CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP TỈNH VÀ CHỈ SỐ CHI PHÍ KHÔNG CHÍNH THỨC 1. Một số khái niệm liên quan đến năng lực cạnh tranh 1.1 Năng lực cạnh tranh Hiện nay có rất nhiều thuật ngữ khác nhau liên quan đến quá trình cạnh tranh giữa các chủ thể được sử dụng song hành cùng với thu ật ng ữ “Năng lực cạnh tranh” (Competitiveness) như: “Sức cạnh tranh” (Competitive Edge), “Khả năng cạnh tranh” (Competitive Capacity), “L ợi thế cạnh tranh” (Competitive Advantage) và “Tính cạnh tranh” (Competitivity). Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có sự th ống nhất trong việc sử dụng những thuật ngữ này. Và trong thực tế, các thuật ngữ “Năng lực cạnh tranh”, “Sức cạnh tranh” và “Khả năng cạnh tranh” đ ều đ ược dùng là “Competitiveness”.
Theo định nghĩa của Đại từ điển tiếng Vi ệt (Nguyễn Như Ý, 1999) thì “Năng lực” là: (1) Những điều kiện đủ hoặc vốn có để làm một việc gì; (2) Khả năng đủ để thực hiện tốt một công việc. Theo quan điểm của Karl Marx, “Cạnh tranh” là: sự ganh đua đấu tranh gay gắt giữa các nhà Tư Bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch. Theo Từ điển kinh doanh Anh (1992) thì cạnh tranh trong cơ chế th ị trường được định nghĩa là: sự ganh đua, kinh địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (tập 1): Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm dành các đi ều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trường có lợi nhất.
6 Dựa vào hai khái niệm trên, ta có thể khẳng định, năng l ực c ạnh tranh là khả năng giành thắng lợi hay lợi thế của ch ủ thể c ạnh tranh (cá nhân hay tổ chức, doanh nghiệp hay quốc gia) trong việc th ực hi ện cùng mục tiêu nào đó, mục tiêu ấy được khái quát nhất, hiệu qu ả cao và phát triển bền vững. Kế thừa những quan niệm đã trình bày, tác giả đưa ra khái niệm về năng lực cạnh tranh như sau: Năng lực cạnh tranh là khả năng tạo lập được những thuận lợi hay lợi thế của chủ thể cạnh tranh thông qua quá trình đổi mới và sáng tạo liên tục nhằm đạt được mục tiêu v ới hi ệu quả cao và bền vững. Nói đến năng lực cạnh tranh, tùy theo yêu cầu nghiên cứu mà có thể đề cập đến năng lực cạnh tranh ở những cấp độ khác nhau nh ư: c ấp đ ộ quốc gia, cấp độ ngành và cấp độ hẹp hơn là năng lực cạnh tranh c ủa doanh nghiệp và của từng loại sản phẩm/dịch vụ. Dẫu đến nay có nhiều quan điểm khác nhau về năng lực cạnh tranh trên các cấp độ, song chưa có một lý thuyết nào hoàn toàn được thừa nhận về vấn đề này, do đó chưa có lý thuyết “chuẩn” về năng lực cạnh tranh.
Chỉ xét riêng năng l ực c ạnh tranh cấp độ quốc gia thì trên thế giới cũng đã có hai hệ thống lý thuyết với hai phương pháp đánh giá được các nước và các thi ết ch ế kinh t ế qu ốc t ế sử dụng phổ biến là: 1 - Phương pháp do Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) thiết lập trong bản Báo cáo Cạnh tranh toàn cầu; 2 - Phương pháp do Viện Quốc tế về Quản lý và Phát triển (IMD) đề xuất trong Niên giám Cạnh tranh thế giới. Cả hai phương pháp trên đều do một số Giáo sư đại học Harvard như Michael Porter, Jeffrey Sachs và chuyên gia c ủa WEF nh ư Peter Cornelius, Macha Levinson tham gia xây dựng.2 Năng lực cạnh tranh quốc gia 7 Năng lực cạnh tranh của quốc gia được hiểu theo nhiều cách ti ếp cận khác nhau. Theo Lương Gia Cường- Nhà xuất bản Giao thông vận tải - 2003: Năng lực cạnh tranh quốc gia được định nghĩa là năng l ực c ủa m ột nền kinh tế đạt được tăng trưởng bền vững, thu hút được đầu tư, đảm bảo ổn định được kinh tế xã hội, nâng cao đời sống của người dân. Báo cáo về năng lực cạnh tranh toàn cầu (GCI) định nghĩa: Năng lực cạnh tranh quốc gia là khả năng của nước đó đạt được những thành qu ả nhanh và bền vững về mức sống, nghĩa là đạt được mức tăng trưởng kinh tế cao xác định sự thay đổi tổng sản phẩm quốc nội trên đ ầu ng ười theo thời gian.
Ở cấp độ quốc gia, khái niệm năng lực cạnh tranh có ý nghĩa là năng suất sản xuất quốc gia. Năng lực cạnh tranh phụ thuộc vào năng su ất s ử dụng nguồn lực con người, tài nguyên và vốn của một quốc gia, bởi chính năng suất xác định mức sống bền vững thể hiện qua mức lương, t ỷ su ất lợi nhuận từ vốn bỏ ra, tỷ suất lợi nhuận thu được từ tài nguyên thiên nhiên. Năng lực cạnh tranh không phải là việc một qu ốc gia c ạnh tranh trong lĩnh vực gì để thịnh vượng mà là quốc gia đó cạnh tranh hi ệu qu ả như thế nào trong các lĩnh vực. Năng suất c ủa n ền kinh t ế qu ốc dân có được nhờ sự kết hợp của các doanh nghiệp trong và ngoài nước.
Theo đánh giá năng lực cạnh tranh của WEF, năng lực c ạnh tranh của một quốc gia là khả năng đạt và duy trì được mức tăng trưởng cao, là tăng năng lực sản xuất bằng việc đổi mới, sử dụng các công nghệ cao hơn, đào tạo kỹ năng liên tục, quan tâm đến công b ằng xã h ội và b ảo v ệ môi trường. Trên cơ sở quan điểm này, WEF cũng đưa ra một khung khổ các yếu tố xác định năng lực cạnh tranh tổng thể của một quốc gia và phân chia các yếu tố này thành 8 nhóm chính, với hơn 200 chỉ tiêu khác nhau. Từ năm 2000, WEF phân nhóm lại, từ 8 nhóm gộp lại và điều chỉnh thành 3 nhóm lớn, tuy vẫn dựa trên 200 chỉ số cơ bản nhưng trọng số của mỗi chỉ 8 số và mỗi nhóm được điều chỉnh lại cho phù hợp hơn với vai trò, tầm quan trọng của mỗi yếu tố đối với việc nâng cao năng lực cạnh tranh, chẳng hạn chỉ số công nghệ từ hệ số 1/9 lên 1/3. Nhóm 1 - Môi trường kinh tế vĩ mô.
Nhóm 2 - Thể chế công. Nhóm 3 - Công nghệ (còn gọi là nhóm sáng tạo kinh tế, khoa học, công nghệ). Porter cho ra đời cuốn sách “Lợi th ế c ạnh tranh qu ốc gia” nhằm lý giải nguồn gốc của sự thịnh vượng bền vững trong nền kinh tế toàn cầu hiện đại. Trong khi cuốn sách đề cập đến cấp độ quốc gia, điều tương tự có thể và đã được áp dụng vào cấp độ khu vực, thành phố.
Điểm nổi bật nhất trong “Lợi thế cạnh tranh quốc gia” là M. Porter đã vận dụng Mô hình kim cương vào việc lý giải năng lực cạnh tranh quốc gia. Theo đó, mô hình kim cương bao gồm 6 nhân tố: Sơ đồ 1.1: Mô hình kim cương trong lợi thế cạnh tranh quốc gia (Nguồn: Lợi thế cạnh tranh quốc gia của M. Porter) Điều kiện về nhân tố sản xuất: vị trí của quốc gia trong các nhân t ố sản xuất cần thiết để cạnh tranh trong ngành nghề đó.
Ví dụ: lao đ ộng có 9 tay nghề hay cơ sở hạ tầng. Sự trộn lẫn các nhân t ố (được bi ết nh ư là những tỷ lệ thành phần các nhân tố) khác nhau nhiều gi ữa các qu ốc gia. Các doanh nghiệp đạt được lợi thế cạnh tranh nếu họ bảo đảm những nhân tố chất lượng cao hay chi phí thấp nào đó quan trọng đối v ới vi ệc cạnh tranh trong một ngành nghề nào đó. (1) Điều kiện về nhu cầu thị trường: tính chất của nhu cầu trong nước về sản phẩm hay dịch vụ của ngành nghề đó.
Ảnh hưởng quan trọng nhất của nhu cầu nội địa lên những lợi thế cạnh tranh là thông qua đ ặc điểm và tổng hợp nhu cầu khách hàng trong nước. Các yếu tố nhu cầu nội địa giúp các doanh nghiệp nắm bắt, hiểu, và đáp ứng nhu c ầu c ủa ng ười mua. Trong các ngành nghề và phân đoạn ngành nghề, các nước đạt được lợi thế cạnh tranh là những nước có nhu cầu nội địa cung cấp cho các doanh nghiệp địa phương một phác họa rõ ràng và nhanh chóng h ơn v ề nhu cầu của người mua so với những gì các đối thủ nước ngoài có thể thấy được. Áp lực của người mua nội địa thúc đẩy các doanh nghiệp địa phương đổi mới nhanh chóng hơn, tạo được lợi thế cạnh tranh cao hơn so với các đối thủ nước ngoài.
Sự khác nhau giữa các qu ốc gia v ề tính ch ất nhu cầu nội địa nằm sau những lợi thế này. (2) Các ngành nghề hỗ trợ và có liên quan: sự có mặt hay thiếu vắng tại quốc gia đó những ngành nghề cung ứng và ngành nghề có liên quan có khả năng cạnh tranh quốc tế. Sự hiện diện trong một nước của các ngành cạnh tranh có liên quan nhau thường dẫn đến những ngành c ạnh tranh mới. Các ngành có liên quan nhau là những ngành trong đó các doanh nghiệp có thể hợp tác hoặc chia sẻ các hoạt động trong dây chuyền giá trị khi cạnh tranh hoặc những ngành có liên quan v ề các s ản ph ẩm b ổ sung nhau.
(3) Chiến lược, cấu trúc và cạnh tranh của doanh nghiệp: điều ki ện tại quốc gia đó quyết định việc thành lập, tổ chức, quản lý doanh nghi ệp 10 như thế nào, và bản chất của sự cạnh tranh trong nước. Yếu tố quyết định thứ tư của lợi thế cạnh tranh quốc gia trong một ngành nghề là b ối c ảnh mà doanh nghiệp được tạo dựng, tổ chức và quản lý cũng như tính ch ất của đối thủ cạnh tranh trong nước. Mục tiêu, chiến lược, và cách th ức t ổ chức doanh nghiệp trong các ngành nghề biến đổi đa dạng gi ữa các qu ốc gia. Lợi thế quốc gia có được là nhờ họ biết lựa chọn các yếu tố trên và kết hợp với nguồn lợi thế cạnh tranh trong một ngành nghề đặc thù nào đó.
Mô hình cấu trúc của đối thủ địa phương cũng có một vai trò to lớn trong tiến trình cải cách và triển vọng cuối cùng cho sự thành công mang tính quốc tế.