động của hệ thống tài chính, đặc biệt là ngân hàng, chịu rủi ro cao, do ngân hàng đầu tư hay tổ chức cho vay thường không nắm rõ thông tin về khả năng sinh lợi và mức độ rủi ro của dự án đầu tư bằng cỏ nhân hay tổ chức đi vay, tức là những người chủ dự án. Sự khác biệt về thông tin (asymetry of information), hay sự thiếu minh bạch về thông tin dự án, khiến cho hệ thống tài chính có thể có vấn đề, bởi vì ngân hàng muốn ép lãi suất thực, cộng cỏc phớ dịch vụ cho vay tăng lên để bù cho rủi ro mất vốn có thể xảy ra. Nhưng điều này lại khiến cho những dự án có độ rủi ro cao nhất mới hy vọng có khả năng sinh lãi đủ cao để trả nợ (nếu may mắn thành công). Ngược lại, nếu đó là dự án của những doanh nghiệp vừa và nhỏ, với độ rủi ro ít (mức sinh lãi thấp hơn), thì họ sẽ khó có thể được vay vốn.
Vì vậy, khi lãi suất cho vay tăng lên thì: + Sẽ có một tỷ lệ lớn những chủ các dự án với độ rủi ro cao hơn (như đầu cơ vào bất động sản, chứng khoán thời bong bóng) đi săn lùng vốn vay. Trong khi đó, những doanh nghiệp vừa và nhỏ, với những nhà đầu tư cẩn trọng, sẽ bị loại ra khỏi danh sách các ứng cử viên. Người ta gọi đây là sự chọn lầm phải điều ngụy hại (adverse selection), theo Akerlof (1974). 6 + Với những chủ dự án lớn đã vay được vốn, thì họ có xu hướng làm thay đổi bản chất dự án mang tính đầu cơ cao hơn hoặc có vẻ quan trọng hơn, để Nhà nước không thể để cho bị thất bại.
Do vậy, họ có thể giàu lên nhanh chóng, nếu việc đầu cơ thành công; và để ngân hàng chịu tích tụ những khoản nợ xấu; hay xã hội phải gánh vác tổn thất qua gánh nặng cứu trợ ngân sách nếu dự án bị thất bại. Người ta gọi đây là hiểm họa do sự vô trách nhiệm (moral hazard). Chớnh vì những lý do trên đây, những người theo trường phái kinh tế học thể chế (institutional economics) cho rằng hoạt động của ngân hàng nói riêng và hệ thống tài chính nói chung phải được giám sát hết sức cẩn trọng, nhằm hướng các giao dịch tới sự an toàn (Aoki 1991; Mc Kinmon 1991). Ngoài sự phân loại chức năng các ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư và các quỹ đầu tư theo mức độ rủi ro của từng lĩnh vực đầu tư, cần phải có nhiều tổ chức trung gian khác làm chức năng giám sát và cảnh báo rủi ro.
Chẳng hạn như các tổ chức xếp hạng (rating companies), mà họ thường xuyên có sự thay đổi trạng thái tài chính của các tổ chức tài chính và phi tài chính. Sự xếp hạng này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng của các công ty trong việc gây quỹ từ thị trường vốn hay thị trường chứng khoán. Nhìn chung, cho dù thuộc trường phái kinh tế nào, thì vẫn có một sự nhất trí rằng, hệ thống tài chính cần phải được giám sát chặt chẽ, do tính phức tạp và rủi ro của hoạt động này; và việc thiếu sự quản lý, giám sát luôn dẫn đến bong bóng đầu cơ. Tuy nhiên, chỉ khi việc mất cân đối vĩ mô trỡ nên rất nghiêm trọng thì bong bóng đầu cơ mới có thể dẫn đến khủng hoảng tài chính và kinh tế trên quy mô lớn.
Những nhà đoạt giải thưởng Nobel kinh tế đã phát biểu quan điểm này bao gồm: Paul Krugman, Edmund S.Phelps, Reinhard Selten và Josep Stiglitz. Họ nhấn mạnh rằng, khủng hoảng có thể tránh được nếu có một hệ thống giám sát tài chính và cảnh báo rủi ro tốt. Vì vậy, họ cho rằng, không phải cứ tự nhiên mà có sự can thiệp của Chính phủ thông qua cỏc gúi kích thích, nếu như không hiểu rõ khiếm khuyết gì trong thể chế tài chính đã đẩy đến khủng hoảng. Dấu hiệu của khủng hoảng tài chính.
Tùy theo mức độ và phạm vi, khủng hoảng tài chính thể hiện ở các điểm sau đây: Sự giảm giá dây chuyền của các đồng tiền. Tỷ giá hối đoái tăng đột biến và dây chuyền. Lãi suất tín dụng gia tăng: lãi suất tăng kéo theo cầu tiền tệ, cầu tín dụng sụt giảm làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh bị suy giảm. Hệ thống ngân hàng bị tê liệt: Các ngân hàng thương mại (NHTM) không hoàn trả được các khoản tiền gửi của người gửi tiền và các khách hàng vay vốn không thể hoàn trả đầy đủ các khoản vay cho ngân hàng.
Thị trường cổ phiếu sụt giá nhanh chóng. Các hoạt động kinh tế bị suy giảm. Chính phủ từ bỏ chế độ tỷ giá hối đoái cố định. Nguyên nhân của các cuộc khủng hoảng.
Tăng lãi suất: Nếu lãi suất trên thị trường được nâng lên một cách mạnh mẽ vì nhu cầu tín dụng tăng lên hoặc vì sự sụt giảm lượng tiền cung ứng thì những vụ mạo hiểm vay tín dụng xấu vẫn có nhiều khả năng xảy ra. Điều này sẽ làm tăng lựa chọn đối nghịch, khiến người cho vay không muốn thực hiện cỏc mún vay.