CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TỐI ƯU HÓA ĐIỀU TIẾT VẬN HÀNH HỒ CHỨA ĐA MỤC ĐÍCH 1. Giới thiệu Dòng chảy trong thiên nhiên có đặc tính phân phối không đều theo không gian và thời gian. Thường thì vào mùa khô, lượng nước đến ít nhưng nhu cầu sử dụng nước cần nhiều để phục vụ cho các hoạt động: tưới, cấp nước, phát điện và cho các ngành kinh tế khác. Ngược lại về mùa lũ thường nhu cầu dùng nước không nhiều nhưng lượng nước do mưa sinh ra lại quá nhiều gây lũ lụt, ngập úng.
Do vậy, để phục vụ nước cho các mục đích khác nhau được hiệu quả nhất thì cần phải sử dụng các biện pháp thuỷ lợi. Một trong những biện pháp chủ yếu để giải quyết sự mâu thuẫn về nhu cầu dùng nước nêu trên đó là hồ chứa. Với hơn 30% hồ chứa thuộc loại lớn trên thế giới được thiết kế với chức năng đa mục đích. Ở các nước phát triển thì hầu hết nước được sử dụng cho công nghiệp, còn ở các nước đang phát triển phần lớn nước được sử dụng cho sản xuất nông nghiệp.
Theo xu thế hiện nay, khi thiết kế xây dựng các hồ chứa phần lớn là theo dạng đa mục đích. Để minh chứng cho điều này trang 11 [6] cho thấy tỷ lệ các hồ chứa đa mục đích tăng nhanh trong 20 năm trở lại đây. Các hồ chứa lớn thông thường là các công trình đa mục đích như cung cấp nước sinh hoạt cho các hộ gia đình, cho công nghiệp, cho nông nghiệp và sản xuất điện năng. Mục tiêu của quản lý quy hoạch nguồn nước trong hồ chứa thủy điện để có hiệu quả cao trong việc vận hành các nhà máy thủy điện như điều tiết lũ để giảm thiệt hại cho hạ du và nâng cao điện lượng là mục tiêu hàng đầu.
19 Đa số các hồ chứa lớn ở Việt Nam là những hồ chứa đa mục đích như hồ chứa Phú Ninh, Thủy lợi - Thủy điện Quảng Trị, Định Bình, A Vương, Krông Hnăng, Cẩm Sơn, Nước Trong, Thạch Nham, Cửa Đạt, Sơn La, Hòa Bình v. S«ng §Ønh ®Ëp MN Max Dung tÝch ®iÒu khiÓn lò §Ëp trµn MNDBT Dung tÝch h÷u Ých Cèng ngÇm MNC Dung tÝch chÕt §Ëp Hình 1. Sơ đồ minh họa hồ chứa Thông thường dung tích của hồ chứa có thể chia ra ba phần (Hình 1.1): - Dung tích chết; - Dung tích hữu ích; - Dung tích phòng lũ (Dung tích điều khiển lũ). * Dung tích chết: Đây là phần nhỏ nhất trong hồ chứa và cũng là giới hạn không hoạt động của hồ chứa.
Tổng quát dung tích chết dùng để chứa lượng bùn cát trong hồ chứa, mực nước chết là cao trình nhỏ nhất của hồ chứa trong suốt quá trình vận hành bình thường và cao trình này được xác định theo cao trình thấp nhất của cống lấy nước hoặc yêu cầu cột nước nhỏ nhất phát điện. * Dung tích hữu ích: Là dung tích giữa mực nước chết và mực nước dâng bình thường, làm nhiệm vụ điều tiết cấp nước hoặc tạo cột nước cho nhà máy thủy điện. Vào mùa lũ nước được tích vào phần dung tích này để bổ sung nước cho thời kì kiệt, thiếu nước. Mực nước dâng bình thường là cao trình lớn nhất của hồ chứa trong suốt quá trình vận hành.
Đối với hồ chứa có tràn xả lũ tự do (không cửa van) thì cao trình này là cao trình ngưỡng tràn. 20 * Dung tích phòng lũ: Là phần dung tích nằm phía trên dung tích hữu ích, là khoảng dự trữ cho một phần nước lũ khi có lũ về, làm giảm lưu lượng tháo xuống hạ lưu nhằm giảm ngập lụt phía hạ lưu. Heä thoáng caáp nöôùc Söû duïng nöôùc Noâng nghieäp Caáp nöôùc SH Coâng nghieäp Thuûy ñieän Vaän taûi thuûy Giaûi trí Hình 1. Các phần tử cấp nước và sự tương tác với nhau của chúng Hệ thống cấp nước từ hồ chứa có thể sử dụng cho nhiều mục đích (Hình 1.2); Các mục đích này thường tạo ra những mâu thuẫn.
Hồ chứa thường được xây dựng với các nhiệm vụ sau: + Tưới (Nông nghiệp) Các yêu cầu tưới được tính toán và chỉ có một phần nhỏ lượng nước sẽ trả lại hệ thống dòng chảy trong sông. Các yêu cầu tưới của các mùa trong năm và sự thay đổi nhu cầu tưới phụ thuộc vào biểu đồ yêu cầu diện tích tưới. Tổng quát, các yêu cầu sẽ nhỏ trong suốt mùa mưa và lớn vào các tháng mùa khô. + Phát điện Lượng nước dùng để phát điện trong các nhà máy thủy điện sẽ được trả lại dòng sông sau khi qua Turbine, do đó không giảm chất lượng cũng như số lượng như một số ngành khác.
Sản lượng điện năng phụ thuộc vào - Hiệu suất Turbine; - Lượng xả qua Turbine; - Cột nước phát điện. Sản lượng điện của nhà máy thủy điện có thể được đánh giá sử dụng qua phương trình sau: 21 EO Q(t ) H (t )dt (1.1) Với EO: Sản lượng điện năng của nhà máy thủy điện, hiệu suất trung bình của nhà máy điện, và là trọng lượng riêng của nước. Như vậy từ phương trình (1.1), có thể thấy sự gia tăng cột nước H(t), và lưu lượng Q(t) sẽ làm tăng sản lượng điện. Hiệu suất cũng là hàm của cột nước và lưu lượng.
+ Điều tiết lũ Để giảm đỉnh lũ, bộ phận của dung tích siêu cao của hồ chứa được dự trữ cho điều tiết lũ. Hiệu lượng dòng chảy đến hồ và lượng dòng chảy ra theo thời gian là bằng dung tích điều tiết lũ. Mục đích phòng lũ nhằm làm giảm mực nước lũ ở vùng hạ lưu bảo đảm an toàn cho các khu kinh tế và dân sinh khi gặp lũ lớn. + Cấp nước đô thị và công nghiệp Tổng quát, các nhu cầu sử dụng nước cho mục đích đô thị và công nghiệp là không lớn khi so sánh với tưới và phát điện.
Tuy nhiên yêu cầu về chất lượng nước khá nghiêm ngặt. Thành phần, nguồn gốc vô cơ và hữu cơ cũng như vi khuẩn quyết định chất lượng nước. Đối với cấp nước sinh hoạt thì lượng nước cần thiết cho nhu cầu sinh hoạt tùy thuộc vào số dân, mức hoàn chỉnh của mạng lưới cấp nước và các đặc điểm kinh tế - xã hội, địa lý, tự nhiên, khí hậu của vùng. Còn đối với cấp nước cho công nghiệp: sự không đều của lượng nước tiêu thụ trong xí nghiệp công nghiệp phụ thuộc không chỉ vào công nghệ sản xuất mà còn vào thời tiết.
+ Yêu cầu vận tải thủy Sông và hồ chứa có thể được sử dụng cho mục đích công cộng và tạo ra lợi ích vận chuyển. Sự giải trí bằng du thuyền cũng là lợi ích khác trong vận hành hệ thống hồ chứa. Các ràng buộc chính cho khả năng vận tải thủy của hạ lưu sông là phải duy trì mực nước nhỏ nhất có thể chấp nhận đảm bảo chiều sâu tại vị trí khác nhau ( ELmin s ). Giả thiết biết quan hệ trạng thái dòng chảy sông ( FS smin ) , ràng buộc đó phải được xem xét trong mô hình tối ưu vận hành hồ chứa như sau: FS ts ( FS ts ) ELmin s (1.2) 22 Trong đó ELmin s : chiều sâu tối thiểu.
Phân tích chi tiết hơn các lợi ích vận tải thủy và sách lược vận hành hồ chứa có thể là cần thiết, các lợi ích vận tải thủy phải được đưa vào trong hàm mục tiêu của các mô hình khi quy hoạch. + Giải trí Các lợi ích giải trí khi xây dựng hồ chứa được sử dụng như: Bể bơi, du thuyền, ván trượt tuyết, các mục đích thể thao khác và Picnic. Sử dụng các lợi ích giải trí thường được kết hợp với các mục đích khác của hồ chứa và hiếm khi hồ chứa được xây dựng chỉ vì một mục đích này. Hoạt động giải trí được chấp nhận tốt nhất bởi hồ chứa có thể phục vụ gần đầy đủ suốt các mùa giải trí.
Sự dao động lớn và nhanh về mực nước của hồ chứa có nguy hại cho các điểm giải trí; Bởi vì có thể tạo ra đất đầm lầy tại bờ của hồ chứa. + Điều kiện tốt cho môi trường Nước trong hệ thống phải đủ để bảo vệ các sinh vật sống dưới nước, tồn tại sinh học là một ràng buộc quan trọng trong quy hoạch và vận hành hệ thống lưu vực sông, bởi vì nó quyết định sự thay đổi của môi trường sống, điều kiện chất lượng và số lượng dòng chảy. Ràng buộc đơn giản nhất đó có thể được xem xét cho thỏa mãn các điều kiện môi trường cần thiết là yêu cầu xả một lượng nước tối thiểu xuống hạ du: m NM Rt RA j ,t Qmin (t=1, 2, …, n) (NM=1, …,12) (1.3) j 1 + Duy trì dòng chảy hạ lưu Trong nhiều thời điểm, cần phải xả lưu lượng tối thiểu cho sông phía dưới từ lượng nước trong hồ chứa để làm giảm sự ô nhiễm hoặc đảm bảo ổn định môi trường. Các mâu thuẫn trong vận hành hồ chứa Trong khi vận hành hồ chứa phải thỏa mãn nhiều mục đích khác nhau, tuy nhiên lại xuất hiện sự mâu thuẫn giữa các yêu cầu cho các mục đích đó.
Các mâu thuẫn xuất hiện trong khi vận hành hồ chứa nhiều mục đích có thể chỉ ra như sau: 23 * Mâu thuẫn trong không gian hồ chứa Mâu thuẫn này xuất hiện khi hồ chứa (hoặc dung tích giới hạn) được yêu cầu thỏa mãn phân chia nhiều mục đích khác nhau như bảo toàn nước và điều tiết lũ. Nếu các điều kiện địa chất, địa hình, thủy văn tại vị trí xây dựng đập và kho dự trữ cho phép xây dựng đập đủ cao để sử dụng rõ ràng các mục đích thì thường không có sự mâu thuẩn về không gian hồ chứa. Tuy nhiên, hiếm khi người ta làm như vậy, các hồ chứa được xây dựng nhiều mục đích với không gian chia sẻ thỏa mãn các yêu cầu đảm bảo nhiều mục đích và minimum kích thước thường được sử dụng. Trong khi đó mục đích phòng lũ tốt nhất đạt được khi đủ không gian trống có thể chứa dung tích phòng lũ sử dụng được trong hồ chứa.
Do vậy, trong khi quy tắc điều tiết hồ chứa chủ yếu ra quyết định là được tích đầy hay không tích đầy hồ chứa; Hồ chứa tích đầy cho phép đạt được lợi ích cao bởi thỏa mãn các mục đích bảo toàn, nhưng lại mang tính rủi ro cao khi cắt giảm lũ ở hạ lưu. Mặt khác, hồ chứa trống có thể điều tiết lũ hiệu quả hơn nhưng nếu dòng chảy là không tích đầy đến thể tích mong chờ thì có thể các mục đích khác sẽ thiếu.