Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ THUẾ: 1. Khái niệm: Thuế là một khoản nộp bắt buộc mà các cá nhân và tổ chức có nghĩa vụ phải thực hiện đối với Nhà nước, phát sinh trên cơ sở các văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành, không mang tính chất đối giá và hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp thuế. Thuế luôn gắn liền với quyền lực của Nhà nước Có thể nói, đánh thuế là một đặc quyền của Nhà nước, đặc quyền này được quy định bằng luật pháp.
Chẳng hạn, chương II – CHẾ ĐỘ KINH TẾ, Điều 22 của Hiến Pháp nước ta quy định: “Các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với Nhà nước, …”; “Công dân có nghĩa vụ đóng thuế và lao động công ích theo quy định của pháp luật”. Thuế là một phần thu nhập của các tầng lớp dân cư bắt buộc nộp cho Nhà nước Nhà nước sử dụng quyền lực chính trị buộc người nộp thuế phải chuyển giao một phần thu nhập cho Nhà nước thông qua quy định pháp luật về thuế. Thuế là hình thức chuyển giao thu nhập không mang tính chất hoàn trả trực tiếp Một đặc điểm dễ nhận thấy là thuế không mang tính đối giá. Nghĩa là không có sự chuyển giao hàng hóa – dịch vụ giữa đối tượng nộp thuế và Nhà nước.
Lợi ích của đối tượng nộp thuế có được từ việc Nhà nước thông qua việc chi tiêu của Chính phủ như: chi đầu tư cơ sở hạ tầng (điện, đường, trường, …) hay thông qua các chính sách hỗ trợ từ Nhà nước; … 1. Phân loại thuế: 1. Căn cứ vào tính chất a) Thuế trực thu: Thuế gián thu là loại thuế mà người trực tiếp nộp thuế không phải là người chịu thuế. Nó là yếu tố cấu thành trong giá mua hàng hoá và dịch vụ, nhằm động viên sự đóng góp của người tiêu dùng.
Như vậy, người nộp thuế thực chất là người nộp hộ cho người mua hàng hoá và dịch vụ. Ví dụ: Thuế Giá trị gia tăng (VAT); Thuế tiêu thụ đặc biệt; Thuế xuất nhập khẩu; … Trang 2 Cải cách chính sách thuế ở Việt Nam GVHD: TS. Diệp Gia Luật b) Thuế trực thu: Thuế trực thu là loại thuế mà người trực tiếp nộp thuế đồng thời là người chịu thuế. Thuế trực thu là loại thuế mà nhà nước thu thuế trực tiếp của các cơ sở sản xuất kinh doanh hàng hóa – dịch vụ và có thu nhập.
Thuế trực thu trực tiếp động viên, điều tiết thu nhập của người nộp. Ví dụ: Thuế thu nhập cá nhân; Thuế thu nhập doanh nghiệp; … 1. Căn cứ vào đối tượng đánh thuế: a) Thuế đánh vào sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ: Thuế VAT, Thuế XNK, … b) Thuế đánh vào thu nhập. Ví dụ: Thuế TNDN, Thuế TNCN, … c) Thuế đánh vào tài sản.
Ví dụ: Thuế nhà đất, thuế trước bạ, … d) Thuế đánh vào việc sử dụng, khai thác một số tài sản. Ví dụ: Thuế tài nguyên, Thuế sử dụng đất nông nghiệp,. Vai trò của thuế: 1. Thuế là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước Thuế được xem như là công cụ chủ yếu của Nhà nước nhằm huy động tập trung một phần của cải vật chất trong xã hội vào ngân sách Nhà nước.
Một nền tài chính quốc gia lành mạnh phải dựa chủ yếu vào nguồn thu từ nội bộ nền kinh tế quốc dân. Do đó, thuế phải trở thành nguồn thu chủ yếu, bộ phận cơ bản của một nền tài chính quốc gia lành mạnh. Thuế là công cụ quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế Pháp luật thuế là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế và đời sống xã hội. Hướng dẫn sản xuất và tiêu dùng thông qua sự phân bổ và sử dụng các nguồn lực.
Nó cũng là đòn bẫy kinh tế quan trọng, kích thích hiệu quả sản xuất kinh doanh. Tính chất điều tiết thông qua thuế được thể hiện ở việc xây dựng đúng đắn và mối quan hệ giữa các loại thuế, qua việc xác định hợp lý đối tượng nộp thuế, đối tượng tính thuế, thuế suất, biểu thuế, chế độ miễn giảm, phương pháp quản lý thu thuế trên cơ sở hạch toán đầy đủ, chính xác. Ý nghĩa điều tiết của thuế bao gồm hai mặt: Khuyến khích, nâng đỡ những hoạt động kinh doanh cần thiết làm ăn có hiệu quả cao. Trang 3 Cải cách chính sách thuế ở Việt Nam GVHD: TS.
Diệp Gia Luật Đồng thời thu hẹp, kìm hãm những ngành nghề, mặt hàng cần hạn chế sản xuất, hạn chế tiêu dùng theo hướng tiết kiệm, chống sa hoa, lãng phí. Bên cạnh đó, thuế còn có vai trò hướng dẫn và khuyến khích hợp tác đầu tư nước ngoài, đẩy mạnh hoạt động XNK đồng thời với việc bảo vệ sản xuất nội bộ. Thuế góp phần đảm bảo bình đẳng giữa các thành phần kinh tế và công bằng xã hội. Công bằng xã hội không có nghĩa là bình quân chủ nghĩa, đòi hỏi mọi người trong xã hội chỉ có thể thu nhập ngang nhau.
Người có thu nhập cao phải đóng thuế cao hơn người có thu nhập thấp nhưng phải đảm bảo người có thu cao sẽ làm ăn ngày một có hiệu quả hơn so với người có thu nhập thấp nhằm khuyến khích cải tiến quản lý, cải tiến kỹ thuật, đầu tư vốn, đầu tư chất xám, làm ăn có thu nhập chính đáng. Thông qua chính sách thuế, luật thuế trở thành một trong những công cụ hiệu quả góp phần đảm bảo sự bền vững giữa các thành phần kinh tế và công bằng xã hội. LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH THUẾ: 2. Định nghĩa: Chính sách thuế là một nội dung của chính sách tài chính quốc gia, là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, các giải pháp và công cụ mà nhà nước sử dụng đề ra quyết định về thu nhập và huy động nguồn thu để đảm bảo cho nhu cầu chi tiêu của mình.
Vai trò của chính sách thuế: Chính sách thuế là một bộ phận không thể thiếu trong hệ thống chính sách tài chính quốc gia, là một trong những công cụ quản lý vĩ mô quan trọng trong việc thực hiện đường lối phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Vai trò của chính sách thuế thể hiện qua chức năng cơ bản: Chức năng định hướng: Chính sách thuế góp phần định hướng cho nhà quản lý thu và nộp thuế một cách đầy đủ, chính xác, kịp thời và hợp lý. Chính sách thuế còn giúp các nhà sản xuất kinh doanh định hướng, xác định ngành nghề, lĩnh vực sản xuất kinh doanh. để mang lại hiệu quả phù hợp với khả năng và năng lực của mình.
Chức năng điều tiết: Chính sách thuế giúp phân phối, điều tiết thu nhập giữa các cá nhân, các tổ chức và góp phần phân phối lại các nguồn của cải xã hội và năng lực sản xuất của Trang 4 Cải cách chính sách thuế ở Việt Nam GVHD: TS. Diệp Gia Luật toàn xã hội trong lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân theo những định hướng phát triển của nhà nước. Như vậy, chính sách thuế góp phần chủ động tích cực trong việc khuyến khích hay kiềm chế đối với các hoạt động kinh tế - xã hội của tất cả các ngành, lĩnh vực, lãnh thổ, tổ chức và cá nhân theo những mục tiêu định hướng và hoạch định của nhà nước. LỊCH SỬ NGÀNH THUẾ VIỆT NAM: 3.
Thời kỳ đầu chưa có chính sách thuế chính thức dưới chính quyền cách mạng (1945-1950): Ngày 10/9/1945, Chính phủ đã ban hành sắc lệnh số 27/SL đặt ra Sở Thuế quan và thuế gián thu (trực thuộc Bộ Tài Chính) dưới quyền điều khiển của một Tổng giám đốc được bổ nhiệm bằng sắc lệnh theo đề nghị của Bộ trưởng bộ Tài chính. Sở Thuế quan và Thuế gián thu có nhiệm vụ xây dựng chính sách và tổ chức chỉ đạo, quản lý việc thu các loại thuế xuất nhập cảng, các thứ thuế gián thu (rượu, muối, thuốc lá điếu. Cụ thể: Ở mỗi kỳ (Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ) có "Sở thuế quan". Ở mỗi tỉnh có "Sở chánh thu thuế quan"; dưới sở chánh thu là "Sở tiểu thu" phụ trách các đồng muối.
Ở Hà nội, Đà nẵng, Sài gòn có "Sở tổng thu" tập trung các khoản thu của mỗi kỳ. Riêng ở Hải phòng, Đà nẵng, Sài gòn có thanh tra thường trú phụ trách thuế xuất nhập cảng. Ngày 25/3/1946, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ban hành nghị định số 210-TC thành lập Nha Thuế trực thu Việt Nam (trực thuộc Bộ Tài chính) có nhiệm vụ nghiên cứu, đề nghị thi hành và kiểm soát các công việc liên quan đến các loại thuế trực thu (thuế điền thổ, thuế thổ trạch, thuế môn bài, thuế lương bổng, thuế lãi doanh nghiệp, thuế lợi tức tổng hợp). Cụ thể: Ở mỗi kỳ có Nha thuế trực thu cấp kỳ; Ở mỗi tỉnh có phòng thuế trực thu.
Ngày 29/5/1946, Theo sắc lệnh 75/SL, cơ cấu tổ chức bộ máy của Bộ Tài chính thay đổi. Về thuế có Nha thuế quan và thuế gián thu; Nha thuế trực thu; Nha trước bạ Công sản - Điền thổ (sau chuyển thành Nha Công sản - Trực thu - Địa chính được gọi là nha Công - Trực - Địa). Riêng về thuế quan và thuế gián thu, ở mỗi kỳ có Sở thuế quan, ở mỗi tỉnh có Ty Chánh thu; ở Trang 5 Cải cách chính sách thuế ở Việt Nam GVHD: TS. Diệp Gia Luật mỗi khu vực có đồng muối hoặc nguồn thu quan trọng có Ty phụ thu.
Thuế trực thu và các loại thu khác có một phòng trong Uỷ ban hành chính phụ trách. Sau khi có hệ thống chính sách thuế mới dưới Chính quyền cách mạng (1951-1958) : Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II ( 2/1951), Chính phủ đã ban hành hệ thống chính sách thuế mới, chủ yếu là thuế nông nghiệp và thuế công thương nghiệp. Ngày 14/7/1951, Bộ Tài chính đã ban hành Nghị định số 55/NĐ thành lập Vụ Thuế Nông nghiệp (trực thuộc Bộ Tài chính) với nhiệm vụ xây dựng và tồ chức chỉ đạo, quản lý thu thuế nông gnhiệp. Ở các liên khu tỉnh huyện, cơ quan tài chính trực tiếp phụ trách công tác chỉ đạo, quản lý thu thuế nông nghiệp trên địa bàn.
Ngày 17/7/1951, Bộ Tài chính đã ban hành nghị định số 63/NĐ thành lập hệ thống tổ chức ngành thuế công thương nghiệp bao gồm: Ở trung ương: Sở thuế trung ương (Trực thuộc Bộ Tài chính). Ở liên khu: Phân sở thu. Ở tỉnh: Chi sở thuế. Ở tuyến có hoạt động xuất nhập khẩu lớn: Chi sở thuế xuất nhập khẩu.
Ở huyện, thị xã: Phòng thuế.