Đặt vấn đề Trong thời kì công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nƣớc, sự tăng trƣởng về kinh tế và khoa học kỹ thuật không ngừng góp phần nâng cao chất lƣợng cuộc sống. Đời sống đƣợc cải thiện, nhu cầu lựa chọn thực phẩm tốt cho sức khỏe đang đƣợc xã hội quan tâm khi an toàn thực phẩm đang là vấn đề cấp thiết, chính vì vậy việc sử dụng sản phẩm có nguồn gốc thiên nhiên tốt cho sức khỏe đang đƣợc ngƣời tiêu dùng ƣu tiên lựa chọn. Nƣớc ta là một nƣớc nông nghiệp đặc thù, nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới rất thích hợp cho sản xuất nông nghiệp. Trong đó Chùm Ngây và Cỏ Ngọt là một trong những loại thực vật có giá trị dinh dƣỡng cao, đặc biệt có thể sử dụng làm thực phẩm chức năng và thức uống tốt cho sức khỏe.
Hiện nay hai loại cây này đƣợc trồng phổ biến trên diện tích lớn với quy mô công nghiệp. Cây Chùm Ngây có chứa hơn 90 chất dinh dƣỡng tổng hợp, chất chống oxy hóa, chất kháng ung thƣ, những chất dinh dƣỡng cần thiết bồi bổ sức khỏe, chống lại các chứng bệnh suy thoái nhƣ: chất đạm, vitamin, β–carotene, acid amin. Đặc biệt trong cây Chùm Ngây còn chứa nhiều hợp chất phenolices, β–sitosterol caffeoylquinic acid zeatin, quercetin và kaempferol hiếm có trong các loài cây khác. Cây Cỏ Ngọt hiện nay đƣợc trồng phổ biến ở nhiều nơi công dụng làm chất tạo ngọt và làm thuốc.
Hoạt chất chính trong Cỏ Ngọt là glycosid, có độ ngọt gấp 300 lần so với đƣờng mía. Vì vậy Cỏ Ngọt đƣợc sử dụng trong các thực đơn ít năng lƣợng để điều trị các bệnh nhƣ béo phì, cao huyết áp. Mà các loại thực phẩm khác không có đƣợc. Với những lợi ích trên nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng của ngƣời tiêu dùng hiện nay, tạo ra sản phẩm có lợi cho sức khỏe và làm đa dạng các sản phẩm trà túi lọc trên thị trƣờng, với đề tài “Chế biến trà túi lọc Chùm Ngây và Cỏ ngọt” là một hƣớng đi thích hợp.2 Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu đề tài là xây dựng quy trình chế biến trà túi lọc từ Chùm Ngây và Cỏ Ngọt góp phần đa dạng hóa sản phẩm trà và nâng cao thu nhập cho ngƣời trồng.3 Nội dung nghiên cứu Khảo sát ảnh hƣởng của thời gian lên men đến chất lƣợng trà.
Khảo sát ảnh hƣởng của nhiệt độ và thời gian sấy đến chất lƣợng trà. Khảo sát ảnh hƣởng của tỷ lệ Cỏ Ngọt bổ sung vào Chùm Ngây đến chất lƣợng trà. 1 Luận văn tốt nghiệp đại học 2017 SVTH: Lý Thị Thu Thảo CHƢƠNG 2. LƢỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.1 Giới thiệu Chùm Ngây Chùm Ngây tên khoa học là Moringa oleifera Lam, hay M.
Pterygosperma, thuộc họ Chùm Ngây (Moringaceae), bao gồm khoảng 14 loài phân bố ở các vùng nhiệt đới trên thế giới (Ndabigengesere và Narasiah, 1996). Tên chi Moringa có lẽ do từ tên Mã Lai của cây là Murinna, tên loài oleifera có nghĩa là chứa dầu (Võ Văn Chi, 1999). Chùm Ngây còn đƣợc gọi là cây “thần diệu” vì nó chứa rất nhiều chất dinh dƣỡng quan trọng nhƣ các vitamin, protein, các acid amin và các acid béo (acid oleic > 70%) (Amagolo et al., 2010; Rashid et al., 2008) nhiều hợp chất có tác dụng sinh học: zeatin, flavonoid,. (Costa – Lotufo et al., 2005; Guevara et al.
Chính vì thế, Chùm Ngây đã đƣợc nghiên cứu rất nhiều trong thực phẩm, y học và các ứng dụng môi trƣờng (lọc nƣớc, biodiesel) tại nhiều quốc gia khác trên thế giới nhƣ: Ấn Độ, Pakistan, Ghana,… (Fahey, 2005; Sabale et al. Theo y học Ấn Độ cũng đã xác định đƣợc 300 bệnh khác nhau đƣợc điều trị bằng lá cây Chùm Ngây (Martin, 2000).2 Vị trí phân loại Giới Thực vật: Plantae Ngành Ngọc lan: Magnoliophyta Lớp Ngọc lan: Magnoliopsida Bộ Cải: Brassicales Họ Chùm ngây: Moringaceae Chi: Moringa Loài: Moringa oleifera Lam. 2 Luận văn tốt nghiệp đại học 2017 SVTH: Lý Thị Thu Thảo 2.3 Đặc điểm sinh học của Chùm Ngây 2.1 Đặc điểm sinh học Theo Giáo sƣ – Tiến sĩ Nguyễn Văn Luật, vào những năm cuối thế kỉ XX, Đạo sứ Hoàng gia Anh đã tài trợ cho Viện lúa Đồng bằng sông Cửu Long nghiên cứu trồng cây Chùm Ngây dùng làm rau xanh và thuốc tại Ô Môn và một số tỉnh ở Nam Bộ [2]. Cây Chùm Ngây là cây lá xanh quanh năm, là cây phân cành thấp, cây gỗ phát triển nhanh từ 5 – 10 m.
Lá kép thƣờng là 3 lần lông chim, có 6 – 9 đôi lá chét hình trứng, mọc đối. Hoa trắng có cuống, hơi giống hoa đậu, mọc thành chùm ở nách lá, mỗi một hoa là một tổ hợp gồm 5 cánh hoa bằng nhau, rộng khoảng 2,5 cm, bộ nhị gồm 5 nhị thụ xen với 5 nhị lép. Bầu noãn 1 buồng do 3 lá noãn đính phôi trắc mô (Trần Việt Hƣng và Võ Duy Huấn, 2007). Quả nang treo, có 3 cạnh, ngang 2 cm, dài 25 – 30 cm, hơi gồ lên ở chỗ có hạt, khía rãnh dọc.
Hạt màu đen, to bằng hạt đậu Hà Lan, hình tròn có 3 cạnh và 3 cánh màu trắng dạng màng bao quanh [3]. Thân có vỏ màu trắng xám, dày, mềm, sần sùi nứt nẻ, gỗ mềm và nhẹ. Khi bị thƣơng tổn, thân rỉ ra nhựa màu trắng, sau chuyển dần thành nâu (Nguyễn Thế Nhã và Trần Văn Mão, 2004). Hệ thống rễ phát triển mạnh nếu đƣợc trồng từ hạt, phình to nhƣ củ màu trắng với những rễ bên thƣa.
Nếu trồng bằng cách giâm cành, rễ sẽ không đƣợc nhƣ trồng từ hạt (Brossa et al. Khi trồng lâu năm chiều cao tối đa đến 10 – 12 m, đƣờng kính thân cây 20 – 40 m. Cây chùm ngây thuộc loài mọc nhanh, phát triển nhanh chóng ở những vùng có điều kiện thuận lợi, có thể tăng trƣởng chiều cao từ 1 – 2 m/năm trong vòng 3 đến 4 năm đầu. Tuy nhiên, trong một thử nghiệm của Tanzania, cây trồng từ hạt có thể đạt đƣợc chiều cao trung bình 4,1 m trong năm đầu tiên (Phạm Hoàng Hộ, 1999).
Trong điều kiện tự nhiên, không biết cây sống đƣợc bao lâu. Cây bắt đầu cho quả từ thân và nhánh từ sau 6 đến 8 tháng trồng (Brossa et al. Chùm Ngây có thể sống và phát triển tốt trên nhiều loại đất, từ loại đất đỏ baazan ở Tây Nguyên đến đất sét pha cát hoặc trên đất cát của vùng ven biển (Phạm Hoàng Hộ, 1999). Ở Ấn Độ, hàng năm có 2 vụ hoa quả thậm chí có hoa rải rác quanh năm.
Ngƣời ta có thể thu hái quả non làm rau sau 55 – 70 ngày kể từ ngày nở hoa và quả chín sau 100 – 115 ngày. Theo một số báo cáo thì Chùm Ngây chịu đƣợc nhiệt độ từ 18,7 – 28,5 oC và pH khoảng 4,5 – 8 (Chu Phạm Ngọc Sơn, 2010).2 Sinh sản, tái sinh, nhân giống Ở Việt Nam cây trổ hoa vào tháng 1 và 2 (Phạm Hoàng Độ, 1999; Trần Hợp, 2000; Nguyễn Thế Nhã, Trần Văn Mão, 2004). Cây ra hoa rất sớm, thƣờng ngay trong năm đầu tiên, khoảng 6 tháng sau khi trồng. Cây khoảng 12 năm tuổi là cho hạt tốt 3 Luận văn tốt nghiệp đại học 2017 SVTH: Lý Thị Thu Thảo nhất.
Quả chín, hạt giống phát tán khắp nơi theo gió và nƣớc, hoặc đƣợc mang đi bởi những loài động vật ăn hạt (Võ Văn Chi, 2003). Khả năng nảy mầm của hạt còn mới là 60 – 90%. Tuy nhiên khả năng này không giữ đƣợc nếu hạt đƣợc lƣu giữ ở điều kiện thƣờng quá 2 tháng. Kết quả thử nghiệm ở Ấn Độ, tỉ lệ nảy mầm giảm dần từ 60%, 48% và 7,5% tƣơng ứng với thời gian lƣu trữ hạt là 1, 2 và 3 tháng (Rubeena saleem, 1995).
Cây có thể trồng bằng hạt hoặc bằng cách giâm cành: trồng bằng hạt là phƣơng pháp đơn giản. Cây trồng từ hạt có sức sống cao, tuy nhiên trong giai đoạn đầu cây yếu nên cần đƣợc chăm sóc trong điều kiện bóng mát. Biện pháp giâm cành có thể thực hiện, tuy nhiên hiệu quả không bằng gieo hạt thƣờng tiến hành giâm cành vào mùa mƣa, khi điều kiện không khí đạt đƣợc độ ẩm thích hợp [9].4 Thành phần hóa học cây Chùm Ngây 2.1 Rễ cây Chùm Ngây Chứa hợp chất glucosinolates: nhƣ 4–(α–L–rhamnosyloxy) benzyl glucosinolate (khoảng 1%), sau khi chịu tác động của enzyme myrosinase sẽ cho 4–(α–L–rhamnosyloxy) benzylisothiocyanate, glucotropaeolin (khoảng 0,05%) và benzylisothiocyanate (Rubeena Saleem, 1995).2 Benzyl glucosinolat (http://www.com/Chemical-Structure.2 Hạt cây Chùm Ngây Hạt chứa glucosinolate nhƣ trong rễ, có thể lên đến 9% sau khi hạt đã đƣợc khử chất béo [4]. Các acid loại phenol carboxylic nhƣ 1–β–D–glucosyl 2, 6 dimethyl benzoate.
Ngoài ra hạt còn chứa chất béo 33 – 38% đƣợc dùng trong dầu ăn và kỹ nghệ hƣơng liệu, thành phần chính gồm các acid béo nhƣ oleic acid (60 – 70%), palmitic acid (3 – 12%), stearic acid (3 – 12%) và các acid béo khác nhƣ behenic acid, eicosanoic và lignoceric acid. 4 Luận văn tốt nghiệp đại học 2017 SVTH: Lý Thị Thu Thảo 2.3 Lá cây Chùm Ngây Chứa các hợp chất thuộc nhóm flavonoids và phenolic nhƣ kaempferol 3–O– α–rhamnosid, kaempferol, syringic acid, gallic acid, rutin, quercetin 3–O–β– glucosid (Rubeena Saleem, 1995). Các flavonol glycosid đƣợc xác định đều thuộc nhóm kaempferid nối kết với các rhamnosid hay glucosid [5].3 Quercetin (http://www.com/Chemical-Structure .4 Kaempferol (http://www.com/Chemical-Structure.4 Hoa Chùm Ngây Hoa chứa polysaccharide đƣợc dùng làm chất phụ gia trong dƣợc phẩm. Rễ chứa glucosinolat nhƣ: 4–(α–L–rhamnosyloxy) benzyl glucosinolat 1% sau khi chịu tác động của myrosinase sẽ cho 4–(α–L–rhamnosyloxy) benzyl isothiocyanat 0,05% và benzylisothicocyanat [5].5 Nhựa cây Chùm Ngây (Gôm) Gôm chiết từ vỏ cây có chứa arabinose, galactose, acid glucuronic và vết rhamnose.
Từ gôm, chất leucoanthocyanin đã đƣợc chiết và xác định là leucodelphinidin, galactopyranosyl, glucopyranosid (Phạm Hoàng Hộ, 2006). Gôm còn chứa các chất có hoạt tính sinh học nhƣ Niazitridin và Niairin (Bhatnagar et al.5 Công dụng của cây Chùm Ngây 2.1 Thành phần dinh dƣỡng của cây Chùm Ngây Cây Chùm Ngây (Moringa oleifera) chứa hơn 90 chất dinh dƣỡng tổng hợp. Những chất dinh dƣỡng cần thiết để giữ gìn sức khỏe con ngƣời. Vitamin C của Chùm Ngây gấp 7 lần trái cam, vitamin C giúp tăng cƣờng hệ thống miễn dịch trong cơ thể và chữa trị những chứng bệnh lây lan nhƣ cảm cúm.
Vitamin A Chùm Ngây nhiều hơn 5 Luận văn tốt nghiệp đại học 2017 SVTH: Lý Thị Thu Thảo cà rốt 4 lần, vitamin A chống lại những bệnh về mắt, da và tim, đồng thời ngăn ngừa đƣợc nhiều chứng bệnh khác,…Canxi giúp bổ sung cho xƣơng và răng, giúp ngăn ngừa đƣợc loãng xƣơng chùm, canxi trong chùm ngây gấp 4 lần canxi trong sữa. Kali Chùm Ngây gấp 3 lần trong chuối, là chất cần thiết cho não và hệ thần kinh. Theo báo cáo ngày 17/07/1998 của Campden and Chorleywood Food Research Association in Conjunction phân tích hàm lƣợng dinh dƣỡng của quả, lá tƣơi và bột khô của lá cây Chùm Ngây.