Chương 1 trình bày về lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên c ứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và nêu lên ý nghĩa của đề tài. 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2.1 Sự gắn kết của nhân viên với tổ chức 2.1 Khái niệm về sự gắn kết với tổ chức Sự gắn kết là ý định gắn kết lâu dài với tổ chức. Bởi sự gắn k ết c ủa mỗi cá nhân không chỉ đơn giản là vấn đề của cá nhân mà đó là m ột m ắt xích trong chuỗi làm việc tận tâm cống hiến nhằm đạt mục tiêu tổ chức đề ra. Đến nay, có rất nhiều quan điểm, ý kiến khác nhau c ủa các nhà nghiên cứu trong việc định nghĩa sự gắn kết của nhân viên với tổ chức.
Theo Porter và ctg (1974), gắn kết với tổ chức là niềm tin mạnh mẽ và chấp nhận các mục tiêu của tổ chức, sẵn sàng nỗ lực hết mình vì tổ chức và mong muốn duy trì là thành viên của tổ chức. Theo Dubin và ctg (1975), sự gắn kết với tổ chức là sự sẵn sàng ở lại với tư cách là một thành viên của tổ chức, sẵn sàng n ỗ l ực vì t ổ ch ức và ủng hộ mục tiêu, giá trị của tổ chức. Với Steers (1977), sự gắn kết với tổ chức cho thấy “mong muốn thực hiện nỗ lực lớn vì lợi ích của tổ chức” và “mong muốn duy trì m ột m ối quan hệ tốt và là thành viên chặt chẽ của tổ chức”. Ở góc độ tiếp cận khác, Mowday và ctg (1982) định nghĩa gắn kết với tổ chức là sức mạnh tương đối về sự đồng nhất của một cá nhân với sự tham gia vào một tổ chức cụ thể.
Về mặt khái niệm, sự gắn kết với tổ chức gồm có ba yếu tố, đó là: niềm tin mạnh mẽ, chấp nhận những mục tiêu và các giá trị của tổ chức, sự sẵn lòng nỗ lực vì tổ chức và mong muốn duy trì tư cách là thành viên của tổ chức. Theo Bateman và Strasser (1984), gắn kết với tổ chức là mối quan hệ đa chiều trong tự nhiên, liên quan đến lòng trung thành c ủa nhân viên 6 đối với tổ chức, sẵn sàng nỗ lực vì tổ chức, mức độ mục tiêu và giá trị hợp thức với tổ chức, và mong muốn duy trì với tổ chức. Theo O’Reilly và ctg (1986), sự gắn kết với tổ chức là lời hứa của cá nhân với tổ chức bao gồm ý thức về gắn kết với công việc, lòng trung thành và niềm tin vào các giá trị của tổ chức. Tuy nhiên, Meyer và Allen (1997) cho rằng gắn kết với tổ ch ức là ở lại với tổ chức, tham gia công việc thường xuyên, nỗ lực làm việc mỗi ngày, bảo vệ tài sản của tổ chức và tin vào mục tiêu của tổ chức.
Theo Zangaro (2001), sự gắn kết với tổ chức là lời hứa và cam k ết của nhân viên về trách nhiệm trong tương lai đối với tổ chức. V ới Cohen (2007), sự gắn kết với tổ chức là lòng trung thành của nhân viên với tổ chức, sẵn sàng nỗ lực hết mình vì mục tiêu, giá trị c ủa tổ ch ức và mong muốn duy trì là thành viên của tổ chức. Theo Macey và Schneider (2008) cho rằng sự gắn kết với tổ chức là sự sẵn sàng làm việc tích cực vì tổ chức, cảm thấy tự hào là một thành viên của tổ chức và có sự gắn bó chặt chẽ với tổ chức. Như vậy, sự gắn kết của nhân viên với tổ chức là trạng thái tâm lý thể hiện sự gắn kết của một cá nhân với một tổ chức, với nghề nghiệp; đó là lòng trung thành và sự nhiệt tình làm việc của nhân viên đối với tổ chức; đó là sự sẵn sàng nỗ lực hết mình vì tổ chức, luôn đặt lợi ích c ủa t ổ ch ức lên trên lợi ích của bản thân mình.
Những cá nhân có mức độ gắn kết với tổ chức càng cao sẽ càng hài lòng với công việc của họ, sẽ ít nghĩ đến việc rời bỏ và gắn kết với tổ chức khác.2 Các thành phần của sự gắn kết với tổ chức Sự gắn kết với tổ chức đã được định nghĩa và được đo lường bằng nhiều thang đo khác nhau. 7 Mowday và ctg (1979), sự gắn kết với tổ chức được đo lường bởi ba thành phần: Sự đồng thuận (Identification): mục tiêu cá nhân trùng v ới mục tiêu tổ chức, có niềm tin mạnh mẽ và chấp nh ận m ục tiêu và giá tr ị của tổ chức; Lòng trung thành (Loyalty): mong muốn một cách mạnh mẽ duy trì vai trò thành viên của tổ chức; Sự lôi cuốn (Involvement): b ị lôi cuốn vào các hoạt động của tổ chức và luôn cố gắng tự nguyện vì tổ chức. Angle và Perry (1981), sự gắn kết với tổ chức được đo lường bởi hai thành phần: Gắn kết giá trị (Value commitment): sự gắn k ết để ph ục v ụ cho mục tiêu của tổ chức; Gắn kết duy trì (Commitment to stay): s ự cam kết để duy trì vai trò thành viên của họ trong tổ chức. O’Reilly và ctg (1986), sự gắn kết với tổ chức được đo lường bởi ba thành phần: Sự tuân thủ (Compliance): sự lôi cuốn vì những phần thưởng đặc biệt; Sự đồng thuận (Identification): sự gắn kết vì mong mu ốn h ội nhập với tổ chức; Sự tiếp thu (Internalisation): sự lôi cu ốn do có s ự phù hợp, sự tương đồng giữa giá trị của cá nhân với giá trị của tổ chức.
Penley và Gould (1988), sự gắn kết với tổ chức được đo lường bởi ba thành phần: Đạo đức (Moral): sự chấp nhận và đồng thuận với mục tiêu của tổ chức; Tính toán (Calculative): sự đồng thu ận v ới t ổ ch ức vì nhân viên cảm thấy hài lòng với sự khích lệ vật ch ất khi có nh ững đóng góp cho tổ chức; Thờ ơ (Alienative): nhân viên ở lại tổ chức chỉ vì áp l ực của môi trường, dù họ nhận thấy những gì họ nhận được không còn tương xứng với công sức. Meyer và Allen (1991) đề xuất ba thành phần gắn kết với tổ chức: Gắn kết vì tình cảm (Affective commitment): đề cập đến sự g ắn k ết tình cảm, sự gắn kết chặt chẽ và dồn hết tâm trí vào trong t ổ ch ức c ủa nhân viên; Gắn kết do bắt buộc (Continuance commitment): gắn kết do ng ười nhân viên nhận thấy chi phí phải trả cao (chi phí cơ hội) khi phải rời bỏ tổ 8 chức; Gắn kết vì quy chuẩn (Normative commitment): phản ánh g ắn k ết dựa trên nghĩa vụ của nhân viên đối với tổ chức. Mayer và Schoorman (1992), sự gắn kết với tổ chức được đo lường bởi hai thành phần: Giá trị (Value): niềm tin và sự chấp nhận các mục tiêu, giá trị của tổ chức và sự sẵn sàng nỗ lực cho tổ ch ức; S ự duy trì (continuance): mong muốn duy trì vai trò thành viên của tổ chức. Jaros và ctg (1993), sự gắn kết với tổ chức được đo lường bởi ba thành phần: Sự duy trì (Continuance): là mức độ mà một cá nhân cảm thấy họ phải gắn kết với tổ chức vì họ sẽ mất nhiều hơn so với có nếu h ọ r ời khỏi tổ chức; Yêu mến (Affective): là mức độ mà một cá nhân gắn kết v ề mặt tâm lý thông qua những cảm giác như lòng trung thành, cảm thấy yêu mến tổ chức, hài lòng với tổ chức, nhiệt tình vì t ổ chức và c ảm th ấy mình thuộc về tổ chức; Đạo đức (Moral): là mức độ mà một cá nhân g ắn k ết v ề mặt tâm lý với tổ chức thông qua mục tiêu, giá trị và sứ mệnh của tổ chức.
Thế nhưng, định nghĩa của Meyer và Allen (1991) được chấp nhận và sử dụng nhiều nhất trong các nghiên cứu hiện nay, có ba dạng gắn kết “ tình cảm”, “ bắt buộc”, và “ quy chuẩn”. Tuy nhiên, trong nghiên c ứu phân tích tổng hợp các tiền đề, tương quan và kết qu ả của ba thành ph ần g ắn kết “Gắn kết vì tình cảm”, “Gắn kết do bắt buộc” và “Gắn kết vì quy chuẩn”, Meyer và Allen (1991) đã phát hiện ra rằng ba thành ph ần g ắn k ết này có liên quan với nhau và liên quan với mức độ không đ ồng đ ều. Trong đó, “Gắn kết vì tình cảm” có mối tương quan mạnh nhất và phù hợp nhất đến các vấn đề liên quan của tổ chức (sự tham gia, kết quả kinh doanh, hành vi của nhân viên trong tổ chức). “Gắn kết do quy chuẩn” cũng có m ối t ương quan nhưng không cao và “Gắn kết do bắt buộc” hầu như không liên quan (Hà Nam Khánh Giao và Bùi Nhất Vương, 2016).
Vì “Gắn kết vì tình cảm” có mối tương quan mạnh nhất nên trong nghiên cứu này tác gi ả ch ỉ ch ọn thành phần “Gắn kết vì tình cảm” làm biến phụ thuộc để đo lường cho sự 9 gắn kết với tổ chức của nhân viên đang làm việc tại Công ty TNHH Hùng Cá.3 Tầm quan trọng của việc duy trì sự gắn kết của nhân viên Các nhà lãnh đạo luôn luôn mong muốn tổ chức mình ổn đ ịnh v ề mặt nguồn lực cũng như có được những vị trí chủ chốt, toàn tâm toàn lực theo đuổi mục tiêu chung của công ty. Khi một tổ chức gặp khó khăn nhân viên thường có xu hướng bỏ đi tìm đối tác mới, nơi làm việc mới. Vậy phải làm thế nào để giữ chân họ, khiến họ không ra đi vì luôn s ẵn lòng g ắn k ết với tổ chức. Khi nhân viên trung thành luôn gắn kết ở bên cạnh bạn, công việc và sự tăng lợi nhuận diễn ra rất dễ dàng.
Chúng ta đang đối mặt với một vấn đề hết sức nghiêm trọng là thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao (Tracy, 2007). Duy trì nguồn nhân lực là một trong những nội dung quan trọng của công tác qu ản tr ị ngu ồn nhân lực (Trần Kim Dung, 2009). Ngoài ra cần phải duy trì sự gắn kết của nhân viên với tổ chức, tạo điều kiện cho nhân viên được học tập nâng cao trình độ, tay nghề; làm cho nhân viên ham muốn với công việc c ủa h ọ, ph ải t ạo cho nhân viên cảm giác an tâm công tác, có như vậy hiệu quả công việc mới cao. Nhân viên được đánh giá cao gắn kết với tổ chức, đã chứng minh sự sẵn sàng để chia sẻ và hy sinh được mong đợi của tổ chức.