Chương 1 - Cơ sở lý luận và thực tiễn. Chương 2 – Thiết kế và tổ chức dạy học online một số nội dung Hình học 8 nhằm rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh. Chương 3 - Thực nghiệm sư phạm. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.
Khái niệm “Tự học” là một định nghĩa mà các nhà giáo dục học không thể thống nhất hoàn toàn, nhưng những quan điểm khác nhau đó không có khác biệt lớn về ý nghĩa được truyền tải. Theo Nguyễn Cảnh Toàn, tự học là quá trình tự mình động não, sử dụng các NL trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp,…) và có khi cả cơ bắp (khi sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý chí muốn thi đỗ, biến khó khăn thành thuận lợi) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình [39]. Theo quan điểm của ông, học là thu nhận, tích lũy, gia tăng số lượng kiến thức,… Học cốt lõi là tự học, là quá trình phát triển nội tại trong đó chủ thể tự thể hiện và biến đổi mình, tự làm phong phú giá trị của mình bằng cách thu nhận, xử lí và biến đổi thông tin bên ngoài thành tri thức bên trong con người mình [40]. Tác giả của Giáo dục học cho rằng: Tự học là quá trình tự mình lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện KN thực hành không có sự hướng dẫn của GV và sự quản lí trực tiếp của cơ sở giáo dục – đào tạo [42].
Trong cuốn Quá trình dạy học – tự học, Nguyễn Kỳ đã viết: Tự học là HĐ trong đó người học tích cực, chủ động, tự mình tìm ra tri thức kinh nghiệm bằng hành động của mình, tự thể hiện mình. Tự học là người học tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí nghiên cứu, xử lí các tình huống, giải quyết các vấn đề, thử nghiệm các giải pháp [39]. Từ những quan điểm nêu trên, chúng tôi cho rằng tự học là quá trình người học có thái độ, ý thức, động cơ, ý chí, tình cảm,… để tự giác HT một cách tích cực, tự mình động não, sử dụng các NL trí tuệ như quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát,… nhằm tiếp thu kho tàng kiến thức của nhân loại, kinh 8 nghiệm xã hội và lịch sử trong thực tiễn, biến những lĩnh vực hiểu biết đó thành tài sản thuộc quyền sở hữu của mình, sau đó đào sâu, mài giũa kiến thức, móc nối và áp dụng chúng vào cuộc sống thực. Các hình thức tự học 1.
Tự học có hướng dẫn trực tiếp HS có thể về nhà tự học sau khi gặp mặt GV một số tiết trong ngày, trong tuần. GV làm công việc hướng dẫn trực tiếp, qua máy móc. Tự học có hướng dẫn từ xa HS có thể tự học sau khi nhận được sự hướng dẫn từ xa của GV qua các phương tiện công nghệ thông tin, bằng tài liệu. Việc hướng dẫn này chủ yếu là hướng dẫn các thao tác tư duy để tự chiếm lĩnh tri thức, tự phê bình, tự học có hướng dẫn.
Tự học không có người hướng dẫn HS tự học qua tài liệu, qua sách mà không cần sự hướng dẫn của GV. Người học tự đọc, tự hiểu, tự rút kinh nghiệm, tự phê bình. Đây là mức độ tự học cao nhất. Từ đây, KN tự học là khả năng lựa chọn, vận dụng những kĩ xảo, tri thức, kinh nghiệm liên quan sẵn có để thực hiện một hay một số các hành động tự học, nhằm thực hiện có kết quả mục tiêu HT đã đề ra với điều kiện thực tiễn cho phép.
Tại thời điểm dịch bệnh bùng phát như hiện nay, KN tự học không phải là đòi hỏi nhất thời. Trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, người học cần phải thích nghi với sự phát triển kinh tế - xã hội, bắt nhịp nhanh trong mọi hoàn cảnh để không cảm thấy lạc hậu so với thời đại. Thế hệ HS mới phải trở thành công dân toàn cầu, công dân thời đại số. Vì thế, trang bị KN tự học là điều kiện tiên quyết giúp chúng ta có thể HT suốt đời, trong bất kì môi trường và điều kiện nào cũng có thể học được, tự chiếm lĩnh được kiến thức.
KN tự học chính là con đường dẫn đến thành công của người học. Vai trò của tự học Tự học là yếu tố quyết định chất lượng học tập, chất lượng đào tạo, hiệu quả của hoạt động học tập. Kết quả học tập phụ thuộc chính vào người học (HS), 9 ko phải phụ thuộc người dạy (GV). Rèn luyện KN tự học có vai trò vô cùng quan trọng vì nó tạo ra động lực mạnh mẽ nhất cho toàn bộ quá trình HT.
Tính tích cực, chủ động, sáng tạo là phẩm chất quan trọng của mỗi cá nhân. Cho nên, hình thành phẩm chất đó cho người học là nhiệm vụ quan trọng của ngành giáo dục. Nhờ đó, một lớp công dân mới năng động, sáng tạo, thích ứng với mọi hoàn cảnh, môi trường lao động được tạo ra, góp phần phát triển kinh tế, phát triển cộng đồng. KN tự học là cầu nối để thế hệ trẻ của xã hội hiện đại đạt được tính tích cực trong nhân cách.
Sự hưng phấn, tích cực trong quá trình nhận thức của người học sẽ được biểu hiện ra thông qua việc tự học. Nó tạo tiền đề cho mọi hứng thú trong HT. Hứng thú thúc đẩy người học tự giác, say mê tìm tòi, nghiên cứu, khám phá. Tự học chính là nội lực, là nhân tố quyết định sự phát triển bản thân của người học, là con đường phát triển giáo dục tối ưu.
HS sẽ tự sắp xếp thời gian, lộ trình HT phù hợp với mình, tự khám phá ra điểm mạnh và sở thích của bản thân, khám phá ra những điều thú vị của môn học, tự chủ tìm kiếm và thu nạp thông tin, kiến thức ngoài chương trình học. Nội lực này cùng với ngoại lực – chính là tác động dạy của GV, hỗ trợ nhau cùng hoàn thành tốt vai trò của mình. Tự học là mục tiêu cơ bản của quá trình dạy học. Rèn luyện KN tự học chính là mục tiêu mà nền giáo dục hiện nay hướng đến.
Các nhà sư phạm đều nhận thức rõ ý nghĩa của việc dạy HS cách tự học. Không như lối truyền đạt cũ – GV truyền thụ tri thức có sẵn, yêu cầu HS ghi nhớ, công việc quan trọng nhất của GV ngày nay là phải định hướng, hướng dẫn, tổ chức cho HS tìm tòi, khám phá ra tri thức mới, hơn nữa còn phải làm cho HS quen với việc tự tìm cách đi đến những tri thức ấy. Thực tế cho thấy, cấp học càng cao thì càng đòi hỏi HS phải tự học nhiều hơn. Để chuẩn bị cho tương lai, HS cần được trang bị KN nghiên cứu và tìm tòi khoa học.
Mà gốc rễ, con đường để đi đến những KN đó chính là thông qua rèn luyện KN tự học. Muốn nghiên cứu khoa học được thì phải có khả năng tự học, tự phát hiện, tự giải quyết mọi vấn đề. Tự học giúp người học có thể học tập suốt đời – HT để khẳng định NL, phẩm chất, và để cống hiến. Tự học giúp cho con người không bị lạc hậu so với thời đại, giúp con người thích ứng dễ dàng và bắt nhịp nhanh chóng với mọi tình 10 huống mới lạ, mọi sự biến đổi của xã hội, hay những thách thức ngày một “khó nhằn” hơn trong sự nghiệp.
Đối với lứa tuổi HS, nếu rèn luyện thành công KN tự học thì sẽ bồi dưỡng được lòng ham học, giúp cho kết quả HT ngày một nâng cao hơn. Tóm lại, tự học sẽ làm bật dậy NL tiềm tàng trong mỗi cá nhân, giúp mỗi người chúng ta chủ động lĩnh hội tri thức một cách toàn diện, hào hứng. Hơn nữa, ta còn nhớ lâu hơn những kiến thức và vận dụng được chúng một cách hữu ích vào cuộc sống. Ta được bồi dưỡng những phẩm chất tự tin, năng động, sáng tạo, tự lập, biết tự hoàn thiện bản thân và biến ước mơ thành hiện thực.
Cụ thể hơn, trong bộ môn Toán, tự học giúp HS rèn luyện bộ não, cụ thể là phát triển khả năng phân tích và biện luận, khả năng suy luận và tư duy phản biện. Toán học mở ra con đường sáng để HS tìm ra nguyên lí vận hành của mọi thứ xung quanh. Phản xạ của bộ não từ đó mà nhanh hơn, kết quả đạt được tốt hơn. Tài sản mà HS đạt được sau khi tự học môn Toán là cách suy nghĩ, giải quyết vấn đề, toán học hóa các tình huống trong cuộc sống.
Tự học Toán giúp người học suy nghĩ mạch lạc, chính xác, lập luận dễ hiểu, đưa ra những lí lẽ logic, có hệ thống, đưa ra những giải pháp rõ ràng, hiểu thấu vấn đề, linh hoạt, tự tin hơn. Đó là tất cả những giá trị bền vững mà HS vận dụng được đến mãi sau này. Kĩ năng tự học 1. Khái niệm KN tự học là khả năng lựa chọn, vận dụng những kĩ xảo, tri thức, kinh nghiệm liên quan sẵn có để thực hiện một hay một số các hoạt động tự học, nhằm thực hiện có kết quả mục tiêu HT đã đề ra với điều kiện thực tiễn cho phép.
Phân loại Có bao nhiêu loại hình học tập thì có bấy nhiêu loại kỹ năng tự học tương ứng, được các nhà nghiên cứu phân chia theo nhiều cách khác nhau. Theo Nguyễn Thị Thu Ba [1], kỹ năng tự học có thể được phân thành 4 nhóm, đó là nhóm kỹ năng định hướng, nhóm kỹ năng lập kế hoạch, nhóm kỹ năng thực hiện kế hoạch và nhóm kỹ năng kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm. Tác giả Vũ 11 Trọng Rỹ thì cho rằng kỹ năng tự học của học sinh nói chung gồm 4 nhóm: kỹ năng nhận thức, kỹ năng thực hành, kỹ năng tổ chức, kỹ năng kiểm tra đánh giá. Từ những quan điểm trên, chúng tôi cho rằng hoạt động tự học bao gồm các nhóm kỹ năng cơ bản sau: 1.
Kỹ năng định hướng Trước tiên, để quá trình tự học diễn ra thành công người học cần thiết lập cơ sở định hướng của hành động. Đó là hệ thống định hướng và chỉ dẫn mà chủ thể có thể sử dụng nó để thực hiện một hành động xác định nào đó. Nó có chức năng nhận thức đối tượng, vạch kế hoạch, kiểm tra và điều chỉnh hành động theo kế hoạch. Để có được cơ sở định hướng, người học phải trả lời được các câu hỏi: - Học nhằm mục đích gì?