Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Khái quát các công trình nghiên cứu trên thế giới Giáo dục là con đường giúp cho hầu hết các quốc gia đang phát triển thoát khỏi đói nghèo, là việc chuẩn bị nguồn nhân lực có chất lượng của mỗi đất nước. Cùng với xu thế quốc tế hóa và hội nhập toàn cầu thì nhân tố con người ngày càng được coi trọng và đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển của quốc gia.
Không chỉ riêng đối với Việt Nam mà đối với tất cả các nước trên thế giới đều coi giáo dục là quốc sách hàng đầu. Giáo dục quan trọng là vậy, tuy nhiên tình trạng bỏ học của trẻ em vẫn diễn ra ở nhiều nơi, nhiều nước trên thế giới. Cho đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này dưới nhiều góc độ khác nhau, tiêu biểu là: Nghiên cứu của UNESCO (1980), trên tạp chí A Statislical study of Trendsand Patterns in Repetiuon and Dropout có bài “Wastage in Primary and General Secondary Education”, đã chỉ ra rằng ở cấp độ quốc gia, tỷ lệ nhập học của trẻ em được coi là chỉ số để đánh giá sự phát triển của quốc gia và có tỷ lệ thuận với tăng trưởng kinh tế. Từ năm 1990, tỷ lệ học hết tiểu học trên thế giới đã có sự cải thiện đáng kể.
Các nước có mức thu nhập trung bình như Malaysia, Mehico có tỷ lệ nhập học ở cấp tiểu học đạt gần 100%, còn các nước có thu nhập thấp như Kenya và Yemen chỉ đạt dưới 70% [45]. Nghiên cứu của UNICEF (2010) được trình bày trong “Báo cáo phân tích tình hình trẻ em tỉnh Điện Biên”, chỉ ra rằng khi tỷ lệ nhập học ngày càng cải thiện thì việc học sinh bỏ học đang là một trong những vấn đề mà hầu như tất cả các nước đang phát triển phải đối mặt. Điều này không những có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả của việc phổ cập hóa giáo dục cấp tiểu học mà còn là một 6 sự lãng phí nguồn lực và tăng số người mù chữ. Trong các nước đông dân số, tỷ lệ nhập học cao đồng thời tỷ lệ bỏ học ở các nước này cũng cao [38].
Như vậy, do điều kiện và chính sách kinh tế - xã hội khác nhau, một số nước cũng đã đạt được những mục tiêu đề ra đối với giáo dục. Song bên cạnh đó, nhiều nước cũng đã không đạt được mục tiêu đó. Các quốc gia sẽ phải đương đầu với các vấn đề về bỏ học của học sinh ở các cấp học trong từng giai đoạn phát triển của mình. Điều này được các nhà nghiên cứu quan tâm, tùy theo cách tiếp cận và từng lĩnh vực nghiên cứu mà có những lý giải về nguyên nhân bỏ học của học sinh.
Năm 2008, trong bài báo “Socioeconomic determinants of primary school dropout”, Okumu, Ibrahim M.; Nakajjo; Alex and Isoke, Doreen đã phân tích các yếu tố kinh tế - xã hội tác động đến tình trạng bỏ học của học sinh tại Uganda. Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng các yếu tố như giới tính, mức học phí, giới tính của chủ hộ không có ý nghĩa tác động đến tỷ lệ bỏ học của học sinh, mà cho ra rằng các biến số như: quy mô gia đình, trình độ học vấn của cha mẹ, địa vị kinh tế của gia đình. là những nhân tố quan trọng tác động đến cơ hội tiếp tục học tập của trẻ em. Ngoài ra còn các yếu tố liên quan đến văn hóa, niềm tin, thái độ cha mẹ cũng đóng vai trò quan trọng đối với việc học tập của trẻ em.
Đặc biệt, hoàn cảnh bất lợi về kinh tế - xã hội vừa là nguyên nhân, vừa là hậu quả của tình trạng bỏ học di truyền [42]. Nghiên cứu của N. Mohanty thông qua mối quan hệ giữa nhân khẩu học với việc lập kế hoạch giáo dục đã cho thấy, việc xây dựng và thực hiện mục tiêu nâng cao tỷ lệ nhập học và chất lượng giáo dục trong phát triển giáo dục cần phải tính đến các yếu tố nhân khẩu như cấu trúc giới tính và độ tuổi của dân cư. Giữa nhân khẩu học và kế hoạch giáo dục có liên quan mật thiết với nhau và là hai yếu tố quan trọng để nâng cao tỷ lệ nhập học của trẻ em vàchất lượng giáo dục.
Khi tỷ lệ nhập học cao vượt quá khả năng đầu tư cho giáo dục thì hiệu quả của hệ thống giáo dục từ quan điểm kinh tế và chất lượng giáo dục từ quan điểm của ngành giáo dục sẽ bị giảm. Tỷ lệ nhập học của trẻ em không chỉ là chỉ số của 7 sự phát triển mà còn liên quan đến những vấn đề chủ yếu như hệ thống cơ sở trường học, khoảng cách địa lý và những nhân tố khác như khả năng kinh tế của gia đình cũng mong muốn hướng tới phát triển giáo dục của cha mẹ [43]. Nghiên cứu về tình trạng bỏ học ở Ấn Độ của Stelios N. Georgiou (2007), trên cơ sở số liệu thống kê khá đầy đủ theo các năm và theo đặc điểm kinh tế - xã hội cơ bản như đô thị, nông thôn, giới tính đã chỉ ra xu hướng và số học sinh bỏ học theo từng nhóm tuổi và khối lớp.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, có khoảng 20% học sinh tiểu học và 11% học sinh trung học bỏ học năm 1978, chủ yếu là học sinh lớp 1. Và đặc biệt là theo nghiên cứu này thì tình trạng bỏ học của trẻ em gái chiếm tỷ lệ cao hơn so với trẻ em trai do nhiều nguyên nhân khác nhau trong đó nguyên nhân cơ bản là hiện tượng tảo hôn đã dẫn tới tình trạng học sinh bỏ học nhiều [43]. Nghiên cứu của EL. Suliman ở Ai Cập năm 2000, cho thấy tình trạng bỏ học của trẻ em trong độ tuổi từ 6 đến 15 tuổi chiếm tới 16%.
Trong đó, tình trạng bỏ học của trẻ em gái cao hơn gấp đôi so với tỷ lệ bỏ học của trẻ em trai. Nguyên nhân của tình trạng này ngoài do chi phí giáo dục cao, trường xa còn liên quan đến phong tục tập quán, địa vị của người phụ nữ, điều kiện kinh tế của gia đình, trình độ học vấn và nghề nghiệp của cha mẹ. Nhìn chung các công trình nghiên cứu liên quan đến tình trạng học sinh bỏ học trên thế giới đều xuất phát từ những chính sách, trình độ phát triển, phong tục tập quán truyền thống, thói quen và đặc trưng văn hóa của từng nhóm xã hội khác nhau. Bên cạnh những nguyên nhân khách quan còn những nguyên nhân chủ quan như chất lượng của giáo viên, nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy, cơ sở hạ tầng, trang thiết bị dạy học.
Trong đó, đặc biệt quan trọng và có tác động trực tiếp đến tình trạng này là thái độ và hành vi của cha mẹ đối với việc đi học của trẻ em. Song, điều này lại phụ thuộc vào hai yếu tố chủ yếu là mức thu nhập gia đình, nhận thức, hành vi ứng xử của cha mẹ đối với việc học của trẻ em. Tùy theo góc độ nghiên cứu khác nhau mà các tác giả đã chỉ ra 8 những nguyên nhân khác nhau. Để nâng cao tỷ lệ nhập học và hạn chế tình trạng bỏ học của học sinh, ngoài việc đầu tư cơ sở vật chất và phát triển quy mô trường học còn phụ thuộc vào chính sách dân số, chính sách phát triển nguồn nhân lực, tâm lý và thái độ của cha mẹ và cộng đồng đối với quá trình học tập của trẻ.
Các chính sách, giải pháp thường được đưa ra để ngăn chặn tình trạng bỏ học của trẻ em như xây dựng trường học, cải cách chương trình sách giáo khoa, khuyến khích vật chất và tinh thần đối với học sinh… đều chỉ phát huy tác dụng khi gắn với điều kiện hoàn cảnh cụ thể của từng địa phương, từng nhóm xã hội, cá nhân cha mẹ mà hộ gia đình nơi mà trẻ em đang sống. Yếu tố quan trọng nhất và quyết định trực tiếp nhất đối với mức độ đi học của trẻ là thái độ và hành vi của cha mẹ học sinh đối với việc học của con. Nhưng điều này lại phụ thuộc vào hoàn cảnh gia đình và điều kiện kinh tế - xã hội. Việc xác định ảnh hưởng của điều kiện kinh tế - xã hội đến tình trạng đi học của học sinh là vấn đề cần đáng được quan tâm xem xét và nghiên cứu sâu hơn.
Các nghiên cứu ở Việt Nam Giáo dục là một trong những mục tiêu cơ bản để phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Ở nước ta, phát triển giáo dục được Đảng và Nhà nước coi là quốc sách hàng đầu. Vấn đề nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm. Luật Giáo dục (2005), quy định: “Học tập là quyền và nghĩa vụ của công dân.
Mọi công dân không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, nam nữ, nguồn gốc gia đình, địa vị xã hội, hoàn cảnh kinh tế đều bình đẳng về cơ hội học tập” [9]. Sau đổi mới năm 1986, ở Việt Nam với sự chuyển biến từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường đã đặt ra nhiều vấn đề trong việc phát triển nguồn nhân lực mà cốt lõi là phát triển giáo dục. Những thành tựu đạt được trong phát triển kinh tế xã hội, sự ổn định chính trị làm cho thế và lực nước ta lớn mạnh lên nhiều so với trước. Sự đóng góp về nguồn lực của nhà nước và nhân dân cho phát triển giáo dục ngày càng được tăng cường.
Hơn nữa, sự phát 9 triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ trên thế giới có thể làm cho khoảng cách kinh tế và tri thức giữa Việt Nam và các nước ngày càng lớn hơn, nước ta có nguy cơ bị tụt hậu xa hơn. Hội nhập quốc tế, đặc biệt là sau sự kiện Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO không chỉ tạo cho giáo dục cơ hội phát triển mà còn chứa đựng nhiều hiểm họa, đặc biệt là nguy cơ xâm nhập của những giá trị văn hóa và lối sống xa lạ làm xói mòn bản sắc dân tộc. Ngoài trọng tâm đào tạo con người với đầy đủ năng lực và phẩm chất, thì vấn đề bỏ học của học sinh trung học cũng ngày càng được Đảng, Nhà nước và các tổ chức ban ngành quan tâm. Mặc dù, nghiên cứu về tình trạng bỏ học của trẻ em ở Việt Nam mới bắt đầu thu hút được sự quan tâm của các nhà khoa học sau đổi mới 1986, nhưng đến nay đã đạt được một số thành tựu đáng kể.