LỜI MỞ ĐẦU Trong quá trình phát triển kinh tế, sự tiếp nhận các kỹ thuật mới, các loại hình lao động mới tất yếu dẫn đến sự phát sinh các bệnh nghề nghiệp mới. Tính đến năm 2009, tổng số người mắc bệnh nghề nghiệp ở Việt Nam đã lên đến gần 30. Hiện nay, người lao động đang phải chịu nhiều sức ép: môi trường lao động có nhiều tác hại nghề nghiệp như bụi, tiếng ồn, rung chuyển, hơi khí độc, phóng xạ và làm việc trong các điều kiện lao động đặc biệt như leo cao, áp suất, các tư thế lao động bất lợi. tiềm ẩn nhiều nguy cơ dẫn đến bệnh nghề nghiệp.
Số công nhân bị bệnh nghề nghiệp ước tính trên thực tế phải gấp từ 8 đến 10 lần số hiện tại. Bệnh nghề nghiệp xảy ra đối với những người lao động thì hậu quả của nó hết sức nặng nề. Cụ thể là, lao động sẽ bị suy giảm sức khoẻ, không thể tham gia lao động trong thời gian điều trị, kéo theo đó là sự giảm sút về tiền lương. Sau đó khả năng tìm kiếm việc làm mới hoặc tiếp tục tham gia quan hệ lao động cũ sẽ gặp nhiều khó khăn do sức khỏe sa sút, điều này cũng tác động xấu đến tinh thần của người lao động, gây khó khăn cho gia đình họ do phải giảm thu nhập, phải chăm sóc người lao động bệnh nghề nghiệp.
Để có thể trợ giúp người lao động mắc bệnh nghề nghiệp ổn định cuộc sống thì Bảo hiểm xã hội là công cụ tốt nhất để thực hiện điều này. Bảo hiểm xã hội (BHXH) có trách nhiệm chi trả bảo hiểm cho người lao động (NLD) mắc bệnh nghề nghiệp (BNN) theo tỉ lệ thương tật mà họ mắc phải. Tuy vậy, chế độ bệnh nghề nghiệp vẫn còn nhiều bất cập trong hoạt động của mình, chưa phát huy được hết khả năng và thế mạnh của mình. Để làm rõ thêm những vấn đề này em xin chọn đề án môn học của mình là: “ BẢO HIỂM XÃ Nguyễn Ngọc Hân 1 Lớp: KTBH - K49 Đề án môn học HỘI BỆNH NGHỀ NGHIỆP VÀ 1 SỐ ĐỀ XUẤT NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT CHẾ ĐỘ BỆNH NGHỀ NGHIỆP ” Đối với Bảo hiểm xã hội bệnh nghề nghiệp thì danh sách bệnh nghề nghiệp là cực kì quan trọng, bởi vì người lao động chỉ được hưởng chế độ bệnh nghề nghiệp khi mắc bệnh có trong danh sách bệnh nghề nghiệp.
Vì lí do này e xin đi sâu vào những vấn đề liên quan đến danh sách bệnh nghề nghiệp. Nguyễn Ngọc Hân 2 Lớp: KTBH - K49 Đề án môn học I. Một số vấn đề về bệnh nghề nghiệp: 1. Một số khái niệm liên quan: 1.
Bệnh nghề nghiệp: Từ thời kỳ sơ khai, người ta cũng đã biết tác hại nghề nghiệp và bệnh nghề nghiệp xảy ra do lao động. Tuy vậy, những khái niệm lúc bấy giờ hết sức đơn giản. Vào thế kỷ V, VI trước Công nguyên Aristot và Lukresi đã ghi nhận thấy những người lao động nặng nhọc, mang vác nhiều thường hay bị đau xương sườn. Avigia và Pluta đã ghi nhận rằng có sự liên quan chặt chẽ giữa lao động nặng nhọc và tử vong sớm ở một số nghề nặng nhọc như đào quặng, xây cất nhà cửa, lăng mộ.
Thời Hypocrate (thế kỷ IV trước Công nguyên) người ta đã thấy nhiều thợ mỏ bị chết sớm so với các nghề khác. Vào cuối đời, đa số những người thợ mỏ này bị khó thở, đặc biệt là khi làm các công việc nặng nên Hypocrate gọi là cơn khó thở của những người thợ mỏ. Vào đầu thế kỷ XVI - XVII, khi nền công nghiệp bắt đầu phát triển ở các nước Tây Âu, cũng là lúc người ta hiểu được bản chất của nhiều hiện tượng, ví dụ như bản chất của các hơi khí độc, các loại bụi, các yếu tố vật lý. hàng loạt các yếu tố ra đời và được phát hiện, đồng thời với nó là các bệnh nghề nghiệp cũng được ghi nhận một cách rõ nét hơn.
* Theo định nghĩa mới nhất của Tổ chức Y tế Thế giới, Bệnh nghề nghiệp là bệnh phát sinh do điều kiện lao động có hại của nghề nghiệp tác động đến người lao động. Bệnh diễn tiến âm thầm, giai đoạn đầu thường không có triệu chứng gì, nhưng nếu không được phát hiện sớm, cách ly và điều trị kịp thời thì bệnh sẽ nặng dần, không hồi phục và có thể gây tàn phế. Nguyễn Ngọc Hân 3 Lớp: KTBH - K49 Đề án môn học Bệnh nghề nghiệp là những bệnh phải được khai báo cho các cơ quan chức năng để có biện pháp phòng ngừa, đồng thời sẽ được cơ quan bảo hiểm xã hội thực hiện chế độ đền bù. * Bệnh nghề nghiệp là bệnh phát sinh do điều kiện lao động có hại của nghề nghiệp tác động đối với người lao động.( Điều106 Bộ Luật Lao Động ) Thông thường người ta hiểu bệnh nghề nghiệp mang tính chất đặc trưng của một nghề nào đó do yếu tốc độc hại trong nghề tác động thường xuyên lên cơ thể người lao động, gây nên những rối loạn bệnh lý cấp hoặc mạn tính.
Tuy nhiên cũng không nên hiểu theo khuynh hướng quá rộng coi các bệnh xảy ra có liên quan đến môi trường lao động đều là bệnh nghề nghiệp. Ví dụ: bệnh tim mạch ở người lao động nặng. Song nếu quan mềm là bệnh đặc trưng như đau bụng chỉ đối với người công nhân tiếp xúc với chì thì sẽ bỏ sót nhiều bệnh nghề nghiệp như thiếu máu do nhiễm độc chì, viêm ống thận cấp do nhiễm độc các kim loại nặng. Có thể nói bệnh nghề nghiệp là một trong các loại bệnh môi trường bao gồm cả tình trạng cấp tính và mạn tính, ví dụ nhiễm độc cấp tính do oxytcarbon, viêm phế quản mạn tính trong môi trường có nhiều bụi.
Có rất nhiều bệnh nghề nghiệp, để dễ nhận biết và có các biện pháp phòng chống phát hiện sớm bệnh nghề nghiệp người ta phân chia các bệnh nghề nghiệp thành 5 nhóm dựa trên nhóm yếu tố tác hại nghề nghiệp gây bệnh. Nhóm 1: gồm những bệnh sinh ra do tác hại của bụi trong môi trường lao động ví dụ bệnh bụi phổi do các bụi vô cơ, bệnh dị ứng đường hô hấp do các bụi hữu cơ. Nhóm 2: gồm các bệnh sinh ra do các tác hại nghề nghiệp mang tính chất vật lý như tiếng ồn, áp lực cao, rung chuyển. Nhóm 3: các bệnh sinh ra do các tác nhân hóa học như các hóa chất Nguyễn Ngọc Hân 4 Lớp: KTBH - K49 Đề án môn học độc ô nhiễm môi trường lao động: nhiễm độc thuốc trừ sâu, nhiễm độc kim loại nặng.
Nhóm 4: nhóm bệnh sinh ra các tác nhân sinh học như các nấm men, vi sinh vật gây bệnh, gặp ở môi trường lao động của nông dân, những người lao công. Nhóm 5: bao gồm các bệnh sinh ra do hiện tượng căng thẳng thần kinh, cơ, xương, khớp, thường xẩy ra với các loại lao động đặc biệt, tác động lên một số bộ phận của cơ thể một cách không đồng đều. Các bệnh nghề nghiệp mang những đặc trưng so với các loại bệnh khác bởi yếu tố gây bệnh, sự phát sinh, phát triển bệnh lý chính vì vậy vấn đề chẩn đoán, điều trị bệnh cũng mang những đặc thù riêng. Ngoài ra bệnh nghề nghiệp còn mang tính chất xã hội chính vì vậy đòi hỏi trách nhiệm phòng tránh bệnh, giám định bệnh nghề nghiệp cho người lao động của những người sử dụng lao động.
* Bệnh nghề nghiệp mang tính chất xã hội Lao động là bắt buộc trong quá trình phát triển kinh tế xã hội loài người, có lao động là có tiếp xúc với các yếu tố độc hại và có thể mắc các bệnh nghề nghiệp. Đặc biệt là trong kì hiện đại hóa phát triển đất nước, rất nhiều ngành nghề mới, yếu tố lao động mới được sinh ra. Và vì thế càng nhiều lao động có nguy cơ mắc bệnh nghề nghiệp. Một khi tỉ lệ người lao động mắc bệnh nghề nghiệp cao với một số lượng người bị bệnh lớn, khi mà từ những người lao động họ trở thành những người phụ thuộc cần được chăm sóc thì điều đó sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống xã hội của nước ta.
Vì vậy bệnh nghề nghiệp là vấn đề có liên quan đến các yếu tố xã hội trong nền kinh tế quốc dân. Người mắc bệnh nghề nghiệp phải được giới chủ hay cơ quan chủ quản hoặc hệ thống bảo hiểm xã hội có trách nhiệm đảm bảo về tinh Nguyễn Ngọc Hân 5 Lớp: KTBH - K49 Đề án môn học thần, vật chất và các vấn đề sức khỏe một cách thoả đáng theo các quy định của mỗi quốc gia và quốc tế. Vì tính chất xã hội nên những người làm công tác chăm lo sức khỏe cũng như các nhà quản lý phải luôn luôn xác định được thái độ nghiêm túc chuẩn mực trong mọi mặt công tác có liên quan đến bệnh nghề nghiệp. Danh sách bệnh nghề nghiệp của Việt Nam: Danh mục các loại bệnh nghề nghiệp do Bộ Y tế và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành sau khi lấy ý kiến Tổng liên đoàn lao động Việt Nam và đại diện của người sử dụng lao động.
Danh mục bệnh nghề nghiệp là yếu tố đầu tiên cơ bản để bảo hiểm xã hội thực hiện chế độ chi trả, bảo hiểm của mình đối với người lao động mắc bệnh nghề nghệp. Ở các quốc gia phát triển đa số các bệnh nghề nghiệp đều được đền bù, song ở nước ta do điều kiện kinh tế đang phát triển, khả năng phát hiện 16 các bệnh nghề nghiệp chưa cao nên phải đến ngày 19/5/1976 lần đầu tiên Nhà nước ta đưa ra danh mục 8 bệnh nghề nghiệp được đền bù. Ngày 25/12/1991 danh sách bệnh nghề nghiệp được đền bù nâng thêm 8 bệnh nữa, do đó cho đến năm 1991 ở nước ta đã có 16 bệnh được đưa vào danh mục các bệnh nghề nghiệp được đền bù (bảo hiểm). Đến ngày 4/2/1997 danh sách bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm được bổ sung thêm 5 bệnh nữa.
ngày 20/7/2006 bổ sung thêm 4 bệnh vào danh sách. Hiện nay "Danh mục các bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm ở Việt Nam" có 25 bệnh. 25 bệnh nghề nghiệp được bồi thường được xếp theo 5 nhóm: 1. Các bệnh phổi và phế quản: 1.
Bệnh bụi phổi silic. Nguyễn Ngọc Hân 6 Lớp: KTBH - K49 Đề án môn học 1. Bệnh bụi phổi amiăng. Bệnh bụi phổi bông.
Bệnh viêm phế quản mạn tính nghề nghiệp. Bệnh hen phế quản nghề nghiệp. Các bệnh nhiễm độc nghề nghiệp: 2. Nhiễm độc chì và các hợp chất chì.
Nhiễm độc benzen và các đồng đẳng. Nhiễm độc mangan và các hợp chất mangan. Nhiễm độ thuỷ ngân và các hợp chất thuỷ ngân. Nhiễm độc asen và cá hợp chất asen vô cơ, nhiễm độc T.