Chương 1 MỘT SỐ LUẬN ĐIỂM CƠ BẢN VỀ TIỀN LƯƠNG VÀ NHỮNG ĐẶC ĐIỂM TIỀN LƯƠNG CỦA ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN ĐẠI HỌC 1. Một số luận điểm cơ bản về tiền lương và đặc điểm của tiền lương trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta 1. Một số quan điểm lý luận về tiền lương Tiền lương là phạm trù kinh tế, xuất hiện khi sức lao động của một bộ phận dân cư được một bộ phận dân cư khác trong xã hội sử dụng trên nguyên tắc tự nguyện. Đó là mối quan hệ giữa người sử dụng sức lao động (người chủ) sẵn sàng chi trả tiền và người có sức lao động tự nguyện cung cấp dịch vụ lao động(người lao động) để nhận một số tiền nhất định.
Nghiên cứu về bản chất của “Tiền lương”, trong lịch sử đã có nhiều nhà kinh tế học quan tâm lý giải các mối quan hệ cung - cầu về lao động và tìm kiếm các căn cứ để xác định tiền lương, giải thích sự khác nhau về tiền lương giữa các loại lao động. Tương ứng với mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử, dựa trên các quy luật phát triển khách quan và biểu hiện lợi ích của mỗi tầng lớp giai cấp nhất định mà các nhà kinh tế có các quan điểm khác nhau về vấn đề này.1 Quan điểm về tiền lương của các nhà kinh tế trước C.Mác - Quan điểm cơ bản của Adam Smith về tiền lương: Trong tác phẩm “của cải của các dân tộc”, A.Smith cho rằng, trong điều kiện chưa có tư hữu đất đai và tích luỹ tư bản, người lao động làm việc bằng chính những tư liệu sản xuất và ruộng đất của mình thì lẽ dĩ nhiên là người lao động đó phải nhận được sản phẩm toàn vẹn của lao động của họ.Còn trong điều kiện của xã hội tư bản khi mà tư liệu sản xuất tập trung vào tay một số nhà tư bản, người lao động đã trở thành người làm thuê cho chủ tư bản, thì ở đây người lao động chỉ nhận được một số tiền từ phía chủ sau khi làm việc cho chủ trong một thời gian nhất định. Số tiền này được gọi là tiền lương. Như vậy, tiền lương của người lao động không phải là toàn bộ giá trị sản phẩm lao động của họ mà chỉ là một bộ phận giá trị đó.Smith cho lượng tiền lương là giá trị những tư liệu sinh hoạt cần thiết để nuôi sống người công nhân làm thuê và nuôi dưỡng giáo dục con cái họ để tiếp tục sau đó lại thay thế họ trên thị trường lao động.
Mức tiền lương hợp lý phải đạt từ mức độ tối thiểu (giới hạn) trở lên. Ông cho rằng, tiền lương không được hạ thấp quá giới hạn đó, nếu thấp quá giới hạn này sẽ là thảm hoạ cho sự tồn tại của các dân tộc.Smith đã phân biệt sự khác nhau giữa lao động giản đơn và lao động phức tạp: “Sức lao động bỏ ra trong 1 giờ lao động khó nhọc, có thể nhiều hơn sức lao động trong 2 giờ làm việc 6 nhẹ nhàng, hoặc làm 1 giờ trong một nghề mà phải mất 10 năm học tập thì phải tốn hơn làm 1 tháng trong một nghề bình thường” [33, tr. Khi tính giá trị của lao động (thực ra là giá trị của sức lao động), theo A.Smith cần phải chú ý tới đặc điểm của các loại lao động: nếu một loại lao động căng thẳng, nặng nhọc hơn loại lao động khác tất nhiên phải tính đến sự căng thẳng, nặng nhọc này [33, tr.Smith đã chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến tiền công, sự khác nhau về tiền công đối với các công việc khác nhau. Theo ông, tiền công lao động biến động tuỳ theo sự dễ dàng và rẻ tiền hoặc sự khó khăn và đắt tiền khi học việc.
Ông cho rằng một người được đào tạo với khá nhiều phí tổn để nắm vững được chuyên môn nghề nghiệp và kỹ năng, kỹ xảo cần nhận được tiền lương cao hơn tiền lương của lao động bình thường để bù đắp lại những phí tổn học tập [33, tr. Sự khác nhau về tiền lương của các công việc khác nhau còn tuỳ theo mức độ tin cậy nhiều hay ít vào người thợ.Smith thì khi ta giao tính mạng cho một bác sĩ, giao tài sản và đôi khi cuộc sống của chúng ta cho một luật sư; sự tin cậy ấy không thể giao cho một ai khác,vì vậy tiền thù lao phải xứng đáng với vị trí quan trọng trong xã hội mà sự tin cậy ấy tạo ra và cũng là để trả cho thời gian, công sức, của cải vào việc học tập để có niềm tin cậy đó, giá trị lao động của họ phải được nâng cao [33, tr. Ngoài ra, sự khác nhau về tiền công của các công việc khác nhau còn tuỳ theo khả năng thành đạt trong các công việc ấy.Smith cho rằng: nếu đi học nghề đóng giầy thì chắc chắn sẽ làm được một đôi giầy nhưng nếu đi học luật thì trong 20 người mới có 1 người sẽ trở thành tài giỏi để có thể kiếm sống bằng nghề đó. Một nghề mà trong 20 người chỉ có 1 người thành công, thì người thành công đó phải giành được tất cả những gì mà đáng lẽ 20 người kia cũng phải đạt được [33, tr.
Như vậy, với việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tiền lương, sự khác nhau về tiền lương của các công việc khác nhau cho thấy quan điểm tiến bộ của A.Smith về tiền lương. Đây cũng là cơ sở lý luận để nghiên cứu tiền lương của đội ngũ giảng viên Đại học ở nước ta hiện nay, khi tính giá trị sức lao động cho các giảng viên đại học cần chú ý tới công lao và tiền của mà họ phải bỏ ra để có chuyên môn, kỹ năng, kỹ xảo mới có thể làm được giảng viên đứng trên bục giảng; tiền lương trả cho uy tín của người thầy giáo; tiền lương trả cho sự thành đạt của công việc mà một giảng viên Đại học có được. Tuy nhiên, quan điểm về tiền lương của A.Smith cũng có những hạn chế: ông thiếu quan điểm lịch sử cụ thể về tiền lương; do chưa phân biệt được lao động với sức lao động nên ông tin rằng tiền lương là tiền trả cho lao dộng. - Quan điểm cơ bản về tiền lương của David Ricardo: 7 D.Ricardo coi tiền lương là giá cả của lao động và ông phân biệt hai loại “giá cả tự nhiên” và “giá cả thị trường” của lao động.Theo Ricardo “giá cả tự nhiên” của lao động bằng giá cả của tất cả các vật dụng hàng hoá dùng để duy trì cuộc sống của người công nhân và gia đình anh ta.
Giá cả này tăng khi giá cả lương thực và giá cả tư liệu sinh hoạt khác tăng. Còn “giá cả thị trường”của lao động là do giá cả tự nhiên của lao động quyết định và phụ thuộc vào quan hệ cung cầu của lao động, lao động đắt khi nó ít và ngược lại. Ricardo cho rằng sự vận động lên xuống của tiền lương là do hai nguyên nhân: 1. Giá cả tự nhiên của lao động thay đổi; 2.Quan hệ cung cầu về lao động thay đổi.
Theo ông, tiền lương của công nhân lúc nào cũng chỉ nên ở mức thấp vừa đủ sống, vì tiền lương cao người công nhân sẽ có khuynh hướng sinh đẻ nhiều và nếu đời sống sung túc thì tỉ lệ chết cũng giảm xuống tới mức tối thiểu. Do đó số công nhân cần làm việc sẽ gia tăng trong khi sức cầu về lao động tương đối không thay đổi và điều này sẽ làm cho tiền lương trở lại mức tối thiểu. Như vậy, cả A.Ricardo đều cho rằng tiền lương là giá cả của lao động. Vì cả hai ông chưa phân biệt được lao động và sức lao động.
Những luận điểm cơ bản của C.Mác về tiền công trong nền kinh tế thị trường tư bản Từ những năm 40 của thế kỷ XIX C.Mác đã đi đến kết luận là các phạm trù kinh tế, phản ánh đặc tính của phương thức sản xuất cần phải được phân tích như các phạm trù lịch sử. Chính vì lẽ đó mà C.Mác đã nghiên cứu xem phạm trù tiền công của công nhân với tư cách là nguồn thu nhập chủ yếu trong những điều kiện đặc thù của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Nghiên cứu tiền công trong CNTB, C.Mác chưa nghiên cứu tiền công(tiền lương) của công chức,viên chức làm việc trong các tổ chức của bộ máy nhà nước tư sản vì tiền lương - thu nhập của đội ngũ này là do kết quả của phân phối lại mà có.Mác chỉ tập trung nghiên cứu tiền công(tiền lương) của công nhân làm thuê cho các nhà tư bản trong các ngành sản xuất vật chất (và một số ngành dịch vụ như thương nghiệp, ngân hàng.) để làm rõ quan hệ đặc trưng bản chất nhất của quan hệ sản xuất TBCN là quan hệ giữa tư bản và lao động làm thuê, nhằm chỉ rõ nguồn gốc và bản chất của giá trị thặng dư, nguồn gốc đem lại sự giàu có của các nhà tư bản trong xã hội tư bản.Mác không nghiên cứu đầy đủ tiền lương của khu vực dịch vụ, song những luận điểm cơ bản của C.Mác về tiền công đã cho ta những cơ sở lý luận và phương pháp luận để tìm hiểu tiền lương của khu vực này. Dưới đây xin tóm lược những luận điểm cơ bản của C.Mác về tiền công (tiền lương).
Một là, bản chất của tiền lương. 8 Về mặt biểu hiện bên ngoài, tiền công của người công nhân là số tiền mà nhà tư bản trả cho người công nhân sau một thời gian lao động nhất định, hay sau khi hoàn tất một công việc nhất định. Do đó, người ta đã lầm tưởng tiền công là tiền trả cho người lao động khi làm xong công việc, số tiền đó ngang bằng với số lượng lao động mà người lao động đã bỏ ra, hay nói cách khác tiền công là giá cả của lao động. Để làm rõ bản chất của tiền công, C.Mác đã chứng minh thực tế, cái mà nhà tư bản mua là mua sức lao động - khả năng lao động của công nhân.
Sức lao động là đối tượng mua bán giữa nhà tư bản với công nhân làm thuê. Sức lao động của công nhân cũng là hàng hoá như tất cả các hàng hoá khác. Sức lao động được trao đổi với các hàng hoá khác theo một tỷ lệ nhất định. Tiền công chỉ là một cái tên riêng của giá cả sức lao động.Mác đã nhấn mạnh, trong tiền công vẫn còn ẩn chứa những quan hệ khác.
Những quan hệ này chỉ được nhận thức sau khi phân tích nội dung bản chất của lao động dưới chủ nghĩa tư bản.