Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cương về tiếng ồn trong lao động và ảnh hưởng sức khỏe 1. Tiếng ồn Tiếng ồn là tập hợp những âm thanh có cường độ và tần số khác nhau, được sấp xếp một cách ngẫu nhiên, gây cảm giác khó chịu cho người nghe, cản trở con người làm việc và nghỉ ngơi hay là âm thanh mà người ta không mong muốn. Cường độ tiếng ồn càng cao khả năng gây hại càng lớn, các sóng cao tần có thể gây hại ngay ở mức 70dBA, trong khi các sóng trung tần hoặc tần số thấp phải 80 – 90dBA mới gây hại cho cơ thể người tiếp xúc [25][26].
Tiếng ồn trong môi trường lao động theo tiêu chuẩn vệ sinh lao động của Việt Nam do Bộ Y tế ban hành tại quyết định số 3733/2002/QĐ-BYT ngày 10 tháng 10 năm 2002. Trong đó quy định: Mức áp âm liên tục hoặc mức tương đương Leq dBA tại nơi làm việc không quá 85dBA trong 8 giờ. Nếu thời gian tiếp xúc với tiếng ồn giảm đi một nửa, mức ồn cho phép tăng thêm 5dBA. Mức cực đại không quá 115dBA.
Thời gian lao động còn lại trong ngày làm việc chỉ được tiếp xúc với tiếng ồn dưới 80dBA. Mức áp âm cho phép với tiếng ồn xung thấp hơn 5dBA so với các giá trị trên [4][5][25][26]. Ở Việt Nam, phơi nhiễm tiếng ồn công nghiệp có ở hầu hết các ngành quan trọng. Theo nghiên cứu trong các ngành công nghiệp nặng, mức tiếng ồn có thể lên 90 – 100dBA, đầu máy tàu hỏa là 90 – 101dBA, công nghiệp dệt là 90 - 104dBA.
Đặc biệt là ngành hàng không và thợ máy có thể chịu mức ồn tới 130dBA [25]. Đặc thù của ngành công nghiệp đóng tàu thủy là hoạt động sản xuất kết hợp giữa công nghệ hiện đại và sản xuất thủ công. Tiếng ồn phát ra từ việc cẩu kéo các bộ phận sắt thép của vỏ tàu va chạm với nhau, phun bắn cát làm sạch bề mặt trước khi sơn, cưa cắt thép, gò hàn, nung nóng, mài, đánh bóng,…Môi trường lao động tại đây ngoài việc bị ô nhiễm tiếng ồn cao còn chứa đựng các yếu tố khác phát sinh trong quá trình sản xuất như: nhiệt độ cao, hơi khí độc (CO, CO2, benzen,…), bụi, rung,…Điều kiện làm việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm tiềm ẩn nguy 5 cơ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và các bệnh liên quan đến nghề nghiệp cho người lao động. Các giai đoạn tác động của tiếng ồn đến thính giác Tác động của tiếng ồn lên cơ quan thính giác được chia làm ba giai đoạn chính như sau: Giai đoạn thích nghi thính giác: Sau một thời gian tiếp xúc có hiện tượng thích nghi thính giác để tránh cho cơ quan thính giác khỏi bị tổn thương do kích thích quá mạnh của tiếng ồn.
Trong giai đoạn này ngưỡng nghe thường tăng lên từ 10 – 15dBA khi tiếp xúc với tiếng ồn. Khi ngừng tiếp xúc ngưỡng nghe trở lại một cách nhanh chóng (chỉ sau 2 -3 phút). Giai đoạn này khó phát hiện [25][30]. Giai đoạn mệt mỏi thính giác: Giai đoạn này, khi tiếp xúc với tiếng ồn ngưỡng nghe tăng lên nhiều hơn giai đoạn trước (thường tăng lên 15- 30dBA), thời gian hồi phục về ngưỡng ban đầu chậm hơn (thường 25 – 30 phút).
Cơ quan thính giác bắt đầu giảm cảm thụ với âm thanh (giảm sức nghe), nhất là âm thanh ở tần số 4000Hz. Phát hiện được hiện tượng này là rất quan trọng vì có thể ngăn không cho bệnh phát triển tiếp, nhưng thường khó phát hiện. Cơ chế là do các cơ của hệ thống xương ở tai giữa như xương búa, xương đe, xương bàn đạp co lại để giảm độ rung của xương hoặc đổi hướng xương bàn đạp từ trước – sau thành trên – dưới để giảm tác dụng truyền vào tai trong [25][30]. Giai đoạn điếc nghề nghiệp: Điếc nghề nghiệp tiến triển trong thời gian dài qua nhiều giai đoạn.
Người ta chia điếc nghề nghiệp ra 3 mức (hay 3 giai đoạn) như sau: - Mức nhẹ (giai đoạn mệt mỏi thính lực): chỉ giảm sức nghe với các âm có tần số cao, nhất là ở 4000Hz. Nếu đo thính lực âm, chữ V thính lực lồi chưa rõ tổn thương, khả năng nghe bình thường, nghe được tiếng nói thầm. Biểu hiện: ù tai, mệt mỏi, giai đoạn này có thể hồi phục được nếu ngừng tiếp. - Mức trung bình (giai đoạn tiềm tàng): giảm sức nghe cả âm tần số cao (4000Hz) và tần số trung bình (500, 1000Hz).
Đo thính lực âm thể hiện rõ điếc tiếp âm thể 6 đáy: chữ V thính lực lõm xuống 10 – 15dBA ở giải tần số 3000 – 5000Hz, đỉnh là tần số 4000Hz. Khả năng nghe nói thầm giảm, chỉ nghe được khi tiếng nói thầm ở khoảng cách 2-3 mét trở lại. - Mức điếc nặng (giai đoạn điếc nghề nghiệp rõ rệt): biểu hiện điếc tiếp âm trên toàn thể loa đạo. Ngưỡng nghe tăng cao đối với các âm ở tần số cao, tần số trung bình và cả tần số thấp; khả năng nghe tiếng nói thầm chỉ còn ở khoảng cách từ 1mét trở lại [25][30].
Đặc điểm lâm sàng: + Là điếc tiếp âm do tổn thương tai trong: mức tổn thương mạnh nhất xảy ra ở vùng đáy loa đạo, chủ yếu tổn thương tế bào thần kinh, khác với điếc truyền âm do bị tổn thương hệ thống truyền âm (màng nhĩ, xương búa, xe đe, xương bàn đạp,.) + Tổn thương xảy ra hai bên tai, sức nghe giảm cả hai bên tai. + Tổn thương sẽ ngừng tiến triển khi ngừng tiếp xúc với tiếng ồn, nhưng không thể hồi phục được. Giảm thính lực Tiêu chuẩn xác định giảm thính lực Giảm thính lực là khi dùng máy đo thính lực âm đo theo dẫn truyền đường khí ở hai tần số 1000Hz và 4000Hz mà ngưỡng nghe của đối tượng từ 50 – 60dB ở tần số 4000Hz thì gọi là giảm thính lực [25][30]. Tiêu chuẩn chẩn đoán giảm thính lực theo Bộ Y tế: - Yếu tố tiếp xúc: tiếp xúc với tiếng ồn có cường độ từ 90dBA trở lên, nếu tiếng ồn có xung thì mức này là 85dBA, thời gian tiếp xúc tối thiểu là 3 tháng (với mức 6 giờ một ngày trở lên).
- Không bị tổn thương tiền đình, không có tổn thương thực thể màng nhĩ và không có tiền sử bệnh tật về: chấn thương sọ não, ngộ độc hóa chất độc, chấn thương âm. - Khi đo thính lực sơ bộ bằng máy đo thính lực âm đo ở hai tần số 1000Hz và 4000Hz theo dẫn truyền đường khí. Đo ngay tại cơ sở, với phòng cách âm có âm nền không quá 45dBA. Dùng đo định kỳ hàng năm, nếu phát hiện những người 7 giảm thính lực từ 50 – 60dBA ở tần số 4000Hz, giảm đều ở hai tai thì chẩn đoán là giảm thính lực và cần đo thính lực hoàn chỉnh để phát hiện bệnh điếc nghề nghiệp [25][30].
Điếc nghề nghiệp là một vi chấn thương do tiếng ồn quá mức gây hại lên cơ quan thính giác đặc biệt là những tổn thương không hồi phục của cơ quan Corti và dây thần kinh thính giác ở tai trong. Trong môi trường lao động người công nhân phải làm việc khi tiếng ồn cao vượt quá tiêu chuẩn cho phép 85dBA trong 8 giờ/ngày và kéo dài trên 3 tháng thì có nguy cơ bị điếc nghề nghiệp, nếu dưới 3 tháng mà tiếng ồn đã gây tác hại thì phải coi là tai nạn lao động do tiếng ồn [22][25][30]. Giải phẩu bệnh và cơ chế bệnh sinh điếc nghề nghiệp có nhiều giả thiết về cơ chế bệnh sinh của bệnh điếc nghề nghiệp, có thể chia làm hai nhóm chính: Cơ chế chung: theo Đặng Đức Bảo (1976) sự kích thích quá ngưỡng và lâu dài của tiếng ồn làm suy kiệt tế bào thần kinh, suy giảm sức nhạy cảm với âm thanh nhất là tần số cao, lâu ngày phát sinh rối loạn dinh dưỡng của tế bào thần kinh của cơ quan corti, gây hủy hoại tế bào này gây ra bệnh điếc nghề nghiệp. Theo Wisner (1971) là tế bào thính giác bị phá hủy do một lượng âm mạnh tấn công và phát sinh nhiệt năng, làm biến đổi protein của tế bào.Lipscom đặt chuột lang trong chiếc hộp, cho nghe âm nhạc cường độ 120dBA trong 88 giờ chia ra trong 3 tháng, thấy 25% tế bào ở ốc tai của chuột lang bị phá hủy [25].
Cơ chế tổn thương thính lực ở tần số 4000Hz: Wisner (1971) cho rằng mạng lưới mạch máu của tai trong khi bị tổn thương là một nguyên nhân gây điếc vì trong một số điếc tiếp âm khác (nhiễm độc, chấn thương sọ não) người ta thấy tổn thương thính lực ở tần số 4000Hz. Lina - Chacum – Desbois (1964) thấy các tổn thương nằm chủ yếu ở đoạn xoắn đầu tiên của ốc tai, do đó các tần số cao (nhất là tần số 4000Hz) bị ảnh hưởng rõ rệt nhất.Furler (1946) thấy hình thành trong dịch mê đạo những cơn xoáy khu trú theo tần số âm thanh kích thích. Cơn xoáy này đổi hướng ở phần màng đáy nơi khu trú tần số 4000Hz. Tiếng ồn công nghiệp có giải tần số rộng, các cơn xoáy ngược chiều xuất hiện đồng thời ở vùng khu trú tần 8 số 4000Hz tác động đến màng đáy theo các hướng trái ngược nhau nên phát sinh tổn thương [25].
Ảnh hưởng của tiếng ồn, giảm thính lực và điếc nghề nghiệp đối với sức khỏe Thính giác là một trong năm giác quan của con người. Tuy bệnh lý của cơ quan thính giác ảnh hưởng rất nhiều đến nhận thức, tư duy, tình cảm, trí tuệ cũng như toàn bộ cuộc sống của người bị ảnh hưởng. Sở dĩ thính giác ít được chú ý không hẳn vì "việc nghe" không quan trọng, mà chỉ vì chúng ta không thể hình dung được người điếc sẽ cảm giác ra sao. Dù chúng ta có bịt tai lại hoặc sống trong một phòng cách âm tuyệt đối, ta vẫn nghe được tiếng tim đập, tiếng hít thở của chính bản thân mình nên chúng ta không thể nào cảm thông được với nỗi khổ của người bị điếc.
Nơi làm việc quá ồn có thể gây ra tác hại nhiều mặt đối với sức khỏe người lao động. Thông thường những rối loạn bệnh lý ở cơ thể dưới tác dụng của tiếng ồn được thể hiện sớm nhất bằng các triệu chứng thần kinh và tim mạch. Các triệu chứng này nhiều khi có trước các triệu chứng ở cơ quan cảm thụ thính giác.