Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH XUẤT KHẨU THỦY SẢN 1. Xuất khẩu thuỷ sản và chính sách xuất khẩu thuỷ sản 1. Khái niệm về chính sách và chính sách xuất khẩu Chính sách là một thuật ngữ được sử dụng rất rộng rãi trong đời sống xã hội. Các chính sách có thể được đưa ra và thực hiện ở nhiều cấp độ khác nhau, từ các tổ chức quốc tế đến từng quốc gia, từ nhà nước cho đến các doanh nghiệp… để có thể giải quyết những vấn đề mà các tổ chức đó đang gặp phải.
Mặc dù được sử dụng khá phổ biến nhưng khái niệm này lại chưa có được sự thống nhất về cách hiểu giữa các nhà nghiên cứu. Trước tiên, khái niệm chính sách đã được các tác giả nước ngoài trình bày như sau: Theo James Anderson, “chính sách là một quá trình hành động có mục đích theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm” [16, tr. Trong khi đó, với Richard C.Remy, “chính sách là phương thức hành động được một chủ thể khẳng định và thực hiện nhằm giải quyết những vấn đề lặp đi lặp lại” [16, tr.10] Đối với các tác giả trong nước, khái niệm chính sách cũng được hiểu và diễn đạt khá phong phú. Theo Từ điển tiếng Việt, chính sách là “sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra”.
Nguyễn Thị Thanh Tâm cho rằng “Chính sách xác định những chỉ dẫn chung cho quá trình ra quyết định, nó vạch ra phạm vi hay giới hạn cho phép các quyết định nào là có thể và những quyết định nào là không thể. Bằng 7 cách đó, các chính sách hướng suy nghĩ và hành động của mọi thành viên trong tổ chức vào việc thực hiện các mục tiêu chung của tổ chức” [10, tr. Một cách ngắn gọn và khái quát hơn, Nguyễn Thị Phượng định nghĩa “Chính sách là chương trình hành động do các nhà lãnh đạo hay nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình” [8, tr. Từ các định nghĩa trên, nếu xét theo nghĩa rộng, chính sách có thể được hiểu là tổng thể các quan điểm phát triển, những mục tiêu tổng quát và những phương thức cơ bản để thực hiện mục tiêu phát triển đất nước.
Và như vậy, chính sách thương mại quốc tế hay chính sách xuất khẩu là một bộ phận trong hệ thống các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Tương tự như khái niệm chính sách, khái niệm chính sách thương mại quốc tế cũng được các nhà nghiên cứu trình bày với nội hàm rộng hẹp khác nhau tùy theo mục đích của người nghiên cứu. WTO định nghĩa chính sách thương mại quốc tế là “khuôn khổ hoàn chỉnh các luật, quy định, các hiệp định quốc tế và các kết quả đàm phán được chính phủ một nước chấp nhận để đạt được sự tiếp cận thị trường có ràng buộc về mặt pháp luật với các công ty trong nước” [16, tr. Trong một nghiên cứu khác, Đặng Hùng Sơn trình bày khái niệm chính sách thương mại quốc tế “là một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước nhằm thể chế hóa các nguyên tắc, luật lệ, điều ước quốc tế của một quốc gia đã tham gia ký kết, trong đó thể hiện quan điểm, mục tiêu, định hướng; quy định rõ nguyên tắc, công cụ, biện pháp một quốc gia sử dụng để điều chỉnh hoạt động thường mại quốc tế tương ứng với một thời kỳ, một giai đoạn nào đó theo chiến lược phát triển kinh tế của quốc gia đó” [9, tr.
Trong luận văn này, chúng tôi chấp nhận quan niệm của nhóm tác giả Ngô Thị Tuyết Mai, Đỗ Thị Hương. Theo đó“chính sách thương mại quốc tế 8 là hệ thống các quan điểm, mục tiêu, nguyên tắc và các công cụ, biện pháp thích hợp mà nhà nước sử dụng để can thiệp các hoạt động thương mại quốc tế của một quốc gia trong từng thời kỳ nhất định nhằm đạt được các mục đích đã định trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia đó” [6, tr.39] Nhìn chung, mỗi cách định nghĩa về chính sách thương mại quốc tế đều có tính hợp lý và bao quát nhất định. Tuy nhiên, điểm cần lưu ý hiện nay đó là chính sách thương mại quốc tế của mỗi quốc gia được xây dựng không chỉ dựa trên điều kiện kinh tế của quốc gia mình mà còn phải dựa trên những thông lệ, chuẩn mực của các hiệp định thương mại song phương và đa phương mà nước đó tham gia. Từ các quan điểm nêu trên, để thuận tiện cho thao tác làm việc trong luận văn này, chúng tôi về cơ bản tán đồng và sử dụng quan niệm của nhóm tác Ngô Thị Tuyết Mai, Đỗ Thị Hương về chính sách xuất khẩu.
Theo đó, chính sách xuất khẩu là hệ thống quan điểm, mục tiêu và các phương pháp, cách thực cụ thể phù hợp với điều kiện trong nước và thông lệ quốc tế được nhà nước sử dụng để tiến hành hoạt động xuất khẩu nhằm phục vụ cho hoạt động phát triển kinh tế - xã hội của đất nước [10]. Đặc điểm của chính sách và chính sách xuất khẩu Chính sách xuất khẩu có thể được coi là hạt nhân của chính sách thương mại quốc tế. Do đó, những đặc điểm của chính sách thương mại quốc tế được thể hiện rất rõ nét và cụ thể nơi chính sách xuất khẩu [7]. Thứ nhất, chính sách xuất khẩu mang tính lịch sử rõ rệt.
Nó được thay đổi khá thường xuyên và có tác dụng trong thời kỳ nhất định. Tùy theo hoàn cảnh lịch sử cụ thể, mỗi quốc gia thường có chính sách xuất khẩu thể hiện ý chí, nguyên tắc và mục tiêu phát triển của mình. Xét riêng trường hợp của Việt Nam, giai đoạn mới bắt đầu hội nhập kinh tế quốc tế, những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của chúng ta tập trung ở các sản phẩm nông nghiệp như lúa 9 gạo, nông sản… Trong khi đó những năm gần đây, các mặt hàng xuất khẩu chiếm ưu thế và mang lại lợi nhuận cao lại là điện thoại và linh kiện điện thoại, máy vi tính, sản phẩm điện tử, hàng dệt may… Điều này cho thấy nhà nước đã có sự điều chỉnh chính sách xuất khẩu, ưu tiên những mặt hàng đòi hỏi trình độ kỹ thuật, có giá trị gia tăng cao, thu được lợi nhuận lớn. Thứ hai, chính sách xuất khẩu không tồn tại độc lập mà luôn là bộ phận trong hệ thống chính sách kinh tế của quốc gia.
Chính sách xuất khẩu có quan hệ chặt chẽ với các chính sách có liên quan như: chính sách đầu tư, chính sách tài chính - tiền tệ, chính sách khoa học - công nghệ…. Và trong nhiều trường hợp có sự đan xen giữa các chính sách. Chẳng hạn, trong cuộc xung đột thương mại giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ kéo dài suốt thời gian nhiệm kỳ tổng thống Donal Trump (2017- 2021) với cao điểm là năm 2019, Trung Quốc đã phá giá đồng Nhân dân tệ như một chính sách quan trọng thúc đẩy xuất khẩu thông qua tăng khả năng cạnh tranh quốc tế của hàng hoá. Việc giữ giá đồng nội tệ thấp phục vụ đắc lực cho mô hình cơ cấu kinh tế cũng như tăng trưởng kinh tế định hướng vào xuất khẩu của Trung Quốc.
Đây là ví dụ cho thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa chính sách xuất khẩu và chính sách tiền tệ của Trung Quốc. Thứ ba, chính sách xuất khẩu chịu tác động của nhiều yếu tố: chính trị, kinh tế, xã hội trong nước và quốc tế. Những biến động về các yếu tố trên sẽ làm ảnh hưởng rõ rệt tới chính sách xuất khẩu của mỗi quốc gia. Ví dụ: năm 2011, để giữ giá của than đá, Chính phủ Trung Quốc đã áp dụng hạn ngạch xuất khẩu than đá ở mức 38 triệu tấn.
Năm 2020, trước sự ảnh hưởng mạnh mẽ của đại dịch Covid-19 với kinh tế toàn cầu, giá dầu trên thế giới rớt liên tục xuống mức thấp kỷ luc. Để tránh thua lỗ, các nước thành viên OPEC đã thống nhất cắt giảm sản lượng dầu thô chỉ còn 7,7 triệu thùng/ngày (thời điểm tháng 9 năm 2020). 10 Thứ tư, các công cụ và biện pháp dùng để điều chỉnh chính sách xuất khẩu rất đa dạng, ví dụ: thuế quan, hạn ngạch, các hàng rào kỹ thuật, tín dụng xuất khẩu, trợ cấp xuất khẩu, bán phá giá và chống bán phá giá… Các công cụ này có thể được sử dụng riêng lẻ hoặc kết hợp với nhau tùy theo mục đích cụ thể. Lấy trường hợp Luật thuế xuất nhập khẩu năm 2016 của Việt Nam là một ví dụ.
Luật này quy định 3 loại thuế suất tùy theo từng đối tác thương mại là thuế suất ưu đãi, thuế suất ưu đãi đặc biệt và thuế suất thông thường. Thuế suất ưu đãi áp dụng với hàng hóa nhập khẩu, xuất xứ từ các nước hay nhóm nước, vùng lãnh thổ thực hiện MFN trong quan hệ thương mại với Việt Nam. Ví dụ: Từ khi gia nhập WTO, Việt Nam đã áp dụng thuế MFN với các nước thành viên WTO ở mức trung bình là 13,4 % (trừ các nước đã ký các thỏa thuận song phương khác). Thuế suất ưu đãi đặc biệt áp dụng với các hàng hóa nhập khẩu, có xuất xứ từ nước hay nhóm nước, vùng lãnh thổ thực hiện ưu đãi đặc biệt về thuế nhập khẩu với Việt Nam.
Ví dụ: Biểu thuế ưu đãi đặc biệt được sử dụng để thực thi Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA) giai đoạn 2018 - 2022 (theo Nghị định số 156/2017/NĐ-CP ngày 27/12/2017 của Chính phủ) với mức thuế dành cho khoảng 15000 mã hàng hóa dao động từ 0 - 5%. Thuế suất thông thường áp dụng với các hàng hóa nhập khẩu, có xuất xứ từ nước hay nhóm nước, vùng lãnh thổ không thực hiện MFN và không có ưu đãi đặc biệt về thuế nhập khẩu với Việt Nam. Thuế suất thông thường được quy định bằng 150% so với thuế suất ưu đãi của các mặt hàng tương ứng. Vai trò của xuất khẩu thủy sản đối với nền kinh tế Với xu thế tự do hóa thương mại hiện nay, xuất khẩu (cùng với nhập khẩu) không chỉ đóng vai trò hỗ trợ trong quá trình phát triển kinh tế của mỗi quốc gia mà nó còn trực tiếp ảnh hưởng đến những vấn đề thuộc nội bộ nền kinh tế như: vốn, lao động, kỹ thuật, thị trường… Đối với Việt Nam, đẩy 11 mạnh xuất khẩu là một trong những mục tiêu quan trọng trong việc phát triển kinh tế đối ngoại.