ĐẶT VẤN ĐỀ: Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ chúng ta đạt được nhiều thành công to lớn trong lĩnh vực công nghệ thông tin đáp ứng phần nào nhu cầu khoa học kỹ thuật trong đời sống. Công nghệ thông tin mang lại cho con người những thành công vượt bậc trong công việc cũng như giảm thiểu đáng kể công sức của người lao động. Công nghệ thông tin xâm nhập phần lớn vào các lĩnh vực khác nhau như văn hóa, kinh tế, giáo dục, y tế và trong xây dựng, công nghệ thông tin cũng đóng một vai trò thiết yếu. Thực tế, trong xây dựng để quản lý dự án công trình là một vấn đề không nhỏ.
Bởi lẽ, một công trình có nhiều thành phần cần phải lưu trữ thông tin như các công đoạn, công việc, vật tư công trình, tài sản của công trình, cũng như chủ đầu tư, nhà cung cấp, nhân viên công trình. Một khối lượng lớn công việc đòi hỏi người quản lý cần phải giải quyết một cách chính xác và hợp lý nhất. Nếu quản lý bằng tay, thì vấn đề xuất hiện lỗi trùng lặp, hay sơ suất sẽ rất thường xuyên xảy ra. Điều đó làm cho người quản lý đau đầu trong việc xử lý các vấn đề phát sinh trong dự án.
Do đó, quản lý tổng thể dự án công trình là vấn đề đang được các doanh nghiệp xây dựng quan tâm. Trong thời gian gần đây, trên thị trường xuất hiện rất nhiều phần mềm quản lý dự án công trình, có phần mềm đi sâu quản lý chi phí, có phần mềm chuyên quản lý chất lượng…, nhưng ở đây vấn đề mà luận văn này đề cập là việc quản lý tổng quan về công trình. Với mục tiêu xây dựng một phần mềm không chỉ quản lý thông tin nhân viên hay chi phí của công trình mà còn quản lý xuyên suốt các giai đoạn thực hiện cũng như gắn kết các thành phần tham gia dự án như tài sản công trình và vật tư của công trình, nhà cung cấp và chủ đầu tư. Không chỉ vậy, phần mềm phải tối ưu hóa trong việc quản lý, thông qua chương trình người quản lý dễ dàng kiểm soát và điều hành tiến độ công việc một cách linh hoạt và hiệu quả.
Bên cạnh đó phần mềm phải đơn giản hóa việc sử dụng, tối ưu hóa việc xử lý và có chi phí thấp. GVHD: Phạm Thị Ngọc Hà -1- Sinh Viên: Nguyễn Hữu Tiến Phần Mềm Quản Lý Dự Án Công Trình Xây Dựng 1.2 LỊCH SỬ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ: Từ những vấn đề trên đã khiến cho các nhà phân tích, lập trình viên đi sâu nghiên cứu tạo ra các phần mềm quản lý để góp phần giải quyết những khó khăn của nhà quản lý, nhân viên trong quá trình quản lý các dự án công trình xây dựng. Hiện nay, có nhiều phần mềm cũng liên quan đến lĩnh vực xậy dựng, tuy nhiên các phần mềm đều đi sâu vào quản lý theo kiểu từng phần: có phần mềm quản lý chất lượng công trình, phần mềm quản lý chi phí công trình, phần mềm quản lý nhân viên công trình. Gần đây nhất cũng có xuất hiện phần mềm quản lý tổng quan về công trình như CENDIBUILDING 2 nhưng nhìn chung thì phức tạp, khiến người dùng khó hiểu.
Đứng trước những nhu cầu đó, tôi mong muốn tạo ra một phần mềm quản lý công trình đáp ứng những yêu cầu sau: - Nội dung: Đi sâu vào quản lý thông tin công trình, các công đoạn của công trình, vật tư trong công trình, tài sản trong công trình. - Tính đơn thể hóa cao: Có kết hợp, tách rời các phần với nhau, trao đổi thông tin qua giao diện. - Trao đổi thông tin: Tất cả các phần được thiết kế chặt chẽ với nhau, dữ liệu trao đổi qua lại được tự động, không cần thao tác chuyển đổi thông tin. - Giao diện: Phát triển trên nền windows, giao diện đồ họa phân theo mô hình trực quan, cơ chế tìm kiếm thông minh.
Giao diện chính thân thiện, màu sắc bắt mắt, người dùng dễ dàng học cách sử dụng và sử dụng. - Tìm kiếm: Tính năng tìm kiếm động, tra cứu và xử lý thông tin nhanh chóng và chính xác.3 PHẠM VI CỦA ĐỀ TÀI: Từ những mong muốn và nhu cầu trên nên tôi chọn đề tài “Xây dựng chương trình quản lý các công trình của một công ty xây dựng”. Đề tài vừa có thể đáp ứng nhu cầu người sử dụng, vừa có thể áp dụng trong các công ty xây dựng. - Phạm vi trong dự án: - Quản lý thông tin công trình - Quản lý thông tin công đoạn - Quản lý tài sản công trình - Quản lý vật tư công trình GVHD: Phạm Thị Ngọc Hà -2- Sinh Viên: Nguyễn Hữu Tiến Phần Mềm Quản Lý Dự Án Công Trình Xây Dựng - Quản lý nhân viên công trình - Phạm vi ngoài dự án: - Không quản lý chi phí công trình - Không quản lý chất lượng công trình - Không tính lương nhân viên - Công cụ sử dụng: - Visual studio 2008: Ngôn ngữ C# - SQL Server 2005 - StarUML - Microsoft Word, Excel - Sách, Internet 1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU – HƯỚNG GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ: - Thu thập tài liệu thông qua sách và Internet.
- Tổng hợp tài liệu, tổng hợp các hoạt động trong lĩnh vực xây dựng. - Từ nguồn tài liệu đã thu - thập, tiến hành phân tích hệ thống, xây dựng mô hình Use case Diagrams, Class Diagrams, Sequence Diagrams. - Tìm hiểu về bộ công cụ Visual studio 2008, ngôn ngữ C#. - Trong khi đó tiếp tục tìm hiểu hệ thống, hoàn thiện các mô hình đã xây dựng, tiến hành lập trình, phát triển hệ thống.
- Chạy thử chương trình, sửa lỗi, hoàn thiện hệ thống. - Viết báo cáo quá trình thực hiện đề tài. GVHD: Phạm Thị Ngọc Hà -3- Sinh Viên: Nguyễn Hữu Tiến Phần Mềm Quản Lý Dự Án Công Trình Xây Dựng CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 SƠ LƯỢC VỀ PHÂN TÍCH THIẾT KẾ HỆ THỐNG HƯỚNG ĐỐI TƯỢNG 2.1 Tổng quan về hệ thống thông tin Thông tin là một loại tài nguyên của tổ chức, phải được quản lý chu đáo giống như mọi tài nguyên khác. Việc xử lý thông tin đòi hỏi chi phí về thời gian, tiền bạc và nhân lực.
Việc xử lý thông tin phải hướng tới khai thác tối đa tiềm năng của nó. Hệ thống thông tin là một hệ thống bao gồm con người, dữ liệu, các quy trình và công nghệ thông tin tương tác với nhau để thu thập, xử lý, lưu trữ và cung cấp thông tin cần thiết ở đầu ra nhằm hỗ trợ cho một hệ thống. Nó hiện hữu dưới mọi hình dạng và quy mô. Hệ thống thông tin là một tập hợp và kết hợp của các phần cứng, phần mềm và các hệ mạng truyền thông được xây dựng và sử dụng để thu thập, tạo, tái tạo, phân phối và chia sẻ các dữ liệu, thông tin và tri thức nhằm phục vụ các mục tiêu của tổ chức.2 Phương pháp phân tích thiết kế hệ thống thông tin theo kiểu hướng đối tượng: Đây là một trong những phương pháp phân tích thiết kế hệ thống thông tin.
Nó được hình thành giữa thập niên 80 dựa trên ý tưởng lập trình hướng đối tượng. Phương pháp này được phát triển, hoàn thiện và hiện nay rất phổ dụng. Chọn tiếp cận hướng đối tượng là tất yếu để phát triển hệ thống phần mềm phức tạp, theo kịp đà phát triển không ngừng của công nghệ và các nhu cầu ứng dụng trong thực tế. Tuy nhiên lập trình hướng đối tượng lại ít trực quan, ít tự nhiên hơn lập trình theo chức năng.
Do đó, đòi hỏi phải mô hình hóa hướng đối tượng thật tốt. Phương pháp này giúp hiểu biết tốt hơn, thực tế so sánh tốt hơn các giải pháp thiết kế trước khi lập trình. Nó dựa trên các ngôn ngữ mô hình hóa. GVHD: Phạm Thị Ngọc Hà -4- Sinh Viên: Nguyễn Hữu Tiến Phần Mềm Quản Lý Dự Án Công Trình Xây Dựng 2.3 Mô hình Mô hình là một tập hợp các phần tử thường được dùng trong phép tương ứng những lớp các đối tượng, các quan hệ và những quá trình xử lý nào đó trong lĩnh vực cần mô tả để có một sự biểu diễn cô đọng, tổng quát, có ý nghĩa, đơn giản và dễ hiểu.
Trong tin học, mô hình là phương pháp cho tương ứng những phạm trù trừu tượng, phức tạp trong thế giới thực và thậm chí ngay cả trong tin học để có cách nhìn trực quan, dễ hiểu, từ đó có thể từng bước tin học hóa toàn bộ hay một phần lĩnh vực đó. Mô hình là một công cụ rất quan trọng trong việc xây dựng hệ thống thông tin.4 Sơ đồ hoạt vụ Sơ đồ hoạt vụ hay còn gọi là mô hình trường hợp sử dụng là một mô hình cơ bản trong việc phân tích và thiết kế hệ thống thông tin theo kiểu hướng đối tượng. Trường hợp sử dụng là một kỹ thuật mô tả hệ thống dựa trên quan điểm người sử dụng. Mỗi trường hợp sử dụng là một cách thức riêng biệt để sử dụng hệ thống.
Trường hợp sử dụng là một tập hợp bao gồm các thao tác được kích hoạt bởi một tác nhân bên ngoài và tạo ra một kết quả xác định được, quan sát được. Tác nhân là những ai, những gì sử dụng hệ thống và có tương tác với hệ thống. Các trường hợp sử dụng được gom lại trong các sơ đồ hoạt vụ, nhằm chỉ ra mối liên hệ giữa các trường hợp sử dụng và giữa các tác nhân. Những sơ đồ này cũng cho phép biểu diễn sự phụ thuộc giữa các trường hợp sử dụng lẫn nhau và giữa các tác nhân lẫn nhau.
Quan hệ giữa các trường hợp sử dụng trong sơ đồ hoạt vụ: - Quan hệ bao gồm: Trường hợp sử dụng B được coi là bao hàm của trường hợp sử dụng A nếu hành vi mô tả B bao hàm hành vi mô tả A, ta nói B phụ thuộc vào A. Ký hiệu: GVHD: Phạm Thị Ngọc Hà -5- Sinh Viên: Nguyễn Hữu Tiến Phần Mềm Quản Lý Dự Án Công Trình Xây Dựng - Quan hệ mở rộng: Nếu hành vi của trường hợp sử dụng B có thể được mở rộng bởi hành vi của trường hợp sử dụng A, ta nói A mở rộng B. Ký hiệu: - Quan hệ tổng quát hóa: Một trường hợp sử dụng A là sự tổng quát hóa của trường hợp sử dụng B nếu B là trường hợp đặc biệt của A. Ký hiệu: B A - Quan hệ giữa các tác nhân: Mối quan hệ duy nhất có thể có giữa các tác nhân là sự tổng quát hóa.5 Sơ đồ lớp Lớp là một sự mô tả một tập hợp các đối tượng có cùng các đặc tính: cùng một ngữ nghĩa, có chung các thuộc tính, các phương thức và các quan hệ.